Skip to content

Chương 19/3

NHÀ LÊ SƠ
(1428 – 1527)

Đoạn ba

LÊ NHÂN TÔNG,
NGƯỜI MẸ TUYÊN TỪ
VÀ NGƯỜI ANH LÊ NGHI DÂN

 

      Vua Lê Nhân Tông sinh ngày 9 tháng 5 năm 1441, và lên làm vua ngày 12 tháng 8 năm 1442. Tính ra chưa tới 2 tuổi, mà trong 30 ngày làm vua đầu tiên, ông đã giết 4 người. Ngày 16 tháng 8 giết Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ và Nhập nội hành khiển Nguyễn Trãi. Vị đại công thần họ Nguyễn trước đó vài ngày không hề nghĩ cả hai vợ chồng đều bị thảm sát. Trước khi bị hành hình, người ta chỉ nghe ông nói là đã hối tiếc không nghe lời của hai hoạn quan có tên là Thắng và Phúc. Không ai hiểu tại sao vị đại quan họ Nguyễn lại nói như thế, chỉ biết ít ngày sau đó hai hoạn quan được nhắc tới cũng bị giết. Đó là chỉ biết được những người có tên, còn tam tộc họ nhà Nguyễn Trãi bị tru di thì không thể đếm hết. Đây là sự tàn sát thê thảm nhất trong án sử có từ trước, mà người ta gọi  là vụ án Lệ Chi Viên*. Dĩ nhiên không phải nhà vua 2 tuổi ra lịnh.

      Người mẹ Tuyên Từ thái hậu đứng sau rèm đóng một vai trò rất quan trọng trong vụ xét án nầy. Nhưng bà là ai? Rất tiếc sử cũ không hề nói về nhân thân của bà ngoài việc cho biết tên và sinh quán. Nếu không bàn những nghi vấn về bà là chủ mưu vụ án Lệ Chi Viên thì bà là người thái hậu có tài trị quốc. Chưa đầy 20 tuổi, bà gánh việc nước như một nhà cai trị giỏi. Suốt thời gian nhà vua còn nhỏ, bà tỏ ra là người biết nhũn nhặn, biết ra oai, có tài ngoại giao và binh bị. Dưới danh nghĩa nhà vua, ban một chiếu chỉ hết sức nhân đức để thu phục nhân tâm. Trong ĐVSKTT bản kỷ thực lục quyển 1b có ghi “…Lệnh cho khắp quan lại, quân dân đều phải hết lòng bày tỏ những điều có thể xoay được lòng trời, dập hết tai biến, hãy thẳng thắn nói ra, chớ nên ẩn dấu, để giúp trẫm sửa những điều thiếu sót”. Trong năm 1443, cùng một lúc phủ dụ dân chúng như thế, bà sai Đào Công Soạn, Nguyễn Như Đỗ và Lương Nhữ Hộc đi sứ nhà Minh để tiếp tục một giao hảo thân thiện. Tháng 5 năm 1444 bà sai Lê Bôi và Trịnh Khả đi dẹp giặc Chiêm Thành đến quấy phá Hóa Châu. Tháng 7 năm này bà cho bắt giam cả gia đình thượng hầu Đinh Liệt chỉ vì nghi ngờ lạm quyền. Đầu năm 1445 bà thiết lập hệ thống sông đào ở Ninh Bình, Thanh Hoa và Nghệ An hoàn chỉnh hơn trước. Trong tháng 6 năm 1445 nầy bà phong hoàng tử Tư Thành 3 tuổi làm Bình Nguyên vương, và sai các tướng đi dẹp giặc Chiêm Thành ở Hóa Châu lần thứ hai. Lần nầy Bình chương nhập nội Lê Thận và Nhập nội đô đốc Nguyễn Xí được cử đi. Thành An Dung bị mất được chiếm lại, nhưng Nguyễn Xí phạm tội vẫn bị bãi chức như thường.

      Qua hai lần quân Chiêm Thành xâm phạm đất Đại Việt nêu trên, thái hậu Tuyên Từ quyết định chinh phạt. Đầu tháng giêng năm 1446 bà cho vận tải lương thực đến cửa biển Hà Hoa  để sẵn sàng tiếp vận sang đất Chàm. Lần nầy do Đô đốc bình chương sự Trịnh Khả tổng chỉ huy. Các tướng Lê Thụ và Trịnh Khắc Phục phụ tá mang 6 vạn quân thủy bộ tràn phiá nam đèo Hải Vân. Đây là cuộc chinh phạt phương nam đầu tiên của triều Hậu Lê do một người đàn bà chưa tới 23 tuổi chủ xướng. So với các lần trước của các vua Hồ Hán Thương, Trần Duệ Tông, Trần Anh Tông, Lý Thánh Tông, Lý Thái Tông và Lê Đại Hành thì lần nầy của Tuyên Từ thái hậu vẫn có một chỗ đứng đáng kể. Ngày 22 tháng giêng khởi hành thì ngày 23 tháng 2 đã chiếm được Ly Giang, Đa Giang và Cổ Lũy. (Quảng Nam, Quảng Ngãi) Cuộc tiến quân không gây nhiều thương vong, quân Đại Việt chưa đến nơi, quân Chiêm đã bỏ chạy. Cuối tháng 4 năm 1446 có cuộc tấn công thứ hai, và lần nầy tiến vào Đồ Bàn. Cuộc tấn công nầy cũng mau chóng thành công vì quân Chiêm rất yếu. Cái hào khí của vua Ba Đích Lại (Jaya Indravarman VII) đuổi Hoàng Hối Khanh thời cuối nhà Hồ đã mất. Vua đương thời Bí Cái đành thúc thủ trước thủy bộ binh của Trịnh Khả tiến ngược dòng sông Côn. Bí Cái bị bắt đưa về Đông Kinh, thái hậu Tuyên Từ cho lập vua Chiêm Thành mới. Bà chọn Ma Ha Qui Lai, một người cháu của vua Bồ Đế khi xưa làm vua. Bà không chủ trương chiếm đất mà để nước Chiêm thần phục như một chư hầu. Sông Cu Đê vẫn là ranh giới Đại Việt và Chiêm Quốc, và vua Ma Ha Qui Lai cống nạp sản vật hàng năm.

      Chinh phục phương nam, nhưng không bước quá đà để phương bắc mượn cớ gây thù. Quả Tuyên Từ thái hậu là người khôn khéo. Dân chúng hưởng cảnh thái bình chỉ trừ châu Phục Lễ của Đèo Mạnh Vượng. Ông nầy có tư tưởng tự trị như cha là Đèo Cát Hãn năm xưa.  Tháng 2 năm 1448, thái hậu sai Lê Ê mang quân đi can thiệp. Đèo Mạnh Vượng bị bắt, và được lịnh cho tự xử. Châu Phục Lễ trở lại bình an. Trong năm nầy vào tháng 3, một tiểu vương quốc gọi là Bồn Man nằm giữa Ai Lao và Nghệ An cũng sang cống nạp phẩm vật. Lúc nầy thấy mọi việc đã yên, thái hậu cho tha nhiều tù nhân trong đó có Đình Thượng hầu Đinh Liệt.

      Bên cạnh đó thái hậu Tuyên Từ còn lo về việc văn học. Bà triệu an phủ sứ Thiên Trường là Phan Phu Tiên về triều làm Quốc tử giám bác sĩ. Họ Phan là một nhân tài văn học, ông đã đỗ hạng cao trong khóa minh kinh bác học năm 1429. Ông được vua Lý Thái Tổ sai soạn Việt Âm Thi Tập, nhưng phải bỏ dỡ nửa chừng. Năm 1433 ông được lịnh đi làm an phủ sứ Nghệ An rồi Thiên Trường. Mãi đến năm 1448 Tuyên Từ thái hậu mới kéo ông về cùng các vị khoa bảng đương thời Lê Tử Tấn, Trần Tuấn Du và Chu Xa để tiếp tục. Đây là một bộ sưu tập trên 600 bài thơ của nhiều thi gia từ thời Trần, Hồ và kháng chiến Lam Sơn. Cùng trong năm 1448 nầy thái hậu ra lịnh Phan Phu Tiên lục lại bộ Đại Việt Sử Ký của Lê Văn Hưu đã mất, và viết tiếp đoạn sử sau thời vua Lý Chiêu Hoàng. Theo trí nhớ, theo tham cứu với những người đồng sự, Phan Phu Tiên đã bắt đầu khởi viết  bộ sử mới mang cùng tên Đại Việt Sử Ký, và hoàn thành vào 7 năm sau.

      Mọi việc đều tốt đẹp. Thời đại vua Lê Nhân Tông như một dòng sông êm đềm. Bỗng nhiên dòng sông ấy như vướng phải một dãy đá ngầm làm dòng nước quặn lên.  Bất thần, ngày 26 tháng 7 năm 1451, thái hậu Tuyên Từ ra lịnh giết thái úy Trịnh Khả và người con trai đầu của ông là Trịnh Quát. Đồng lúc ấy giết luôn tư khấu Trịnh Khắc Phục và con trai là phò mã Trịnh Bá Nhai. Đời sau không ai hiểu cái chết của 4 vị họ Trịnh nầy. Sử cũ chỉ ghi biên niên ngày tháng chứ không nói một lý do nào.

      Sau hai năm từ ngày ra lịnh giết 4 vị đại thần, ngày 21 tháng 11 năm quý dậu 1453, thái hậu trao quyền chính sự cho nhà vua. Lúc nầy vua Nhân Tông vừa tròn 12 tuổi. Niên hiêụ được đổi thành Diên Ninh. Năm Diên Ninh thứ ba, tức năm 1455, sử gia Phan Phu Tiên trình nhà vua bộ Đại Việt Sử Ký mới. Bộ mới nầy gồm cả bộ sử của sử gia Lê Văn Hưu kéo dài đến khi quân Minh rút về nước năm 1428. Trong lúc các sử quan viết sử, thì nhà vua chăm chỉ học hành và thực tập trị nước. Nhiều lần đại xá được thực hiện. Một số các vị đại thần bị xử chết trước đây được giải oan. Đó là Lê Sát, Lê Ngân, Trịnh Khả và Trịnh Khắc Phục. Trong triều và ngoài các đạo đều bình yên. Nếu được kéo dài lâu hơn, vua Lê Nhân Tông sẽ là một ông vua lỗi lạc. Rất tiếc điều đó không có được. Một việc vô cùng bi thảm bất thần xảy đến.

      Giữa đêm ngày 3 tháng 10 năm kỷ mão 1459, Lạng Sơn vương Nghi Dân đưa quân đột kích cấm thành. Cuộc chính biến xảy ra vào lúc nửa đêm. Vua Nhân Tông bị giết ngay ở tẩm điện trong những giờ phút đầu. Thái hậu Tuyên Từ chịu chung số phận với người con của mình vào tờ mờ sáng hôm sau. Thái hậu và nhà vua có đội mật thám để theo dõi những mầm phản loạn, nhưng họ đã không tìm ra được những kẻ nằm vùng. Chúng nằm ngay trong đội quân phòng thủ nội cung. Trong đêm trực của mình, đô chỉ huy cẩm vệ Lê Đắc Ninh đã phối hợp với thuộc hạ của Lạng Sơn vương. Họ là những Phạm Đồn, Phan Ban, Trần Lăng và chừng 100 nghĩa sĩ. Họ bắc thang đưa quân vào thành và đột kích cấm cung trong im lặng. Khi nội nhân của vua và thái hậu hay được thì mọi việc đã quá trễ. Kết thúc một triều đại quá nhanh giữa một đêm rạng sáng, làm người ta không biết phải làm gì vào buổi mai hôm ấy. Cả Đông Kinh ngỡ ngàng.

      Ba ngày sau, ngày 7 tháng 10 năm kỷ mão 1459, Lạng sơn vương Nghi Dân tự lập làm vua. Đây là người con trưởng của vua Lê Thái Tông. Ông là vị thái tử đầu tiên mà vua cha đã phong và phế đi cách đây 19 năm. Vua Nghi Dân đặt niên hiệu là thiên Hưng và đại xá tù tội trong cả nước. Trong bài văn đại xá có đoạn đã viết:

 “ Trẫm là con trai trưởng của Thái Tông Văn Hoàng Đế, trước đây đã được giữ ngôi chính ở đông cung. Chẳng may tiên đế đi tuần du ở miền đông, bỗng băng ở bên ngoài. Nguyễn thái hậu muốn giữ vững quyền vị, ngầm sai nội quan Tạ Thanh dựng Bang Cơ làm vua, bắt trẫm làm phiên vương. Sau Tạ Thanh tiết lộ việc ấy, lây đến cả tư không Trịnh Khả và tư khấu Trịnh Khắc Phục, thái hậu bắt giết cả đi để hết người nói ra. Cho nên từ đó đến giờ, hạn hán sâu bệnh liên tiếp xảy ra, tai dị luôn luôn xuất hiện, đói kém tràn lan, trăm họ cùng khốn. Diên Ninh [Lê Nhân Tông] tự biết mình không phải là con của tiên đế. Hơn nữa lòng người ly tán, nên ngày mồng 3 tháng 10 năm nay trời đã ra lệnh cho trẫm thay ngôi báu. Trẫm nhờ trời ngó xuống, tổ tông phù hộ, cùng các vương, đại thần, các quan văn võ trong ngoài đồng lòng suy tôn, xin trẫm lên nối ngôi đại thống. Hai ba lần khuyên mời, trẫm bất đắc dĩ lên ngôi vào ngày mồng 7 tháng 10 năm nay, đổi niên hiệu là Thiên Hưng”

      Vừa lên ngôi, trong tháng 10 năm 1459 , vua Nghi Dân sai Nguyễn Như Đỗ và những vị sứ thần khác đi sứ nhà Minh theo lệ hằng năm. Qua đoàn sứ thần, nhà vua yêu cầu bỏ tục lệ cống nạp ngà voi và ngọc trai. Lúc này ở nước Tàu đương trong triều đại Minh Anh Tông lần thứ hai, và nhà vua nầy bằng lòng. Minh Anh Tông là con của Minh Tuyên Tông, thân chinh đi đánh Mông Cổ và bị bắt làm tù binh năm 1449. Sang năm sau được tha, nhưng khi trở về bị giam lỏng làm thái thượng hoàng. Ngôi vua đã bị người em Chu Kì Ngọc tức Minh Đại Tông nắm giữ. Đến năm 1457 mới có cơ hội lấy lại ngôi vua của người em. Trong một năm làm tù binh và 7 năm chịu nhục làm thượng hoàng, Minh Anh Tông đã hiểu thế nào là nỗi nhục nhằn của kẻ yếu. Có lẽ vì lý do đó mà nhà vua nầy mau chóng chấp thuận cho vua Nghi Dân. Điều nầy có lợi cho quốc khố, nhưng điều quan trọng hơn là xóa bỏ một lối ngoại giao nô lệ.

      Quả là những ngày tháng tốt đẹp sau đó. Đến tháng 2 năm 1460, vua Nghi Dân cho đặt thêm 4 bộ: Hộ, Binh, Hình, Công mà trước đó chỉ có hai bộ là Lại và Lễ. Điều nầy để giúp công việc được phân minh rành mạch cho các quan dễ làm, thứ nữa nó giúp cho triều đình có một tầm vóc hơn trước. Việc bỏ cống nạp và lập thêm 2 bộ mới là sự thành công, mà triều đại Thiên Hưng của vua Nghi Dân đã làm được. Rất tiếc triều đại của ông không kéo dài để thực hiện những điều tốt đẹp khác. Nó chỉ được 8 tháng thì chấm dứt.

      Khó để nói việc đoạt ngôi của vua Nghi Dân là đúng hay sai. Tuy nhiên quần thần lúc bấy giờ nghiêng về người đã khuất. Vua Lê Nhân Tông tuy nhỏ tuổi, nhưng có 17 năm làm vua. Ông được vua cha chọn làm thái tử. Ông là một vua nhân từ, chăm lo việc nước, bình được Chiêm Thành, Bồn Man, Phục Lễ. Đó là đế mệnh thiên tử. Nếu chạm đến thiên tử là chạm đến một điều thiêng liêng, mà dù kẻ đó là ai cũng đều có tội. Vì cách nhìn của một tôi thần như thế, nên hai kẻ từng bị phạt dưới thời Nhân Tông đã lãnh đạo một cuộc chính biến mới. Đó là hai cựu trào thái bảo Nguyễn Xí và Đinh Liệt. Ngày 6 tháng 6 năm 1460 họ cùng một số công bộc khác lập mưu bắt giết Phạm Đồn, Phan Ban và Trần Lăng sau lúc bãi triều. Ngay sau đó họ đưa quân bắt vua Nghi Dân và giết đi. Quân chỉnh lý đi mời Tân Bình vương tức Cung vương Trần Khắc Xương lên làm vua, nhưng vị nầy từ chối. Gia vương Lê Tư Thành được rước về điện Kính Thiên và được tôn lên làm vua ngay trong ngày 6 tháng 6 năm 1460. Triều đại Thiên Hưng chết non. Nó chỉ sống được chính xác là 7 tháng và 29 ngày. Vua Nghi Dân bị truy giáng xuống thành Lệ Đức hầu, chứ không có thụy hiệu và miếu hiệu như một điều tôn kính dành cho một vị vua đã qua đời.
Đại Việt bước qua triều đại mới: Lê Thánh Tông.

Chưa hai tuổi mà ngôi thiên tử
Đứng sau rèm người mẹ đôi mươi
Con thuyền Đại Việt trên sông lớn
Lèo lái giang sơn thử mấy người

Tuyên Từ thuở ấy bước sang sông
Người ấy ngày xưa đã có chồng?
Ai treo số phận lên nhan sắc
Để nhạt ân tình ở bến đông?

Chuyện không rõ máu hồng nghi án
Giấc Lệ Chi hoàng thượng về đâu
Sao nghe như thể điều gian dối
Giết Ức Trai để diệt mối đầu?

Trải mấy độ người đi người chết
Mấy đông qua rồi gió cũng yên
Nhân Tông tập bước thềm cửu ngũ
Mấy nét thơ ngây mấy nét hiền

Vua năm tuổi, Chiêm Thành xuất hiện
Lấn Hóa Châu từ những biên cương
Tuyên Từ thái hậu ban quân lệnh
Chiếm An Dung một cuộc chiến trường

Giam Đinh Liệt bãi hồi Nguyễn Xí
Phong tước vương hoàng tử Tư Thành
Đưa quân mà dấy sang Chiêm quốc
Cổ Lũy Đồ Bàn suốt chiến tranh

Bình Cổ Lũy kéo quân Thị Nại
Sông Côn xưa lặp lại chinh nam
Nhớ thưở trước Duệ Tông thất trận
Nay cờ bay cờ Việt kinh Chàm

Đâu Trịnh Khả, đâu quân Lê Thụ
Trận Đồ Bàn, Bố Cái xuôi tay
Ma Ha Qui Lại về thay thế
Đại Việt hoan ca cuối trận này

Diệt Chàm đế nhưng không lấy đất
Họa giặc Minh từ độ Qúy Ly
Vin lên ngọn cỏ đưa đao lớn
Thái hậu khôn ngoan ít kẻ bì

Hoà phương bắc, định an Phục Lễ
Bình Bồn Man biên xứ tây biên
Tha Đinh Liệt trong mùa giảm án
Tuổi ấu thơ vua rạng vua hiền

Phan Phu Tiên công đầu thi tập
Bỏ Thiên Trường về lại kinh đô
Lục từng con chữ trăm năm cũ
Dù Lam Sơn dù những Trần, Hồ

Sách sử ký từ trào họ Triệu
Hồn Văn Hưu đã cháy thành mây
Nhìn xem hậu thế Phu Tiên nhặt
Góp lại từng trang sử Việt nầy

Bỗng lúc ấy như dòng sông quặn
Nước thênh thang mà nước lại đau
Đại thần Lê Khả, Lê Khắc Phục
Duyên cớ làm sao số phận này?

Giết Lê Khả không tha Khắc Phục
Một Lũng Nhai, một họ ngoại xưa
Đã từng sinh tử tiền tiên đế
Nghi án nầy đây nặng chẳng vừa

Rồi một dạo mùa mưa tháng chạp
Người mẹ yêu trao lại quyền uy
Diên Ninh từ ấy dần khôn lớn
Nhơn Tông nhơn đức chẳng ai bì

Bộ sử ký Phu Tiên soạn tiếp
Từ Chiêu Hoàng đến cuối thuộc Minh
Hai trăm năm cũ bao dâu bể
Mấy tự do mấy lệ ân tình

Khinh hay trọng vì sao thôi viết
Vì triều cương lập tức đổi xoay
Mùa đông kỷ mão đêm im ắng (1459)
Mà sớm tinh mơ vận chuyển bày

Lạng Sơn vương giết người em nhỏ
Đã “giành ngôi” từ buổi xa xưa
Trách người thái hậu không chuyên chính
Hai mươi năm mấy những lọc lừa?

Đêm cô tịch sao thưa mờ tỏ
Ngày hanh hao mây trắng cuối thu
Rằng kia vua cũ không dòng chính
Sử viết ngàn năm cũng mịt mù

Đóng khép lại một dòng sử cũ
Đâu Nghi Dân đâu những Bang Cơ
Đại thần mấy kẻ xưa còn đó
Chính biến Thiên Hưng dạ có ngờ?

 

____________________________

* Từ việc xử chết đại thần Nguyễn Trãi và bà Nguyễn Thị Lộ quá mau lẹ, sau đó xử chết hai thái giám họ Đinh, người ta nghi ngờ Tuyên Từ thái hậu Nguyễn Thị Anh giết người bịt miệng. Khi hoàng tử Lê Nghi Dân làm chính biến và lên ngôi, nhà vua nầy đã có bài văn đại xá. Ở một đoạn trong đó, tố cáo Tuyên Từ cố thái hậu và xác quyết vua Nhân Tông là con hoang (đã nêu ở trên). Điều nầy làm giả thiết bà Tuyên Từ giết người bịt miệng càng được củng cố. Từ đó, đời sau sinh ra một nguồn dư luận rằng: Khi vua Thái Tông về Lam Kinh để cúng bái tổ tiên, đã chiêu nạp cô Nguyễn Thị Anh, nguyên đã hoài thai với người tình. Về cung, qua sự hầu hạ của thái giám, thì việc có thai trước đó đã khó che dấu được. Hai vị thái giám có tên Thắng và tên Phúc đã bí mật báo cho vợ chồng Nguyễn Trãi. Sự việc trở nên vô cùng nguy hiểm cho bà nguyên phi Nguyễn Thị Anh, bà phải tìm cách dập tắt. Do vậy, bà Anh đã nhân cơ hội vua Thái Tông đột tử ở Lệ Chi Viên mới tạo án tích. Dư luận còn đi xa hơn, chính bà Lê Thị Anh đã cho người đầu độc vua Lê Thái Tông trước khi giết những đầu mối.

     Tất cả chỉ là dư luận. Bà Tuyên Từ thái hậu tức nguyên phi Nguyễn Thị Anh có thật sự có thai trước khi về với vua Thái Tông hay khộng? Vị vua nầy có bị mưu sát hay không?  Nếu hai câu hỏi nầy không giải đáp được thì vụ án Lệ Chi Viên không bao giờ được soi sáng. Cái chết của đại công thần Nguyễn Trãi và Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ chỉ được xác nhận là cáí chết oan từ thời vua lê Thánh Tông, nhưng oan thế nào thì vĩnh viễn chìm trong bóng tối.


<<  |  >>