Skip to content

Chương 19/5

NHÀ LÊ SƠ
(1428 – 1527)

Đoạn năm

LÊ HIẾN TÔNG, LÊ TÚC TÔNG,
VÀ LÒNG THÙ HẬN CỦA VUA LÊ UY MỤC

 

      Dù vua Lê Thánh Tông vì đâu mà chết, thì đám tang của nhà vua cũng vô cùng trọng thể. Đây là quốc táng được thái tử Lê Tranh cho cử hành long trọng. Ngoài việc con cháu trong hoàng tộc phải để tang trong 3 năm, thì thần dân từ phủ Phụng Thiên đến các đạo đều phải mặc áo trắng bằng vải thô trong 3 tháng. Trong thời gian nầy không được dựng vợ gả chồng. Riêng thái tử đã chờ đến một tuần sau khi vua cha Thánh Tông mất mới làm lễ đăng quang. Đó là ngày 6 tháng 2 năm 1497. Bắt đầu triều đại Lê Hiến Tông. Đầu tiên là nhà vua rước mẹ Huy Gia về cung Trường Lạc, và tôn lên hoàng thái hậu. Từ đây người ta thường gọi bà là Trường Lạc hoàng thái hậu.

      Là người con hiếu thảo, không giàu cá tính, vua Lê Hiến Tông giữ tiếp thời rực rỡ Hồng Đức. Không có sự thay đổi lớn nào trong triều đại của ông. Suốt 7 năm làm vua từ năm 1497 đến năm 1504 có thể ghi lại những việc sau đây: Vua Lê Hiến Tông chọn những vị quan có tài đức kiêm những chức vụ khác để có một triều đình tốt đẹp hơn. Thượng thư bộ lễ Đàm Vĩnh Lễ thời Hồng Đức được kiêm thêm chức Tả xuân phường Hữu dụ đức. Hàn lâm hiệu lý Nguyễn Quang Bật kiêm thêm chức Ngự sử đài… Bên cạnh đó nhà vua cấm các phủ đệ thân vương công chúa cho các nô tỳ ra ngoài ức hiếp dân chúng. Những người nầy đã từng lợi dụng quyền vị của chủ, để đưa đến việc biếu tặng có kế hoạch từ dân nghèo. Đồng lúc với sự khắt khe đó, nhà vua cũng nâng đỡ hàng vương tôn không được may mắn. Các con của người em thứ 5 Kiến vương Lê Tân là một ví dụ. Ngũ vương có tài, nhưng bị chết sớm lúc 37 tuổi, các con của ông là Lê Sùng, Lê Dinh, Lê Vinh, Lê Quyên đều được phong tước công và cấp đất thực ấp. Đặc biệt Giản Tu công Lê Dinh là người có thực tài được nâng đỡ nhiều hơn. Song song sự chăm sóc dành cho hoàng tộc, vua Hiến Tông còn để ý đến dân tình hình khắp 13 đạo. Ông đã có những sắc dụ phù hợp theo từng địa phương. Đạo Quảng Nam có một chỉ dụ bất thành văn: Không cho người Đại Việt kết hôn với người gốc Chiêm Thành. Nó được thành hình sau khi người Chiêm ở Bảo Khánh có những cuộc vượt biên đầu tiên trong năm 1501. Lúc ấy người con của Trà Toại là Trà Phúc dẫn một số người ra đi bằng thuyền về tới Phiên Lung. Họ đi mang theo những cô dâu Việt. Không rõ cựu Chiêm thân vương Trà Toại chết già trong lúc nào, nhưng khi đi Trà Phúc đã mang theo tro cốt của cha mình.

      Nhìn chung, triều đại Hiến Tông không có điều gì tệ hại xảy ra, và cũng không có gì rực rỡ được tìm thấy. Sự đứng lại nầy là dấu hiệu đi xuống. Nó bắt đầu từ thế hệ sau Hiến Tông, nhưng nó bắt nguồn từ khi nhà vua còn là đông cung thái tử. Lúc ấy thái tử Lê Tranh  đã có 4 người đàn bà chính thức là thê thiếp:

Người thứ nhất: Mai Ngọc Đỉnh. Bà là một thiếu nữ dịu dàng được nhập cung từ rất sớm để phục dịch cho một phi tần đời trước. Đầu năm 1479 khi 15 tuổi, bà được tiến dâng cho thái tử Lê Tranh. Bà được nhận làm tì thiếp, và 3 năm sau bà sinh đứa con trai đầu lòng: Lê Tuân.

Người thứ hai: Nguyễn Thị Hoàn, người huyện Ân Thi, đạo Sơn Nam. Đây là một thiếu nữ đẹp đến độ như vừa chạm tới là tan biến đi. Cái vẻ đẹp liêu trai sương khói đó đã được vị đông cung thái tử bắt gặp trong một lần du sơn mùa hè năm 1479. Bà được đưa về cung và được phong làm chánh thiếp. Bà được sủng ái đặc biệt dù những năm sau bà cũng chưa cho thái tử Lê Tranh một mụn con nào. Mãi đến gần 10 năm sau, tháng 8 năm 1488, bà mới cho thái tử Lê Tranh một đứa con: Lê Thuần.

Người thứ ba: Nguyễn Thị Cận. Đây là một thiếu nữ trong một gia đình mấy đời nghèo khó ở Phù Chẩn, Kinh Bắc. Nghèo quá, cha mẹ bà phải bán bà để làm nô tỳ từ lúc 8 tuổi. Qua mấy lần lưu lạc nhiều nơi để làm tôi tớ cho người, bà được vào cung để phục vụ cho một phi tần. Mấy năm sau bà trở thành một thiếu nữ xinh đẹp và được chuyển đến cung Vĩnh Ninh để hầu hạ Huy Gia hoàng hậu, mẹ của thái tử Lê Tranh. Nét xuân thì của người gái 16 tuổi đã làm rung động người thái tử mới có hai thê thiếp nầy. Ông ta xin mẹ cho cô vào hàng cung nhân của mình. Đầu thu năm 1487 người con gái họ Nguyễn Kinh Bắc nầy chính thức được nhận làm thiếp của thái tử Lê Tranh. Bà đã mau mắn cho thái tử  một đứa con trai. Trở thành vợ, và có con với thái tử là hạnh phúc vô bờ đối với cô bé nghèo hèn Nguyễn Thị Cận. Tưởng như thế là hoàng thiên đang đền bù phúc lạc cho quảng đời cơ cực. Rất tiếc hạnh phúc nầy đi với bà rất ngắn. Sau khi sanh đứa con đầu lòng và duy nhất, bà Nguyễn Thị Cận bị băng huyết. Mạng sống chỉ kéo dài theo từng ngày. Trong lúc hấp hối bà đã nhờ người thứ thiếp thứ tư của chồng nuôi dạy con mình. Đó là bé sơ sinh Lê Tuấn được sinh vào ngày 5 tháng 5 năm 1488, chỉ 3 ngày trước khi người mẹ chết. Lê Tuấn là đứa con thứ hai của thái tử Lê Tranh, nhỏ hơn người anh Lê Tuân 6 tuổi, và lớn hơn người em kế Lê Thuần 3 tháng. (Lê Thuần con của người vợ đến trước, nhưng sinh sau).

Người thứ tư: Bà nầy cũng họ Nguyễn. Không rõ tên và không biết tơ duyên nào bà gặp thái tử. Chỉ biết bà người gốc Hoa Lăng miền đông bắc, và được làm thiếp của thái tử Lê Tranh sau bà Nguyễn Thị Cận không lâu. Bà không có con và nhận Lê Tuấn làm con nuôi khi Tuấn chỉ mới 3 ngày tuổi. Thái tử Lê Tranh cũng không mấy quan tâm đến bà, đến khi làm vua ông mới phong bà làm Kính phi.

      Từ khi có 3 đứa con trai Lê Tuân, Lê Tuán và Lê Thuần đến khi lên làm vua vào năm 1497, thái tử Lê Tranh tức vua Lê Hiến Tông chưa có thêm đứa con nào nữa. Lúc nầy nhà vua đã 36 tuổi, nên ông nghĩ đến lập thái tử. Người con trưởng Lê Tuân đã 15 tuổi, nhưng có 2 khuyết điểm làm người mẹ Mai Ngọc Đỉnh rất đau lòng. Cậu thích mặc áo quần con gái và nóng nảy bất thường. Đã có lần suýt hại mẹ mình bằng thuốc độc khi có điều phật ý. Cả hai khuyết điểm nầy đã làm Lê Tuân bị đánh rớt ngay vòng đầu. Người con thứ hai Lê Tuấn dù được người mẹ nuôi Kính phi dạy dỗ tận tình, nhưng cũng không được thuần hậu. Lúc nầy cậu đã 9 tuổi, thông minh và thích những trò chơi đao kiếm. Người con thứ ba là Lê Thuần, cậu thua người anh kế 3 tháng tuổi, nhưng thể chất giống người mẹ. Mảnh khảnh, ham học và thích làm những điều thiện. Cả hai người con thứ hai và thứ ba nầy đều nằm trong mắt vua Hiến Tông để được chọn làm thái tử. Hai năm sau, năm 1799, sự chọn lựa đã có kết quả. Lê Tuấn, dù là anh, nhưng bị đánh rớt. Cậu bé 11 tuổi nầy được phong làm Uy vương. Người anh cả Lê Tuân, 17 tuổi, được phong làm An vương. Ngôi hoàng thái tử được giao cho người con thứ ba: Lê Thuần. Sau đó vua Hiến Tông còn có 3 người con trai khác. Họ là con các phi tần trong thời gian nhà vua tại vị. Không rõ nhà vua có bao nhiêu thê thiếp tất cả, nhưng đến khi băng hà năm 1504, thì ĐVSKTT có ghi: “ Mùa Hạ, tháng 4 vua ngự về Lam Sơn. Khi xa giá trở về cung, bị ốm. Tháng 5, ngày 23 vì ham mê nữ sắc bị bệnh nặng. Khi sắp băng, di mệnh cho hoàng thái tử lên nối ngôi. Ngày 24 vua băng ở điện Đồ Trị.”

      Hoàng thái tử Lê Thuần lúc bấy giờ gần tròn 16 tuổi. Ông thông minh, hiếu thảo, nhưng thể chất giống người mẹ. Ở đông cung Hoàng Cực với đầy đủ tiện nghi mà vua cha đã ban cho, nhưng ông không được cường tráng. Ngày 6 tháng 6 năm giáp tý 1504 ông chính thức lên ngôi vua tức vua Lê Túc Tông. Thời kỳ của ông vẫn duy trì sự đứng yên một chỗ của vua cha. Chưa một nổ lực nào để phát triển thì ông bị ốm nặng. Ngày 8 tháng 12 cùng năm lên ngôi, ông băng hà. Trong 6 tháng làm vua, vua Lê Túc Tông làm được 2 việc có thể ghi lại. Thứ nhất: thả rất nhiều cung nữ. Những cung nhân đã từng bị lạnh nhạt, phế bỏ mà bắt buộc phải sống trong cung đều được chu cấp để trở về. Thứ hai: Dẹp được loạn Đoàn Thế Nùng ở Cao Bằng. Hai việc làm khiêm nhường nầy đi từ từ, nhưng mạng số của nhà vua đi rất nhanh. Ông chết chỉ sau một vài ngày trở bịnh. Theo di mệnh lâm sàng, ngôi vua được truyền cho người anh thứ hai Lê Tuấn.

      Tuy nhiên, việc truyền thừa nầy không hề được suôn sẻ. Không ai ngờ cái chết lại đến với nhà vua chỉ mới 17 tuổi, và làm vua chỉ mới 6 tháng. Không ai nghĩ đến việc lập di chiếu truyền ngôi. Đến khi hấp hối, nhà vua mới di ngôn lại hai cận thần Lê Quảng Độ, Lê Năng Nhượng và những kẻ hầu cận hiện có mặt. Truyền ngôi mà không có di chiếu, và hai vị cận thần nầy cũng không giữ ấn tín nên công việc chưa đi đến đâu. Hay tin ấy, thượng thư Đàm Văn Lễ và Đô ngự sử Nguyễn Quang Bật tìm đến thái hoàng thái hậu Trường Lạc. Hai vị đại quan nầy ủng hộ thái hoàng thái hậu là không lập Lê Tuấn lên làm vua. Điều nầy được được bắt nguồn từ năm 1499 khi chọn Lê Thuần làm thái tử. Lúc ấy người anh cả Lê Tuân được hiểu như người đồng tính nên bị gạt ra ngoài. Người kế tiếp phải là Lê Tuấn, nhưng vua cha đã đem tặng cơ may cho người em Lê Thuần. Dù chỉ mới 11 tuổi nhưng Lê Tuấn đã hiểu vì đâu sinh ra cớ sự. Sự xuất thân nghèo khó thấp hèn của mẹ Lê Tuấn đã làm Trường Lạc thái hậu không bằng lòng. Bên cạnh đó, bà còn thấy đứa cháu nội nầy có vẻ ngỗ nghịch, nên bà gợi ý cho vua Lê Hiến Tông chọn Lê Thuần. Ý kiến của thái hậu Trường Lạc rất phù hợp với lòng thiên vị sẵn có của vua Hiển Tông dành cho hai mẹ con bà ái thiếp Nguyễn Thị Hoàn.

      Đó là niềm đau thơ ấu của hoàng tử Lê Tuấn. Và, niềm đau nầy được nuôi dưỡng bằng quyền hạn của một ông hoàng con, nên nó dễ đưa đến hai cực: Hoặc thiện hoặc ác. Rất không may cho nhà Lê, Lê Tuấn đã thiên về cực ác. Dần dần cậu bé 11 tuổi nầy thành một hoàng tử nóng tính, hung bạo ở tuổi mười lăm, mười sáu. Đó là lý do thái hoàng thái hậu Trường Lạc không bằng lòng đưa Lê Tuấn lên làm vua. Bà chọn Lữ Khôi vương, là một đứa cháu nội khác, lên thay Túc Tông. Ngoài 2 vị đại thần Đàm Văn Lễ và Nguyễn Quang Bật còn có Nghĩa quận công Nguyễn Văn Lang và nhiều vương thân ủng hộ lập trường nầy. Trước một tình thế bất lợi như thế, người mẹ nuôi của Lê Tuấn là Kính phi họ Nguyễn đem vàng đút lót nhiều người. Kết quả không ai dám nhận, nhưng may mắn trong đám người ủng hộ việc lập Lê Tuấn làm vua có nội quan Nguyễn Như Vi. Ông nầy tìm đủ những cận thần và những người hầu cận có mặt lúc vua Túc Tông nói những lời di ngôn cuối cùng. Dù ít, dù không có sức mạnh, nhưng trước triều thần không ai chối cãi đó là sự thật. Họ đã tôn hoàng tử Lê Tuấn lên làm vua, trong lúc thái hoàng thái hậu Trường Lạc ra thăm dò Lữ Khôi vương ở ngoại thành.

      Cuộc truyền thừa có gian truân, nhưng không đổ máu. Khi Trường Lạc thái hoàng thái hậu hồi cung, thấy mọi việc đã rồi bà chỉ tiếc chứ không có phản ứng gì. Tuy nhiên, nó đưa đến một mối hận lòng cho ông vua trẻ tuổi vốn đã có nhiều hung tính. Nó dẫn đến một triều đại nhà Lê đi xuống.

      Hoàng tử Lê Tuấn chính thức lên ngôi tức vua Lê Uy Mục trước tết nguyên đán ất sửu 1505. Đó là những ngày xuân yên ả, nhưng không ai biết được sẽ xảy ra chuyện gì. Việc đầu tiên là vua Uy Mục truy tôn người mẹ Nguyễn Thị Cận tội nghiệp năm xưa thành Chiêu Nhân Hoằng Ý hoàng thái hậu. Hơn một tháng sau, ngày 22 tháng 3 năm 1505, thái hoàng thái hậu Trường Lạc thình lình băng ở tẩm điện. Lúc nầy bà đã 65 tuổi, nên ai cũng nghĩ bà chết vì tuổi già. Nhà vua cho miễn triều 7 ngày để thọ tang, và tôn thụy hiệu cho bà là Huy Gia Tĩnh Mục Ôn Cung thái hoàng thái hậu. Khi bà nội mình không còn, nhà vua biếm truất Đàm Văn Lễ, Nguyễn Quang Bật đi Quảng Nam. Trên đường đi, khi hai vị nầy qua đò sông Lam đã bị dìm chết ở giữa dòng. Đó là ngày 5 tháng 6 năm 1505, và lúc nầy thì người ta mới biết thái hoàng thái hậu bị đầu độc. (qua những người thi hành án ở bến đò sông Lam). Chỉ mới vừa qua chưa đầy nửa năm mà đã qua 3 cái chết của 3 người đứng đầu không muốn vua làm vua, làm triều đình run sợ. Nhưng suốt nửa năm sau, vua Uy Mục không thanh trừng nữa. Ông lập phi tần, vui chơi với rượu và cung nữ. Họ bị hành hạ nhục thể hơn là được cưng chiều, duy chỉ có hai thiếu nữ là được ông cưng quí. Đó là hai chị em ruột Trần Thị Tùng và Trần Thị Túc ở Nhân Mục, Tuyên Quang. Tháng giêng năm 1506 Trần Thị Tùng được lập làm hoàng hậu. Hai vị nữ lưu họ Trần nầy bắt đầu mở một thế lực mới. Họ đưa người vào triều đình thay những hoàng thân bị nghi ngờ. Bên cạnh đó, nhà vua cũng nghĩ đến thân tộc của hai người mẹ của mình. Không bao lâu gia tộc của người mẹ ruột ở Phù Chẩn, và họ hàng của người mẹ nuôi ở Hoa Lăng đều có người làm quan ở triều đình. Họ là những người được vua tin cậy: Khương Chủng, Nguyễn Bá Thắng, Nguyễn Đình Khoa…

      Nhà vua và những người họ ngoại nầy như một thế lực tách rời các vương thân nhà Lê. Họ được bảo vệ bởi đội quân túc vệ do Mạc Đăng Dung chỉ huy. Dung nguyên là một ngư phủ, nhưng cũng là một lực sĩ ở làng Cổ Trai, Nghi Dương. Ông được chọn vào cung do tài năng thi cử chứ không phải là người họ ngoại. Năm 1508 vua Uy Mục phong Dung làm Chỉ huy sứ Thiên Vũ vệ trực thuộc ty Đô. Đó là lúc nhà vua thanh trừng những vị thân vương, quan tướng từng ủng hộ Trường Lạc thái hoàng thái hậu còn lại. Nhẹ thì đuổi về quê, nặng thì bị giam hoặc bị giết. Một luồng khủng bố đang đẩy tới, làm nhiều người bỏ chạy, trong đó có Nguyễn Văn Lang, Nguyễn Hoằng Dụ, Trịnh Duy Sản và Trịnh Duy Đại. Lang và Dụ là hai cha con, có họ hàng gần với thái hoàng thái hậu. Sản và Đại là hai anh em, là hậu duệ của khai quốc công thần Trịnh Khắc Phục. Cả 4 người trước sau chạy về quê hương Thanh Hoa, và gặp được một đồng chí là Lương Đắc Bằng ở đó. Ông nầy là Tả bộ thị lang bộ Lễ, nhân có tang mẹ nên về Thanh Hoa trước. Từ đó một căn cứ địa ở cửa biển Thần Phù được thành hình.

      Trong khi ấy, thì rất nhiều vương thân không may mắn. Một số bị đày đi rừng núi, một số bị giam giữ ở ngục thất kinh đô. Trong số bị giam nầy có hai người trốn được: Kinh vương Lê Kiện, chú ruột thứ 13 của vua Uy Mục, và Giản Tu công Lê Dinh, con của người chú ruột thứ 5 của nhà vua. Kinh vương Lê Kiện chạy thoát khỏi kinh thành Đông Kinh, nhưng ông đã chết trên đường bôn tẩu. Riêng Giản Tu công Lê Dinh được một số thuộc hạ đưa về Thanh Hoa. Tin nầy lan nhanh đến nhóm Nguyễn Văn Lang – Nguyễn Đắc Bằng – Trịnh Duy Sản. Họ tìm gặp Giản Tu công, và tôn vị vương tử 13 tuổi nầy làm minh chủ kháng chiến. Giản Tu công rất tin tưởng ba vị nầy. Nguyễn Văn Lang được hiểu là một người thao lược, và có tài thuyết khách. Ông đã sớm có kế hoạch dụ hàng tướng trấn thủ hoàng thành Lê Quảng Độ làm nội ứng. Lương Đắc Bằng đã đỗ bảng nhãn, từng nổi tiếng hay chữ. Dưới danh nghĩa Giản Tu công, ông đã thảo hịch hạch tội vua Uy Mục rất có hiệu quả. Trịnh Duy Sản là một võ tướng can trường, và là cậu họ của Giản Tu công. Họ mau chóng thành một lực lượng hùng mạnh, và nó được Lê Tuyên, quan trấn nhậm thừa tuyên Thanh Hoa ủng hộ.

      Tình hình đất nước từ đó trở nên rối ren. Lực lượng quân đội ở hai đạo Nghệ An và Thanh Hoa đã ngả về Giản Tu công. Hai đạo Thuận – Quảng vì ở xa nên giữ thái độ im lặng. Nhưng, bỗng ở đây có một chuyện khác xảy ra. Thổ dân người Chàm thấy quân Đại Việt đang chú ý về cuộc chiến nội bộ có thể xảy ra, họ tổ chức vượt biên. Họ thiết tha về đất thánh Phiên Lung, dù nơi ấy chỉ là tự trị. Từng đoàn người thầm lén ra khơi. Họ tưởng dễ dàng thành công như Trà Phúc của gần 10 năm trước. Rất tiếc, không phải như thế, hầu hết đều bị bắt lại. Một cuộc đồ sát diễn ra theo lệnh của vua Uy Mục qua vị sứ thần triều đình Vũ Cảnh. Ông nầy vừa đến Quảng Nam để cũng cố tinh thần trung hiếu với nhà vua. Cuộc đồ sát không những gây đau lòng cho những người Chàm còn sống sót, mà còn làm quan quân Thuận – Quảng bất nhẫn. Điều nầy đã khiến hai đạo cực nam ngả về phe Giản Tu công, khi những tờ hịch kháng chiến đầu tiên của Lương Đắc Bằng bay đến.

      Ngày 8 tháng 9 năm 1509 từ Thần Phù, Giản Tu công bắc tiến. Quân kháng chiến đến châu Cầu (Phủ Lý) mới gặp quân triều đình. Một trận chiến khốc liệt ở chân núi Thiên Kiện xảy ra. Phía triều đình, hai đạo quân tổng trừ bị Thần Vũ và Hiệu Lực đang có mặt. Họ đã từng tung hoành từ thời vua Thánh Tông, và hiện đang do Đông Nham bá Lê Vũ tổng chỉ huy. So ra, quân của Giản Tu công yếu thế hơn. Họ chỉ là quân địa phương của 4 đạo phía nam. Tuy nhiên trận chiến kéo dài qua 1 tuần lễ, đến ngày 23 tháng 9 thì quân của Giản Tu công tràn qua sông Đáy. Họ trở thành chủ động khắp trận chiến, giành lấy từng mô đá vôi ở núi Thiên Kiện. Lê Vũ và 2 tướng khác của triều đình đều bị chết ở địa danh nầy. Người ta nói binh sĩ của hai đạo chính quy nầy đã ngả theo kháng chiến mới có kết cuộc như thế. Điều tệ hại đó làm át hẳn cái vinh quang mà hai đơn vị tổng trừ bị nầy vừa chiến thắng ở mặt trận tây bắc. Họ vừa chiến thắng áp đảo quân đội của bộ tộc Hắc La từ Vân Nam tràn qua biên giới. Chỉ cách mấy tháng mà kết quả khác nhau. So ra, vua Uy Mục đã mất lòng quân dân.

      Trên đà tiến quân, Giản Tu công ngược dòng sông Hồng tiến về Đông Kinh. Hay tin, vua Uy Mục lồng lộn giữa triều đình. Ông tức khắc ra lịnh đem Cẩm Giang vương Lê Sùng, Mục Ý công Lê Vinh và Dục Cung công Lê Quyên đang bị giam giết sạch. Ba người nầy là anh em ruột của Giản Tu công Lê Dinh, và đều là con của Kiến vương Lê Tân với bà Trịnh Thị Tuyên. Bà góa phụ họ Trịnh cũng đồng số phận với các con của mình ngay tại nhà. Giết xong những người họ hàng ruột thịt nầy, vua Uy Mục ra lịnh quan túc vệ Mạc Đăng Dung phòng vệ nghiêm ngặt nội cung. Tướng Lê Quảng Độ tăng quân trải dọc hoàng thành. Hai đạo quân tổng trừ bị thất trận ở châu Cầu được bổ sung quân số tiến về phía địch. Đồng thời nhà vua ra lịnh các đạo quân Sơn Tây, Kinh Bắc, Yên Bang mang quân ra chiến trường.

      Rất tiếc mọi trông đợi của vua Uy Mục không như ý. Lòng quân như đã không đồng tình với sự tàn nhẫn bạo liệt của đương kim hoàng đế. Làm sao họ để ý đến tâm trạng của vị hoàng tử 11 tuổi bị khinh rẻ ngày xưa. Lệnh không được thi hành nghiêm chỉnh ở mọi nơi, mà nhất là ở 4 cửa thành do tướng Lê Quảng Độ trực tiếp chỉ huy. Giản Tu công vào thành không có sự kháng cự nào kịch liệt. Không còn mấy ai trung thành với nhà vua, chỉ trừ một số nội nhân và hai chị em hoàng hậu Trần Tùng. Khi nhà vua cùng đám tòng vong chạy về Nhật Chiêu và tự sát ở đó, thì hai chị em họ Trần chạy lạc về Hồng Mai. Ở đây cũng có những cuộc giao tranh giữa hai bên trong những khu nhà bị đốt cháy. Bị cùng đường hoàng hậu Trần Tùng và người em Trần Túc  đã tự chịu chết dưới ngọn lửa để khỏi bị bắt. Đó là ngày 1 tháng 12 năm 1509. Triều đại Uy Mục kết thúc. Triều thần tôn Giản Tu công lên làm vua tức vua Lê Tương Dực. Đó là cuộc cách mạng diệt bạo chúa. Đất nước sẽ được thái bình, và  chận đứng đà đi xuống của nhà Lê. Người ta hy vọng như thế, có được không?  Thử đi qua thời vua Lê Tương Dực.

Cuối Hồng Đức mùa xuân còn lạnh
Ai ra đi ai sẽ lên thay
Lê Tranh tên húy là con trưởng
Nối tiếp bình an đất nước này

Vua Hiến Tông vốn người khoan nhã
Mẹ: Huy Gia, ngoại tổ: Nguyễn Trung
Thiếp thê bốn vị từ bao trước
Kẻ ở thôn trang kẻ khốn cùng

Ai khốn khó nhập cung từ bé
Ai liêu trai sương khói Ân Thi
Ai từ Kinh Bắc từng nô lệ
Ai ở Hoa Lăng độ xuân thì

Duyên ai tới ai không ai biết
Số phận nào đưa đẩy mai sau
Làm sao đánh mất thời hưng thịnh
Có phải Lê gia kiếp vận này?

Chọn thái tử ai may ai rủi
Đã vì ai mà chọn Lê Thuần
Để cho Lê Tuấn buồn xa vắng
Thương nỗi ân tình mẹ gian truân

Điện Đồ Trị vua băng một sớm
Thái tử Thuần tức vị lên ngôi
Tiếc rằng số phận như đèn bấc
Chỉ một mùa qua đã mất rồi

Cơn hấp hối truyền ngôi anh thứ
Gánh oan gia sinh loạn từ đây
Ngày xưa nội mẫu từng ngăn trở
Nay bước đi thêm bước hóa lầy

Đâu Đàm Lễ, Nguyễn Lang, Quang Bật
Đâu Huy Gia thái hậu trên cao
Đâu Quảng Độ, Kính phi, Lê Tuấn
Đâu Như Vi, Năng Nhượng đương trào

Thế là thế, ít may nhiều rủi
Treo mành tơ ai chắc ngôi vua
Triều thần yên lặng hồn tiên đế
Lời đã di ngôn há chuyện đùa

Vua Uy Mục lên ngôi mùa lạnh
Gía đông nầy đọng lại thành băng
Đau lòng người mẹ cơ hàn cũ
Mấy kẻ khinh khi mấy vết hằn

Sinh hung ác vì đời nhỏ mọn
Hay thiện căn không đủ nơi lòng?
Duyên sinh tương tác từ muôn thế
Trách làm gì bể đục bể trong

Giết thái hậu trả thù nỗi nhục
Đày đại thần biếm truất về đâu
Đường đi chưa đến miền đất trích
Dòng nước sông Lam phủ bạc đầu

Máu không chảy mà thù đã trả
Ở ngôi cao phung phí tài hoa
Đêm đêm cứ thức hờn cuộc rượu
Đổ xuống thiên nhiên chảy mấy tòa

Sa vui thú bỏ người nội tộc
Thù đệ huynh từ thuở thiếu niên
Chọn người quê ngoại làm thân thích
Trăm kẻ tham danh mấy kẻ hiền

Đâu Phù Chẩn, Hoa Lăng, Nhân Mục
Đâu hiền lương, đâu những tài ba?
Vua trên ngôi báu chìu phù nịnh
Để bọn Khương, Khoa bước quá đà

Vua Uy Mục thiện duyên không đến
Cơn say điên ác tính càng tăng
Giết người vô cớ không cần biết
Cung nhân vô tội cứ chết quằn

Giam huynh đệ vì câu khích bác
Nhốt thúc vương vì sợ át quyền
Đuổi nhà nội mẫu ai còn lại
Khai mở nầy khai mối oan khiên

Nguyễn Văn Lang về miền Thanh Hóa
Gặp Đắc Bằng, Duy Sản tài ba
Thần Phù hội ngộ chiều sóng bạc
Mơ dậy phong ba vận nước nhà

Ai văn võ triều thần thất sủng
Phò Giản Tu một sớm đi về
Mừng nhau khởi nghĩa từ sông Mã
Giật lấy sơn hà, cứu lấy quê

Mười bốn tuổi Giản Tu lanh lợi
Húy tên Dinh tước vị tước công
Là em nhánh thứ con hoàng thất
Huynh đệ cùng vua, nội tổ đồng

Giản Tu công chiêu binh nam đạo
Hịch truyền ra Thanh Hóa, Nghệ An
Đông từ cửa biển tây sơn cước
Tiếng dậy vang vang cuộn gió ngàn

Sang Thuận Hóa Quảng Nam dịu lại
Lời truyền rao đưa đẩy còn xa
Thình lình có họa người Chiêm cũ
Chết tiệt dòng Chiêm sống mấy nhà

Cơ hội ấy Giản Tu thu lợi
Ngày thu phân kỷ tỵ quân hành (1509)
Nga Sơn dậy sóng đi đường bắc
Thủy bộ phen nầy quyết tương tranh

So lực lượng hai bên nghênh địch
Từ phương nam bốn đạo cờ bay
Dù rằng bắc tiến đi trừ bạo
Liệu thắng bên kia trận chiến này?

Chiều sông Đáy, hai bên đối địch
Vầng tây nghiêng chứng giám giao tranh
Trời soi người Việt nhà Lê ấy
Chắc thấy đệ huynh cuộc tranh giành

Núi Thiên Kiện tranh nhau mô đá
Máu xương đâu mà phí giữa trời
Đạo quân Hiệu Lực, quân Thần Vũ
Oai trấn một thời bỏ cuộc chơi

Tin thất trận bay về chới với
Ở triều đình Uy Mục ra tay
Phạm nhân hàng họ đem ra giết
Sùng, Vinh, Quyên đã chết trận này

Người mẹ yếu mười năm góa phụ
Cũng vong thân từ những oan gia
Dân gian thúc mẫu như người mẹ
Vua chúa không tin đấy một nhà

Vua ra lịnh An Bang Kinh Bắc
Cùng Tuyên Quang, Hưng Hóa, Sơn Tây
Đưa quân diệt giặc Sơn Nam đạo
Phải giết Lê Dinh trận cuộc nầy

Cùng lúc ấy kinh thành sôi động
Tướng nhà Lê, Quảng Độ điều quân
Tăng cho Hiệu Lực, tăng Thiên Vũ
Lấy lại oai phong một thuở từng

Những tưởng thế Lê Dinh phải chết
Nào hay đâu Quảng Độ hai lòng
Cửa thành rộng mở mời Duy Sản
Uy Mục sa lầy trong nắng trong

Rồi đến lúc cuối lòng trời đất
Mây bỗng đen và nắng không trong
Thời gian đã có bao xuân hạ
Thiện ác mang mang một cõi lòng


<<  |  >>