Skip to content

Chương 19/4

NHÀ LÊ SƠ
(1428 – 1527)

Đoạn bốn

LÊ THÁNH TÔNG:
THỜI CỰC THỊNH CỦA NHÀ LÊ

 

      Là con út, hoàng tử Lê Tư Thành không nghĩ mình sẽ làm vua. Ông sinh năm 1442, và suốt thời ấu thơ đến trưởng thành được học hành trong hoàng cung. Ông được hoàng huynh Nhân Tông và thái hậu Tuyên Từ chu cấp bổng lộc của hàng vương gia. Ông là học sinh xuất sắc trường quốc tử giám. Ông không có nỗi u uẩn mất ngôi thái tử như người anh cả Lạng Sơn vương Lê Nghi Dân. Ông không quá hiền lành bẩm sinh để bị lãng quên như người anh thứ Cung vương Lê Khắc Xương. Tương lai của ông là một vương gia tài giỏi cột trụ của triều đình. Không làm sao biết ông có mơ làm vua không, nhưng điều đó đã xảy ra. Chính biến Diên Ninh không làm cuộc đời ông thay đổi. vua Nghi Dân chỉ đổi tên tước vị của ông từ Bình Nguyên vương sang Gia vương, giống như Tân Bình vương sang Cung vương của Lê Khắc Xương. Điều nầy chỉ để xác lập quyền hạn của một vị vua đối với huynh đệ của mình. Nhưng, đến chính biến Thiên Hưng thì đời ông bước lên nấc thang tột cùng của quyền lực. Ngày 8 tháng 6 năm 1460 tức hai ngày sau cuộc chính biến, người ta long trọng tôn Gia vương Lê Tư Thành làm vua nước Đại Việt: Vua Lê Thánh Tông. Đây là vị vua có thực tài đã đưa Đại Việt đến thời kỳ vàng son nhất kể từ trước. Thời gian trị vì của ông kéo dài 37 năm qua hai thời niên hiệu: Quang Thuận và Hồng Đức. Trong thời Quang Thuận, từ năm 1460 đến năm 1469, đất nước bình yên chỉ có mấy điều đáng nhớ:

      Thứ nhất: Tháng 12 năm 1460, vua Thánh Tông ra lịnh chinh phạt xứ Bồn Man. Bồn Man là lãnh thổ nhỏ nằm giữa Lào và Đại Việt có biên giới chung với Nghệ An. Đây là xứ sở của nhà họ Lư đã chạy loạn từ Vân Nam trong chiến tranh Nguyên – Minh năm 1368. Khi đến đây tộc Lư thành lập tiểu quốc, nhưng luôn bị người láng giềng phương tây Lan Xang (Lào) uy hiếp. Năm 1448 vua xứ Bồn Man xin cống nạp phẩm vật hằng năm đến triều đình Lê Nhân Tông để tìm chỗ dựa. Dần dần thấy đủ mạnh, Bồn Man không còn giao hảo như ban đầu nữa. Đó là lý do vua Thánh Tông cất quân đi chinh phạt. Đinh Liệt, Trần Lựu, Lý Lăng (con Lý Triện) dẫn 5 ngàn quân đi hỏi tội quốc vương Lư Cầm. Mau mắn, nhà vua họ Lư chịu lệ thuộc như cũ. Không bên nào thương vong, Đinh Liệt rút quân về.

      Thứ hai: tháng 7 năm 1461, nhà vua ra chỉ dụ hạn chế xây dựng chùa tháp. ĐVSKTT trong Bản kỷ Thực Lục quyển 2a đã viết: “Chùa quán nào không có ngạch cũ thì không được tự tiện làm mới”. Điều nầy cho thấy thời thịnh trị của phật giáo dưới hai triều đại Lý Trần không còn nữa. Xã hội nghiêng về nho giáo. Nhà vua cho lập đàn Tế Giao vào tháng giêng hằng năm. Đàn nầy luôn luôn dựng ở phía đông nam để chỉ Trời, Trước đây, vào năm giáp tuất 1154 dưới thời vua Lý Anh Tông đã xuất hiện với tên tế đàn Văn Khâu, nhưng không đều đặn. Có lẽ suốt hai triều Lý và Trần không mấy thịnh hành việc tế lễ trời, đến thời vua Hồ Hán Thương mới lập đàn lớn ở chân núi Đốn, phía nam thành Tây Đô. Với sự cải cách của Hồ Qúy Ly, đàn đổi tên thành đàn Nam Giao, và đến thời vua Lê Thánh Tông rất coi trọng lễ đàn nầy. Nó mang ý nghĩa tâm linh tế lễ trời và tạ ơn đất. Có thể nói dưới thời vua Lê Thánh Tông nho giáo và phật giáo rất hòa đồng.

      Thứ ba: tháng 8 của năm 1462 nhà vua giết Lý Lăng. Lý Lăng là con Lý Triện không hề và không đủ sức làm phản, nhưng đã bị buộc tội như thế. Theo Đại Việt Thông Sử của Lê Qúy Đôn thì họ Lý bị giết chỉ vì sau khi lật đổ vua Nghi Dân, ông ủng hộ lập Cung vương Lê Khắc Xương lên làm vua. Đây là vị đại thần duy nhất bị oan mà không được giải của triều đại Lê Sơ.

      Thứ tư: tháng 7 năm 1464, nhà vua truy phong công thần Nguyễn Trãi tước Tán Trù bá. Tuy đây chỉ là một tước hiệu khiêm nhường (Bá đứng thứ ba trong ngũ tước: công, hầu, bá, tử, nam) nhưng là một may mắn cho gia đình họ Nguyễn. Lần đầu tiên những người thân còn sống sót của đại công thần Nguyễn Trãi được sống tự do sau 22 năm lẩn trốn, Phạm Anh Vũ là một. Ông nầy được mẹ, vợ thứ 5 của Nguyễn Trãi, cưu mang khi còn là thai nhi. Ông đã được gia đình bên ngoại đưa đi trốn nhiều nơi, có khi lên tới biên giới Bồn Man. Về sau ông đỗ hương cống và trở về cố xứ Nhị Khê dựng lại dòng tộc Nguyễn. Nhân đó vua Lê Thánh Tông ban chiếu chỉ cho con cháu của các công thần nào đã đổi sang họ Lê trở về họ cũ để nối dõi tông đường.

      Thứ năm: năm 1467 tăng cường thủy binh, bộ binh, kỵ binh và tượng binh. Chính nhà vua đi duyệt những đơn vị nầy, sau đó ông cho luyện tập từng kỳ cho mỗi đơn vị.

      Thứ sáu: tháng 3 năm 1469 định lại đơn vị hành chánh, chia 5 đạo có từ thời vua Lê Thái Tổ thành 12 thừa tuyên. Đó là Thuận Hóa, Nghệ An, Thanh Hoa, Sơn Nam (Thiên Trường), Hải Dương (Nam Sách), Sơn Tây (Quốc Oai), Kinh Bắc (Bắc Ninh, Bắc Giang), An Bang (Vân Đồn), Hưng Hóa (Đà Giang), Tuyên Quang, Ninh Sóc (Thái Nguyên) và Lạng Sơn. Riêng khu vực kinh đô và vùng ngoại ô của nó nằm giữa 3 đạo Sơn Nam, Sơn Tây và Kinh Bắc, nhưng không thuộc đạo nào. Vùng nầy được gọi là phủ Phụng Thiên. Cũng trong năm nầy nhà vua ra lịnh khai khẩn đất hoang trong mỗi đạo. Đó là những cánh đồng dâu và những cánh đồng lúa mênh mông về sau.

      Nhìn chung về quân sự, xã hội, kinh tế ở cuối thời Quang Thuận đã hưng thịnh. Nó đủ mạnh để chuẩn bị cho một cuộc chinh phục phương nam. Nhắc qua một chút lịch sử Chiêm quốc phương nam trong thời đương đại ấy: Từ khi Tuyên Từ thái hậu khởi chiến năm 1446, bắt giam Bí Cái và lập Ma Ha Qúy Lai lên làm vua, thì Chiêm Thành suy yếu hẳn. Năm 1449 em ruột Qúy Lai là Qúy Do lật đổ người anh và lên ngôi. Năm 1457 rể của vua Bí Cái là Bàn La Trà Duyệt khởi nghĩa giết Qúy Do lập triều đại họ Trà. Không may, ông vua nầy bị bịnh chết vào 3 năm sau. Trà Toàn là em ruột được truyền ngôi từ năm 1460. Người em cương cường vào thao lược hơn người anh. Trà Toàn dần dần đưa đất nước Chiêm Thành đi lên. Tuy nhiên, sự phát triển đất nước lại đi đôi với lòng thù hận dân tộc. Ông thù người láng giềng phương bắc Đại Việt như một mối thù truyền kiếp. Một ngày thuận tiện giữa mùa thu năm 1470, ông cất quân bắc tiến. Hơn 2 vạn quân thủy bộ, cùng kỵ binh tấn công Hóa Châu. Lực lượng biên phòng không cản nổi bước tiến quân của Trà Toàn. Chúng tràn qua sông Cu Đê tấn công quân đồn trú, và chiếm lấy đèo Hải Vân chỉ trong một sáng sớm. Trà Toàn tiếp tục bắc tiến qua sông Kim Trà không gặp sự kháng cự đáng kể. Tướng trấn thủ châu Hóa lúc bấy giờ là Phạm Văn Hiển phải gọi các lộ quân địa phương về thành Hóa Châu để chống giữ. Đồng lúc khẩn báo về triều đình Đông Kinh.

      Cuộc “xâm lăng” nầy đã bước qua thời Hồng Đức. Nó là nguyên nhân gần để đưa đến cuộc tấn công trả đũa của vua Lê Thánh Tông. Không những tiếp cứu thành Hóa Châu, mà vua Đại Việt còn có kế hoạch tấn công Đồ Bàn.

      Đầu tháng 10 năm 1470 nhà vua sai tổng binh Thanh Hoa Nguyễn Đức Trung đưa binh bản bộ và Nghệ An tiếp viện Hóa Châu. Liên quân Phạm Văn Hiển – Nguyễn Đức Trung đã chiến đấu với quân của vua Chiêm Thành ở mặt nam và tây nam dữ dội theo từng đợt tấn công. Thành Hóa Châu đã chìm trong khói lửa suốt một mùa đông, nhưng quân tấn công không thủ thắng được. Sông Đan Điền (sông Bồ) bao bọc phía tây và tây bắc đã bảo vệ cho thành. Dù cố gắng, quân của Trà Toàn không đánh bức được một mặt thành nào. Hai bên đều thiệt hại khó định thắng thua. Tình hình như thế, và quân của vua Chàm đã nằm trên vùng đất địch qua tới mùa xuân. Ông ta không hề hay vua Đại Việt đang mở một chiến dịch khác.

      Ngày 6 tháng 2 năm 1471 vua Lê Thánh Tông cử thái sư Đinh Liệt làm chinh nam tướng quân, và thái úy Lê  Niệm làm tham tá. Ngoài hai vị tướng từ cựu trào nầy còn có các tướng Lê Thọ Vực, Trịnh Văn Sái và Ngô Hồng. Họ dẫn 15 ngàn thủy quân và bộ binh  trên 100 chiến thuyền tiến về cửa Áp, cửa Tọa thuộc Chiêm Động, và cửa Sa Kỳ thuộc Cổ Lũy của Chiêm Thành. Mục đích của cánh quân nầy là chặn đường rút lui của Trà Toàn. Liền sau đó, nhà vua đích thân dẫn 20 ngàn quân trên 150 chiến thuyền làm lực lượng chính theo sau. Các tướng Phạm Nhữ Tăng, Lê Hy Cát, Lê Thế và Hoàng Nhân Thiên đi theo lộ quân nầy. Khi nhà vua đến thành Hóa Châu thì quân Chàm đã rút lui. Cuộc nam chinh qua đất Chàm bắt đầu. Thủy quân và bộ binh của nhà vua vượt qua Chiêm Động (Quảng Nam). Lúc nầy quân của Đinh Liệt đã chặn ở Sa Kỳ,  Thái Cần và núi Mộ Nô. Hai đạo quân Đại Việt bắt tay nhau ép 20 ngàn quân Chiêm thành vào giữa. Trận chiến Mộ Nô chỉ trong một ngày, mà số thiệt hại nhân mạng của Chiêm Thành lên rất cao. Người ta nói nó còn nhiều hơn ở thành Hóa Châu trong suốt một mùa đông qua. Số sống sót còn lại chưa tới số ngàn, họ cố chạy về phương nam. Rất may vua Chiêm Thành chạy được tới Đồ Bàn.

      Dù vua Trà Toàn kịp về kinh đô, nhưng tình thế trở nên rối loạn. Điều nầy làm lan rộng ra những cứ điểm xung quanh. Trận át chiến ở thành Thị Nại vừa bộ binh và thủy quân đã làm quân Chiêm Thành chết nhiều hơn ở Mộ Nô.  Đương thời thành Thị Nại là căn cứ vô cùng quan trọng. Nó nằm sát bên đầm Thị Nại và sông Côn. Mất nó là uy hiếp trầm trọng thành Đồ Bàn. Vị chủ soái ở đây tên Thị Nại (?), em ruột của nhà vua Chàm, là một vị tướng dũng cảm. Ông ta đã điều động 2 vạn quân cơ hữu chiến đấu với 3 vạn quân của Đinh Liệt và Nguyễn Đức Trung. Cuộc chiến diễn ra từ giữa khuya đến suốt một ngày hôm sau, và càng về chiều thì quân Chàm càng yếu thế. Những đồn nhỏ quanh đầm Thị Nại đã bị chiếm. Liên quân Đinh Liệt – Nguyễn Đức Trung đang ồ ạt tiến vào đồn chính. Lúc nầy nắng đã tắt hẳn. Mặt trời chỉ để lại chút ánh sáng mờ mờ trên đại dương và dải ráng đỏ xa xăm ngoài chân mây. Lúc ấy, không biết vì sao vô số chim nhạn từ đất liền bay ra khơi. Những người lính Chiêm Thành nói chim nhạn đã mang linh hồn Chiêm quốc về ráng của trời. Họ đương chứng kiến tướng Thị Nại tự sát bằng lưỡi gươm của chính ông. Rất tiếc lịch sử Chàm còn sót lại không nói về cái khí phách và tên thật của một vị tướng nầy. Song song với sự chiến đấu đến chết của tướng Thị Nại, một vị thân vương khác tên Bô Sản Ma Ha chỉ huy mặt bắc kinh thành cũng đã hi sinh. Ông nầy đã cầm cự với tướng Phạm Nhữ Tăng suốt hai ngày đêm mới bị thương trước khi toàn quân tan rã.

      Sang đến những ngày cuối cùng của tháng 2 năm 1471 thì dọc theo bờ sông Côn và xung quanh hoàng thành người ta chỉ thấy quân Đại Việt. Đồ Bàn bây giờ chỉ như khối sắt treo dưới đầu tơ. Ở trong thành chỉ còn một lộ quân trung kiên với nhà vua của tướng Bô Trì Trì và đội quân cẩm vệ. Lần thứ nhất vua Chiêm Thành đưa thư xin hàng nhưng vua Đại Việt không chấp thuận. Lần thứ hai vua Chiêm Thành xin làm thần và tự trách đã sai lầm khi cất quân đi đánh phá Hóa Châu, nhưng vua Đại Việt vẫn không bằng lòng. Đây là cuộc chinh phạt qui mô nằm trong tiến trình mở mang bờ cõi. Nếu không có cuộc tiến đánh Hóa Châu của Trà Toàn thì nó vẫn xảy ra. Và, điều phải đến đã đến. Ngày 3 tháng 3 năm tân mão 1471 Đồ Bàn thất thủ sau 3 ngày bị tấn công. Tướng Chiêm Thành Bô Trì Trì chạy thoát được giữa đám loạn quân. Vua Chiêm Thành Trà Toàn bị tướng Đại Việt Lê Thọ Vực bắt sống, và bị chết sau đó.

      Chiếm được Đồ Bàn, nhưng quân đội nhà Lê không dừng lại. Vua Lê Thánh Tông cho quân tiếp tục truy đuổi về phương nam. Dọc theo bờ biển là đồi núi đá vôi nhô lên. Nhiều chỗ cheo leo trườn ra biển ôm lấy một vùng duyên hải hoang sơ. Qua một tuần trăng, khó mà biết đã đi được bao xa, nhưng quân đội hai bên lại gặp nhau. Tưởng sẽ có cuộc chiến đẫm máu, nhưng điều đó không xảy ra. Tướng Bô Trì Trì liệu sức không chống nổi đã đầu hàng, và xin làm phiên thần. Bên tiếng sóng thì thầm của một làng chèo nhỏ, hai bên Chiêm Việt thỏa thuận một ranh giới mới và điều kiện mới. Theo đó đỉnh núi đá vôi mà từ làng chài nầy thấy rõ nhất là ranh giới giữa hai nước. Đỉnh nầy gọi là đỉnh Thạch Bi*. Phía nam đỉnh núi nầy cũng phải chịu lệ thuộc, nhưng được quyền tự trị do Bồ Trì Trí cai quản và được chia làm 3 vùng. Thứ nhất: Kauthara được đặt tên là Hoa Anh (nay là Phú Yên và Khánh Hòa). Đây vốn là một địa khu cũ trong bốn địa khu của người Chàm. Thứ hai: Panduranga tên Việt gọi là Phan Lang (Ninh Thuận và Bình Thuận). Địa khu nầy giáp ranh với Chân Lạp ở phía nam, và đã có một thời thịnh trị Hoàn Vương coi sóc toàn cõi Chiêm Thành xa xưa. Thứ ba: Vùng phía tây của Kauthara và Panduranga. Vùng nầy không có tên Chàm vì đây là vùng cao nguyên hoang địa nằm giữa Chân Lạp, Chiêm Thành và Ai Lao. Nó là vùng Tây Nguyên sau nầy mà lúc bấy giờ vua Lê Thánh Tông đặt tên là Nam Bàn.

      Dĩ nhiên, phần đất phía bắc của 3 xứ thuộc địa nầy nghĩa là từ núi Thạch Bi đến đèo Hải Vân thuộc về Đại Việt. Nó được đặt tên là thừa tuyên Quảng Nam, mang ý nghĩa mở mang về phương nam.  Đây là thừa tuyên thứ 13 sau 12 thừa tuyên đã có vào tháng 3 năm 1469. “Thừa tuyên” là tên chữ, thường được gọi như cũ là “đạo”, và nhà vua chia đạo nầy thành 3 phủ tính từ bắc vào nam: Thăng Hoa, Tư Nghĩa, Hoài Nhơn, và giao cho tướng Phạm Nhữ Tăng trấn giữ. Nhưng cũng trong mùa xuân năm 1471 nầy, vua Lê Thánh Tông thấy đạo Quảng Nam còn mới mẻ mà quá rộng, ông thu hẹp lại và chia ra chi tiết hơn. Ông lấy phần đất phía bắc của phủ Thăng Hoa có tên huyện Điện Bàn (từ đèo Hải Vân đến sông Thu Bồn) giao cho phủ Triệu Phong  thuộc đạo Thuận Hóa. Phần đất cực nam của phủ Hoài Nhơn sát núi Thạch Bi được gọi là huyện Tuy Viễn. Từ đây, những địa danh Chiêm Động, Cổ Lũy và Đồ Bàn vĩnh viễn mất tên.

      Chiến tranh chấm dứt. Đại Việt mở rộng lãnh thổ. Lúc nầy những người đi khai phá gặp lực lượng kháng chiến quân Chiêm Thành. Đó là quân của vương thân Trà Toại, em ruột  cố quốc vương Trà Toàn. Họ ẩn náu tại vùng ven biển dưới chân núi Thạch Bi, và chiêu tập dân quân thành một đạo quân kháng chiến. Họ có cả trên hai ngàn chiến binh, và cử sứ giả đi cầu cứu nhà Minh. Minh Hiến Tông chưa kịp đáp ứng, thì quân kháng chiến Chiêm Thành bị quân biên phòng Đại Việt đánh tan tành. Trà Toại không bị chết trong trận chiến nầy, nhưng cùng với gần ngàn quân và dân thường của ông bị bắt. Vua Lê Thánh Tông ra lịnh không được giết hại những người Chiêm Thành cuối cùng nầy. Đích thân nhà vua phủ dụ họ và cho về định cư trên đất Đại Việt. Họ thành một làng Chiêm sống lặng lờ nín nhịn bên cửa biển Bảo Khánh của đạo Quảng Nam thời bấy giờ.

      Trở lại triều đình nhà Minh của Minh Hiến Tông. Tuy không đưa quân sang giúp Trà Toại, nhưng có những dậy binh đáng ngờ. Quân nhà Minh đóng khắp biên giới Việt Tàu ở phía đông, và như sẵn sàng tiến quân. Vua Lê Thánh Tông ra lịnh cho thái úy Lê Cảnh Huy, người lưu thủ kinh sư trước đây: “Nay nhận được tờ tấu của quan An Bang [Quảng Ninh] rằng nhà Minh sai nhiều binh lính từ Quảng Tây sang, nói phao là sang lập hội đồng khám địa giới. Việc nầy cần phải sai người dò thám ngay, nếu thấy gì khác, lập tức đưa công văn đi các đạo tập hợp binh lính chống giữ. Một thước núi, một tấc sông của tổ tiên ta lẽ nào tự tiện vứt bỏ đi được? Phải kiên quyết tranh luận, không để cho họ lấn dần. Nếu họ không theo, còn có thể sai sứ qua tận triều đình của họ biện bạch cho rõ phải trái. Nếu người nào dám đem một thước, một tấc đất của Thái Tổ làm mồi cho giặc sẽ bị trừng trị nặng”. Việc đo đạc để định biên giới đã không xảy ra, nhưng loạn biên cương được khai mở và tiếp diễn. Thoạt ẩn, thoạt hiện. Điều nầy kéo dài mãi đến tháng 9 năm 1474 khi trận đánh ở châu Bằng Tường, Lạng Sơn kết thúc. Trận nầy mỗi bên đều bị thiệt hại và rút quân về, nhưng cái nhìn của nhà Minh về Đại Việt đã khác hơn: Đây là một quốc gia đáng ngại.

      Sức mạnh nầy không ảnh hưởng lắm cho phương bắc, nhưng nước láng giềng Ai Lao ở phương tây lại không yên. Vốn Ai Lao đã từng giúp quân Minh chống quân Lam Sơn đôi lần. Họ đã giúp Mã Kỳ trong trận Lỗi Giang, Lạc Thủy để buộc quân Lam Sơn rút vào Chí Linh lần thứ ba. Thấp thỏm lo ngại một Đại Việt bành trướng sẽ có điều bất tường. Sang tháng 10 trong năm 1474 nầy, Ai Lao cho sứ cầu thân, cống nạp.

      Mở rộng bờ cõi phương nam, yên phương bắc, bình phương tây. Quả vua Lê Thánh Tông là vị vua anh minh đảm lược, nhưng trong tình huynh đệ có chỗ không tròn. Trong khi đất nước thái hòa ở những năm sau, nhà vua hạ ngục Cung vương Lê Khắc Xương. Đó là tháng 8 năm 1476 với tội danh âm mưu làm loạn. Vị huynh trưởng nầy sợ quá đến nỗi chết ngay trong tù, và không biết ông có hận người hoàng đệ quá chu đáo của mình không. Cung vương Lê Khắc Xương chết chỉ như một ngọn gió lùa qua, chẳng để lại dấu vết gì. Triều đại vẫn bước đi những ngày tháng êm ả. Bộ quốc triều hình luật tiếp tục tu chính. Đó là những luật lệ có từ Lê Thái Tổ, Thái Tông, Nhân Tông, Nghi Dân và đương tiếp tục để hoàn thành vào những năm sau. Thi thơ vẫn được xướng họa. Những tản văn, những bài thơ cũ bị mất thời thuộc Minh tiếp tục tìm lại. Thơ văn của Nguyễn Trãi được dành nhiều công sức tìm kiếm. Về sử học cũng được chú ý trong triều Hồng Đức.  Tháng giêng năm 1479, vua Lê Thánh Tông ra lịnh cho tiến sĩ đồng xuất thân Ngô Sĩ Liên soạn bộ sử mới. Bộ nầy tiến sĩ họ Ngô viết từ thời lập quốc đến Triệu Đà theo sự nghiên cứu của mình. Từ Triệu Đà đến Lê Chiêu Hoàng dựa theo sử cũ của Lê Văn Hưu. Từ Lý Chiêu Hoàng đến cuối thuộc Minh dựa trên sử của Phan Phu Tiên. Đoạn sau từ Lê Thái Tổ đến đời Lê Thánh Tông, Ngô Sĩ Liên viết theo sự việc xảy ra ở thời đương đại. Ông đặt tên bộ sử là Đại Việt Sử Ký Toàn Thư.

      Tháng 1 năm 1479, Lê Văn Hưu bắt đầu viết sử thì ngay trong năm đó ông ghi nhận một sự việc đầu tiên của thời bấy giờ: Cuộc chiến tranh giữa Lan Xang với Đại Việt đưa đến thành lập phủ Trấn Ninh. Lan Xang là xứ sở của những bộ tộc Lào tiền thân của nước Ai Lao. Họ di chuyển từ Nam Chiếu về phương nam như những bộ tộc người Thái vì chiến tranh phương bắc. Những cuộc di cư nầy đã có từ lâu, nhưng sự có mặt của vương quốc Lan Xang chỉ thực sự bắt đầu vào năm 1354. Nó chiếm một phần châu thổ của sông Mê Kông do một người tên Fà Ngum được đế quốc Khmer giúp sức để thành lập. Sau đó 15 năm có một bộ tộc, đa số là người họ Cầm, ly khai thành lập một tiểu vương quốc gọi là Bồn Man. Nó chỉ là một vùng nhỏ ở phía đông của Lan Xang. Cả hai xứ sở nầy đều có một biên giới chung với Đại Việt không minh bạch. Đại Việt cho rằng người Lào xâm phạm biên giới và ngược lại. Có những giao tranh lẻ tẻ ở Trường Sơn mà người Lào gọi là Pù Luông xảy ra từ năm 1467, nhưng đến năm 1479 thì mới có chiến tranh. Trong tháng 8 năm 1479 nầy tiểu quốc vương Bồn Man là Cầm Công ngả về với vua Samsenethai của Lan Xang. Vua Lê Thánh Tông sai Lê Thọ Vực, Trịnh Công Lộ, Lê Lộng, Lê Đình Ngạn, mang trên 5 vạn quân tràn qua biên ải. Họ tiến sâu vào kinh đô Xieng Dong Xieng Thong (tên gọi nầy không chính xác lắm, nhưng nay là Luang Phrabang) và chiếm giữ tới hai tháng và tấn công về phía tây. Trong lúc đó thì nhà vua cùng các tướng Lê Niệm, Trần Bảo, Phan Nhân Kính đem 3 vạn quân đi chinh phục Bồn Man. Vốn Bồn Man đã chịu thần phục từ thời vua Lê Nhân Tông, nên vua tôi tiểu quốc nầy mau chóng đầu hàng. Vua Lê Thánh Tông quyết định cho Bồn Man trở thành một phủ: phủ Trấn Ninh. Theo đó thì phủ nầy được tự trị và con cháu tộc Cầm vẫn được làm phụ đạo đời đời. Thành lập xong phủ Trấn Ninh vào tháng 10, thì nhà vua cho đạo quân chinh tây của Lê Thọ Vực rút về. Vua Lê Thánh Tông biết mạo hiểm một cách chừng mực như Tuyên Từ thái hậu trước đây.

      Sau cuộc chinh tây nầy là những năm thái hòa nhất của suốt triều đại nhà Lê. Xã hội, nội an đều được nhà vua chú ý nâng lên tốt đẹp hơn. Quốc Triều Hình Luật thường được gọi là bộ luật Hồng Đức được soạn thảo và ban hành.  Dù rằng mục đích của bộ luật nầy chỉ để bảo vệ triều đình phong kiến, nhưng ở thời đương đại ấy đã có một xã hội an bình. Nó không phải được vua Thánh Tông đặt ra, mà ông đúc kết và sửa đổi những hình luật có từ thời Thái Tổ, Thái Tông, Nhân Tông, Nghi Dân và chính nửa đời Thánh Tông vừa qua. Song song với bộ luật Hồng Đức còn có Bản Đồ Hồng Đức. Dù rằng trước đây có Tô Hiến Thành giúp vua Lý Cao Tông, và Nguyễn Trãi giúp vua Lê Thái Tông vẽ bản đồ, nhưng lần nầy vua Lê Thánh Tông có được một bản đồ chi tiết hơn, đầy đủ hơn và rộng lớn hơn. Nó là bộ bản đồ gồm có 13 đạo và một phủ Phụng Thiên trong đó có hoàng thành Đông Kinh. Đây là bản đồ đầu tiên của Việt Nam có ghi tên làng, xã, huyện, quận, phủ, cùng sông núi và những con đường từ trong nước đi ra các nước lân bang. Ngoài việc cho dân chúng hiểu về địa lý các nơi, bản đồ Hồng Đức còn giúp việc trị an có hiệu qủa hơn. Trong thời gian nầy nền văn học cũng được thăng hoa. Thi cử, thơ phú rộng rãi khắp 13 đạo. Văn bia tiến sĩ được dựng lập ở Văn Miếu thủ đô. Bảy văn bia được dựng lập năm 1484. Hội Tao Đàn cũng được thành lập trong thời gian nầy, chính thức là năm 1495 do nhà vua chủ trương. Ngoài nhà vua tự xưng là “Nguyên Soái” còn có 28 vị gọi là “Nhị Thập Bát Tú” cùng xướng họa thơ Nôm. Đề tài rộng rãi chứ không chỉ việc gởi gắm nỗi lòng qua việc vịnh cảnh vịnh người. Bộ Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập được in về sau phần lớn lấy từ hội Tao Đàn nầy.

      Với hùng lược ấy, với thi tài ấy, nhưng vua Thánh Tông cũng không sống lâu để tiếp tục sự nghiệp. Sau 2 năm lập hội Tao Đàn, ngày 30 tháng 1 năm 1497, nhà vua băng hà sau một cơn bịnh phù thủng. Ông thọ 55 tuổi để lại 14 người con trai. Trong đó người con trưởng là Lê Tranh đã được chọn làm thái tử, người con thứ 5 là Kiến vương Lê Tân cũng là một anh tài. Chen lẫn trong 14 hoàng tử nầy là 20 công chúa. Với ít nhất 34 người con, không rõ vua Lê Thánh Tông có bao nhiêu người vợ. Điều mà có thể biết được là có hai bà còn ghi lại trong sử sách: Huy Gia hoàng hậu và Phùng chiêu nghi. Cả hai bà đều là vợ của vua Lê Thánh Tông khi còn là Gia vương, và có con cháu đời sau làm vua. Bà họ Phùng chết trước nhà vua cả gần 10 năm, và không có nghi vấn nào về cuộc đời của bà. Riêng bà Huy Gia hoàng hậu, theo ĐVSKTT, đã bôi thuốc độc trên vết lở của nhà vua để đưa đến cái chết cho ông. Nguyên văn “ Tiếc rằng vua nhiều phi tần quá nên mắc bịnh nặng. Huy Gia hoàng hậu bị giam ở một cung khác, đến khi vua ốm nặng mới được đến hầu bệnh, bèn ngầm dấu thuốc độc trong tay mà sờ vào chỗ lở, bệnh vua do vậy mới thêm nặng”. Câu chuyện thực hư thế nào không rõ, ĐVSKTT chỉ viết qua vài dòng như thế. Nó như một vết mờ ở cuối đời vua Lê Thánh Tông, và chính sử lăn qua nó không để lại một dấu tích gì. Nhà vua truyền ngôi lại cho thái tử Lê Tranh, con của chánh cung hoàng hậu Huy Gia, trong bình an. Triều đại Lê Hiến Tông bắt đầu.

Lê Gia vưong thờ ơ cửu ngũ
Trong đệ huynh phận nhỏ nhất nhà
Ai đem dâu biển qua cung đế
Mà để bao lần máu lệ sa

Nghi Dân chết ai phong hầu tước
Trống ngôi vua ai chọn Cung vương
Duyên nào đưa đẩy vương từ khước
Để có Thánh Tông nối nghiệp đường

Tưởng sẽ khó một thời Quang Thuận
Vì âm vang cuộc loạn Thiên Ninh
Không ngờ thuận trị hơn buổi trước
Xứ sở nơi nơi được thái bình

Sửa đôi chút nho gia phật học
Đưa đôi bên từng bước song song
Nho gia hoa cũ trong vườn mới
Hòa phật gia như nước một dòng

Vua chú trọng thềm trong cửa trước
Đàn tế giao cảm tạ thường hằng
Thênh thang lòng nhẹ như mây trắng
Mà nặng nơi nào giết Lý Lăng?

Tán Trù bá nhà vua truy tặng
Hồn Ức Trai nay ở nơi nao
Vô thường thế sự như phấn thổ
Mà cũng nghe đau dải máu đào

Giọt máu nhỏ xanh xao biên giới
Về quê cha lượm nhặt điêu tàn
Nhị Khê làng bắc Sơn Nam đạo
Nguyễn tộc u hoài cỗ thời gian

Thâu quốc tính họ Lê trở lại
Trả nguyên tông nối dõi ông cha
Xưa kia Thái Tổ gom thành họ
Nay Thánh Tông cho trả lại nhà

Qua binh bị bao quân bộ thủy
Nào kỵ binh nào những tượng binh
Thân hành vua duyệt qua từng đội
Mỗi nơi nơi là mỗi sóng kình

Đâu Thanh Hóa, Sơn Nam, Ninh Sóc
Đâu Hải Dương, Kinh Bắc, An Bang
Thủy quân đông bộ, tây quân mã
Cờ reo bay theo gió rợp ngàn

Đâu đất Nghệ, Sơn Tây, Hưng Hóa
Đâu Lạng Sơn, Thuận Hóa, Tuyên Quang
Bộ binh chủ lực trên từng lộ
Đoàn tượng binh lương thảo sẵn sàng

Mười hai đạo dọc ngang tác chiến
Mà nhà Chiêm sao dám coi khinh
Vươn tay đòi lại miền đất cũ
Mua giấc ngàn thu hận lấy mình

Nhớ buổi trước tình hình Chiêm quốc
Vua nhà Chiêm Qúy Lại lên ngôi
Ba thu chưa hết mùa thu cuối
Đã bị người em đuổi mất rồi

Là huynh đệ vì sao nên nỗi
Vai không đầy mà gánh non sông
Kéo thuyền Chiêm quốc về đâu tá
Một trận loang pha máu đổ hồng

Từ buổi ấy nhà Chiêm đi xuống
Đâu Qúy Do, Trà Duyệt, Trà Toàn
Mười năm dư lẻ mang hồn thánh
Mà để Chiêm Thành mất giang san

Trận chiến đấu bên thành châu Hóa
Ai xâm lăng ai bị xâm lăng
Đan Điền vọng bắc về Đại Việt
Hay vọng về nam ngẫm vết hằn?

Thành Hóa Châu linh hồn châu Hóa
Cuối mùa thu trận chiến sang đông
Sông Bồ máu chảy qua Ruộng Phạn
Lai láng bên sông nước hóa hồng

Không thể thắng Trà Toàn kịp rút
Tin đưa về quân Việt nam chinh
Thánh Tông chủ soái quân ngàn vạn
Thủy bộ song song át sóng kình

Trưa cửa Áp chiều tà cửa Tọa
Đêm Sa Kỳ, ngày Cổ Lũy Chiêm
Hai bên hò hẹn lưng chừng núi
Đại Việt reo quân sóng gọng kiềm

Quân sống sót giữa trời Chiêm quốc
Chạy về đâu, Thị Nại, Đồ Bàn
Cao xanh đã phụ người cố thổ
Đại Việt tha hồ kiếm dọc ngang

Đồn Thị Nại bên trời sóng bạc
Nhạn kêu chiều bay mãi về đâu
Trông theo như thể hồn vong quốc
Cuối biển hoàng hôn ráng thẩm màu

Mất Thị Nại vời trông non nước
Thành Đồ Bàn như đá treo tơ
Dọc bờ sông rộng muôn năm ấy
Tượng tháp Chàm ơi nước mịt mờ

Đối đối địch hai bờ Chiêm Việt
Mùa đang xuân mà tưởng đang đông
Vô thường Chiêm quốc đời bụi phấn
Tháp cổ buồn hiu ngắm bụi hồng

Trà Toàn chết nửa đường đi bắc
Chiêm Thành xưa nay đã chia ba
Phiên Lung chốn ấy kinh thành cũ
Nhặt chút hương xưa bóng tháp ngà

Hoa Anh xứ bắc, Nam Bàn tây
Ai biết Chăm Pa số phận nầy
Hoàn Vương một thuở xưa xa ấy
Người cũ còn đâu vương nước mây

Tự trị ba vùng thờ Đại Việt
Thánh Tông an định đất phương nam
Bao giờ lập quốc bao giờ mất
Ai biết bao lâu tự trị Chàm

Miền đất mới Hoài Nhơn, Tư Nghĩa
Cọng Thăng Hoa gọi một Quảng Nam
Cuối trời xa ấy ai còn đó
Ai kẻ hoài vương một tộc Chàm

Chàng Trà Toại vốn người trai trẻ
Ngọn đèn khuya le lói nơi nao
Thắp lên ngọn lửa như đèn bấc
Cầu cứu quân Minh chẳng được nào

Vua Đại Việt sao kim rực sáng
An phương nam cùng định bắc phương
Diệt Trà Toại, chuẩn quân phương bắc
Thời Thánh Tông đất Việt vô lường

Rồi một sớm giặc ngoài xứ Lạng
Thôi vờn nhau biên bắc yên dần
Giặc Minh từ ấy thôi xâm phá
Lang Xang Vạn Tượng cũng cầu thân

Đất mở rộng thần dân sung túc
Buổi mơ hoa cũng có ngày thành
Tiếc thay không trọn tình huynh đệ
Cung vương ai bắt lạnh mồ xanh

Khắc Xương chết như thân cỏ dại
Chút héo hon đâu đó rồi thôi
Một triều Hồng Đức vinh quang quá
Thì sá chi đâu chuyện xáo nồi

Cái thiện ác đôi khi xen kẽ
Giết bào huynh nằm giữa việc lành
Tù nhân mấy dịp thêm ân xá
Sĩ tử nhiều người được tấn danh

Vua sưu tập thánh thi Nguyễn Trãi
Từ “Bình Ngô” cuối độ Lam Sơn
“Oan Than” “Ngôn Chí”… còn đâu đó
Một dạo phong sương có oán hờn?

Vua cho soạn dày kho lịch sử
Viết Toàn Thư thần sử Sĩ Liên
Vốn là Đại Việt ngàn năm trước
Sử Ký từng trang nối tiếp liền

Thời đương đại tiếp theo sử viết
Chiếm Bồn Man chinh phạt Ai Lao
Họ là Lào tộc từ phương bắc
Đến xứ đồng Chum tự thuở nào

Rồi một sớm mùa thu quan ải
Bỗng Việt quân tây tiến kinh đô
Xiêng Thông bỏ ngỏ chiều kinh sử
Chinh chiến tràn qua khắp xứ Lào

Cùng lúc ấy Bồn Man nao núng
Đứng giữa trời hai gã đông tây
Thôi đành chọn một làm nội thuộc
Nước nhỏ nghe đau cuộc độ nầy

Từ buổi ấy Trấn Ninh thành lập
Nhà họ Cầm phụ đạo trông coi
Giá treo như thể muôn năm cũ
Nội thuộc còn chi một giống nòi

Sử viết tiếp những dòng hình luật
Vốn từ khi Thái Tổ Thái Tông
Không như Trần, Lý, Hồ năm trước
Đường, Minh, Tống luật cũng không đồng

Mười ba đạo bản đồ được vẽ
Đạo Quảng Nam vừa mới thành hình
Đâu là bia đá chia Chiêm Việt
Ai khóc ai cười cuộc chiến chinh

Sử viết tiếp Thánh Tông văn học
Hội Tao Đàn, Quỳnh uyển cửu ca
Phú thơ Nôm Hán chung tải đạo
Gởi chút niềm riêng chuốt mượt mà

Cột bia đá Thăng Long dựng lập
Thời Thánh Tông thịnh trị nho gia
Ai đồng tiến sĩ ai tiến sĩ
Lần lược vinh danh tại miếu tòa

Qua dòng chảy hai thời niên hiệu
Đôi thương đau mà vạn danh thành
Tiếc rằng băng tịch không minh bạch
Dòng sử nào mờ mịt sử xanh

________________________________

*Đại Việt Sử Ký Toàn Thư khởi viết dưới thời vua Lê Thánh Tông không xác định núi Thạch Bi nằm ở đâu, mà chỉ nói đó là ranh giới của Đại Việt và Chiêm Thành. Vấn đề đặt ra cho nhiều người là núi Thạch Bi thật sự nằm ở chỗ nào. Là núi Đá Bia hiện tại ở khu vực đèo Cả gần vịnh Vũng Rô, hay ở khu vực đèo Cù Mông huyện Sông Cầu. Theo thiển ý chúng tôi, núi Thạch Bi ngày xưa nằm ở khu vực đèo Cù Mông vì hai lý do:

     Một: Mục tiêu cuộc nam chinh của vua Lê Thánh Tông năm 1471 là yểm trợ thành Hóa Châu, Chiếm thành Đồ Bàn, và quan trọng hơn hết là sát nhập vùng đất từ Đồ Bàn đến nam đèo Hải Vân về Đại Việt. Cuộc chinh chiến dĩ nhiên phải tổn thất, vua Lê Thánh Tông không muốn phiêu lưu thêm tới đèo Cả. Đó là đoạn đường chập chùng rừng núi gần 200 cây số. Ông có thể đã tiến quân chừng vài ba chục dặm đường để tảo thanh và bảo vệ tiền đồn Đồ Bàn. Đó là khoảng đèo Cù Mông, và định ranh giới ở đây.

     Hai: 140 năm sau, chúa Nguyễn Hoàng đã có cuộc nam chinh vào năm 1611. Cuộc chinh nam nầy thành công và ông đặt vùng đất mới phía nam núi Thạch Bi là phủ Phú Yên. Diện tích phủ Phú Yên không nhỏ, nên đến năm 1629 chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên mới nâng lên thành dinh Phú Yên hay dinh Trấn Biên (hành chánh của các chúa Nguyễn theo thứ tự: dinh, phủ, huyện, xã). Nếu cho núi Thạch Bi là núi Đá Bia ngày nay, thì dinh Phú Yên chỉ là một cái làng nhỏ bên bờ vịnh Vũng Rô. Nó không thể được gọi là phủ hay dinh. Do vậy, núi Thạch Bi thật sự ở đèo Cù Mông thì hợp lý hơn.


<<  |  >>