Skip to content

Chương 19/2

NHÀ LÊ SƠ
(1428 – 1527)

Đoạn hai

LÊ THÁI TÔNG, VỊ VUA THIẾU NIÊN QUYỀN LỰC

 

      Tính đến tháng 9 năm 1433 thì còn hai tháng nữa vua Lê Thái Tông mới được 11 tuổi. Theo di mệnh, tư đồ Lê Sát là đại thần phụ chính. Bên ông còn có Phạm Vấn, Lê Nhân Chú, Lê Ngân là những người phụ tá. Được các đại quan giúp sức và nhà vua thông minh, hứa hẹn một đất nước cường thịnh. Theo di chí của vua cha thì nhân nhượng nước Tàu là điều cần phải làm, nhưng rèn luyện quân đội để chống xâm lăng Tàu là điều không thể nào xao lãng. Ngày 6 tháng giêng năm 1434, vua Lê Thái Tông cho sứ qua Yên Kinh cầu phong. Sau đó 3 ngày ông ra lịnh các quan cho quân sĩ luyện tập. Các đạo Đông, Tây, Nam, Bắc thay phiên nhau mỗi hai tháng tập hợp về Đông Kinh để rèn luyện. Riêng Hải Tây đạo được thụ huấn ngay tại phủ trấn của mình, và giá trị ngang như được tập luyện ở Đông Kinh. Cũng ngay trong tháng giêng nầy nhà vua ra chiếu chỉ cho cả nước mở nhiều trường học, và cho ân xá tù nhân khắp cả nước.

      Với những cải cách đáng mừng ở ngoài dân chúng như thế, thì ở trong triều có hai tin không vui. Thứ nhất: Vua Lê Thái Tông cấm tất cả quan văn võ không được tiếp xúc với quận vương Lê Tư Tề. Vị quận vương nầy cũng không được tự ý vào triều nếu không có lệnh. Một lý do hết sức mơ hồ là ông có trạng thái tâm thần không bình thường. Số phận đã được định từ thời vua cha, nên quận vương Lê Tư Tề đành thúc thủ trước người em của mình. Điều nầy do nhà vua 11 tuổi tự quyết định. Quả là một thiếu niên phi thường. Thứ hai: Di mệnh đại thần Lê Sát trở nên một người lộng quyền. Ông nầy giết người huynh đệ cùng sống chết từ hội thề Lũng Nhai Lưu Nhân Chú. Sử cũ chỉ nói hết sức đơn sơ về cái chết của đại thần họ Lưu. Theo đó, Lê Sát sợ rằng người đồng liêu nầy chiếm mất quyền lực của mình nên diệt đi. Để tránh hậu hoạn, Lê Sát cách chức người em khác mẹ của Lưu Nhân Chú là Trịnh Khắc Phục. Tương tự, nhập nội thái bảo Trinh Khả bị giáng xuống làm tuyên úy đại sứ ở Lạng Sơn. Cùng thời gian đó, Bạ tịch bắc đạo Bùi Ư Đài bị biếm truất đày đi biên địa.

      Tất cả những việc làm của Lê Sát, vị vua trẻ tuổi đều biết. Ông khôn ngoan trước tuổi. Mười ba tuổi ông biết làm thinh trước sự bất mãn. Nhà vua vẫn từng bước trọng dụng Lê Sát để mọi việc trong nước, và những liên hệ bên ngoài đều tốt đẹp: Với nước Tàu vẫn giữ ngoại giao nhân nhượng bình thường. Chiêm Thành cướp phá Hóa Châu được dẹp yên, và vua nước Chiêm chịu cống nạp. Tù trưởng Ngọc Ma Cầm Qúy khởi loạn, từ sau cái chết của Trần Cảo, cũng được dẹp tan. Xứ Bồn Man của Ai Lao quấy phá ở biên giới Thanh Hoa đã được tảo trừ. Vua Ai Lao phải cho sứ đến cống nạp. Cha và ông của đại thần phụ chính Lê Sát đã được truy phong lên hàng vương.

      Bên cạnh sự khôn ngoan đó, nhà vua trẻ tuổi nầy cũng là người rất sớm “đa tình”. Mười ba tuổi nhà vua đã nạp hai phi tần cùng một lúc. Lê Thị Ngọc Giao ái nữ của đại thần phụ chính Lê Sát, và Lê Nhật Lệ con gái của đại thần Lê Ngân. Có lẽ cả 3 người họ đều nhỏ tuổi nên không thấy họ có con. Điều mà người ta thấy là tình vua tôi cuả nhà vua với hai đại thần Lê Sát và Lê Ngân càng tốt đẹp.  Lúc nầy hình ảnh của những vị khai quốc công thần khác trở nên lu mờ: Phạm Vấn mang tiếng phụ tá số một cho Lê Sát, nhưng ông sống âm thầm và qua đời năm 1435. Nguyễn Xí giữ chức quan từ tụng, không có thực quyền. Lê Văn Linh làm tổng binh di dẹp giặc ở Nghệ An. Đinh Liệt đi làm tướng tiểu trừ giặc cỏ ở Tân Bình, Thuận Hóa. Nguyễn Trãi có khi xin về hưu, có khi được về triều trở lại. Ngoài thì giờ soạn Địa Dư Chí, ông cùng với một vài hoạn quan soạn nhã nhạc cung đình. Chính trong thời gian nhàn nhã nầy ông gặp một người tình nhỏ hơn ông tới 23 tuổi: Nguyễn Thị Lộ. Bà trở thành vợ thứ của họ Nguyễn và được vua Thái Tông vời vào cung giữ chức Lễ nghi học sĩ. Nhìn chung đất nước cũng như triều đình có những ngày thanh bình.

      Tình hình như thế người ta tưởng một trong hai đại thần Lê Sát hoặc Lê Ngân sẽ thành nhạc phụ của nhà vua. Bất ngờ, tháng 6 năm 1437 thì tình hình đảo ngược. Lúc nầy nhà vua sắp tròn 15 tuổi. Ông bất thần ra lịnh bóc hết chức tước của Lê Sát. Mọi thứ đều được chuẩn bị, nhưng vị đại thần phụ chính nầy không hề hay. Ở ngoài có Trịnh Khả, Bùi Ư Đài, ở trong có Nguyễn Xí, Đinh Vĩnh An, Nguyễn Cảnh Tích. An và Tích dâng sớ tâu việc chuyên quyền của Lê Sát, và nhà vua cho cẩm vệ bắt ông giao cho hình quan xét hỏi. Đứng trước nhà vua trước khi bị điệu đi, ông chỉ nói được một câu: “Nếu nay khép tội cho thần tội chuyên quyền, thế là tội của thần đều do tiên đế mà ra cả”. Câu nói của một lòng trung thành không có nhiều tính toán. Hai vị đại thần từ thời tiên vương là Lê Ngân và Lê Văn Linh cùng nhau xin tha tội cho Lê Sát. Không những nhà vua không nghe, mà còn hài tội hai người nầy. Kết quả Lê Văn Linh bị giáng xuống làm quan bộc xạ, Lê Ngân chỉ bị trách lỗi vì nhờ có con gái Lê Nhật Lệ là phi tần.

      Dù hình ty không có bằng chứng cụ thể Lê Sát hãm hại Lê Nhân Chú trước đây, nhưng với lòng hiếu thắng của người trẻ tuổi nắm quyền sinh sát, nhà vua vẫn mạnh tay. Tội lộng quyền của vị quan đầu triều Lê Sát được nhân rộng. Một tháng sau, tháng 7 năm 1437 nhà vua xuống chiếu xử trảm vị di mệnh đại thần nầy, tịch thu gia sản và phế nguyên phi Lê thị Ngọc Dao làm thứ dân. Sau đó án không thay đổi nhưng cái chết được kín đáo hơn: bị ép uống thuốc độc tại nhà. Từ đây nhà vua không cần phụ chính, tự mình quyết định mọi việc. Tháng 12 năm 1437 vua phế phi tần Lê Nhật Lệ xuống làm tư dung. Lý do: Bà nầy đã cùng cha là đô đốc Lê Ngân nhờ thầy phù thuỷ cầu phước tại nhà. Họ bị nghi rằng có điều mờ ám. Tuy rằng không giết hại hết gia đình nầy như gia đình Lê Sát, nhưng bản thân Lê Ngân phải chịu xử chết.

      Tháng 6 năm 1438, nhận thấy quận vương Tư Tề không còn nguy hiểm, nhà vua phế ông thành thường dân và cho ra ngoài thành. Tháng 12 cùng năm, nhà vua nạp phi mới. Bà nầy là nguyên phi họ Dương, và đến tháng 10 năm 1439 cho nhà vua một hoàng nam. Đó là hoàng tử Nghi Dân. Nhà vua rất vui mừng, ra lịnh đại xá cho tù nhân khắp nước. Ba tháng sau tức tháng giêng năm 1440 ông phong Nghi Dân làm thái tử. Cùng lúc đó ông đổi niên hiệu từ Thiệu Bình qua Đại Bảo để đánh dấu một thời kỳ mới. Tất cả những điều nầy làm nguyên phi họ Dương càng yêu thương nhà vua, nhưng sinh ra kiêu căng với triều thần và hậu cung. Nhiều người đương nghĩ bà sẽ là hoàng hậu nay mai, và họ qùy lụy tâng bốc bà. Cái hào quang của nguyên phi họ Dương và thái tử Nghi Dân quá lớn không ai để ý đến một hoàng tử khác ra đời. Đó là Lê Khắc Xương, con của một thứ nhân họ Bùi mà nhà vua không mấy thương yêu. Bà thứ nhân nầy “ở cử” vào tháng giêng năm 1440 dưới sự hờ hững của nhà vua. Điều nầy làm Dương nguyên phi tin rằng chỉ có mẹ con bà được nhà vua yêu thương.

      Thật thế, bà nguyên phi ho Dương đẹp hơn bà thứ nhân họ Bùi nhiều lắm. Bà trở nên kiêu kỳ quá đáng, coi khinh triều thần và hoàng tộc. Dần dần dưới mắt nhà vua, bà không thể trở thành mẫu nghi thiên hạ. Bất thần tháng 6 năm 1440, nhà vua giáng bà nguyên phi họ Dương nầy xuống làm chiêu nghi. Cùng lúc ấy nhà vua lại có thêm hai người đàn bà khác: Thứ nhất, trong một lần về thăm Lam Kinh, ông chọn được một người con gái. Cô nầy tên Nguyễn thị Anh, người làng Bố Vệ. Thứ hai, một gia thần từ tiền triều tiến cử người cháu Ngô Thị Ngọc Dao, người làng Động Bàng cũng thuộc Thanh Hoa. Hai người con gái xuân thì Nguyễn Thị Anh và Ngô Thị Ngọc Giao mau chóng được nhà vua sủng ái. Cô họ Nguyễn được phong là thần phi, Cô họ Ngô được phong làm tiệp dư. Cả hai người họ trực tiếp đi vào đời nhà vua, làm chiêu nghi họ Dương bực bội. Có lẽ nên nhỏ nhẹ để kéo nhà vua về phía mình, nhưng bà Dương đã làm ngược lại. Điều nầy làm vua Thái Tông nổi giận. Tháng 3 năm 1441, nhà vua giáng Dương chiêu nghi thành thường dân và đuổi hai mẹ con ra ngoài cung. Nhà vua bá cáo với triều thần và thiên hạ rằng ngôi thái tử chưa xác định.

      Nhà vua còn quá trẻ, chỉ mới 18 và hai phi tần đương độ tròn trăng, nên việc có hoàng nam khác là một điều rất dễ. Do đó việc bỏ ngỏ ngôi thái tử không phải là mối quan tâm của những người bảo hoàng. Họ tin rằng còn có nhiều hoàng tử khác ra đời. Thật vậy, không lâu, chỉ hai tháng sau ngày Dương chiêu nghi bị phế, thần phi họ Nguyễn sinh được một hoàng nam. Đó là Lê Bang Cơ. Lê Bang Cơ sinh ngày 9 tháng 5 năm 1441 thì đến 6 tháng sau, ngày 16 tháng 11 được phong làm thái tử. Thái tử bị phế Lê Nghi Dân chỉ được phong làm Lạng Sơn vương. Hoàng tử Lê Khắc Xương, con của thứ nhân họ Bùi, được phong làm Tân Bình vương. Hai vị vương tử nầy, một người vừa nhích qua hai tuổi, một người vừa tròn trèm hai tuổi. Mới 18 tuổi, nhà vua đã chính thức có 6 người vợ và 3 cậu con trai.

      Thường xuyên “bận bịu” trong hậu cung, người ta tưởng nhà vua sẽ bỏ bê những công việc khác, nhưng không phải như thế. Vua Lê Thái Tông khuyến khích mọi người trong nước đi học. Tháng 3 năm 1442 ông cho mở khoa thi hội ở Đông Kinh. Nhiều sĩ tử đỗ cao trong kỳ nầy trở thành những nhân tài: Nguyễn Trực, Nguyễn Như Đỗ và Lương Nhữ Hộc và Trần Văn Huy là những vị tiến sĩ có thực tài về sau. Đặc biệt Ngô Sĩ Liên, đậu thấp hơn các vị kia, nhưng là người có công lớn trong việc soạn ĐVSKTT. Sau khi có kết quả của khoa thi, vua Lê Thái Tông cho khắc và dựng bia tiến sĩ, nhưng mọi việc chưa xong thì có biến.

      Ngày 27 tháng 7 năm 1442, nhà vua đi duyệt binh ở Chí Linh và mãi mãi không về. Ông thất hứa phong vương vị cho cậu con trai út vừa ra đời cách đó một tuần. Đó là hoàng tử Lê Tư Thành con của tiệp dư Ngô Thị Ngọc Giao.

      Theo ĐVSKTT, ngày 27 tháng 7 năm 1442, nhà vua và đoàn tuỳ tùng xa giá đi về đông đạo duyệt binh ở Chí Linh. Chuyến đi nầy có bà Nguyễn Thị Lộ hiện đang là Lễ Nghi Học Sĩ đi theo trong đám tùy tùng. Lúc này Nguyễn Trãi và người chánh thiếp đang an trí tại Chí Linh. Họ Nguyễn lo chu đáo cho nhà vua ngự ở chùa Côn Sơn trong mấy ngày tuần du ở đông đạo. Đó quả là những ngày tốt đẹp, và sáng sớm ngày 4 tháng 8 vua Lê Thái Tông hồi loan. Trong đêm nầy nhà vua và đoàn tùy tùng nghỉ đêm tại một trang viên bên bờ sông Đuống thuộc huyện Gia Định. Đây là hành cung thời các vua Trần ngày xưa, và đã thành viên trang thời nhà Lê. Vì trồng rất nhiều cây vải ở đây nên người ta gọi trang viên nầy là Lệ Chi viên. Trong đêm nghỉ lại ấy nhà vua lên cơn sốt nhanh chóng rồi đột tử. Cái chết đột ngột nầy đã có rất nhiều nghi vấn. Triều đình cho rằng Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ giết nhà vua. Họ nói bà cùng chồng Nguyễn Trãi đã âm mưu. Lập tức hai người nầy bị bắt giam. Sau khi an táng vua Thái Tông, ngày 12 tháng 8, thái tử Bang Cơ 2 tuổi lên ngôi vua tức vua Nhân Tông. Bà mẹ, nguyên phi Nguyễn Thị Anh, được phong làm Tuyên Từ hoàng thái hậu và trực tiếp điều hành đất nước.

      Thái hậu Tuyên Từ đặt niên hiệu cho nhà vua là Thái Hòa, và việc đầu tiên là tra cứu ai đã mưu sát vua Thái Tông. Chỉ 4 ngày sau triều đình tìm ra “đích thị thủ phạm”, không ai khác hơn là nghi can Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ. Họ bị giết ngay và ra lịnh tru di tam tộc nhà họ Nguyễn. Đó là ngày 16 của tháng 8 năm 1442. Nếu những cái chết của Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo, Lê Tư Tề, Lê Sát, Lê Ngân được che phủ bởi một màn sương mỏng, thì nguyên nhân cái chết của đại công thần Nguyễn Trãi như một lớp sương muối dày đặc phủ lên. Cả ngàn sau chưa ai có thể vén được lên minh bạch, nó vẫn mãi mãi làm nao lòng nhiều thế hệ.  Nhưng, lịch sử rồi phải qua. Mọi thứ đều lui về quá khứ. Triều đại Lê Nhân Tông bắt đầu.

Lê Tư Tề tang cha: con trưởng
Nhưng tang vua chỉ nghĩa: quận vương
Tôn em ngôi vị ngôi thiên tử
Tang trắng song mang nỗi đoạn trường

Lê Nguyên Long mùa thu tháng chín (1433)
Tức vị vương miếu hiệu Thái Tông
Từ khi an định trên phế lập
Có tránh đau thương được máu hồng?

Mười một tuổi thần đồng trị quốc
Chín năm dài mấy cuộc bể dâu
Không chinh chiến mà muôn thay đổi
Đổi vinh hoa đổi những công hầu

Xuân thứ nhất sau ngày nguyên đán
Từng đạo binh rèn luyện kiếm cung
Đông Kinh qui tụ miền đất bắc
Các xứ miền nam tụ mỗi vùng

Cùng lúc ấy nâng cao văn học
Giấc kinh bang độ tuổi còn non
Tiếc rằng tâm lượng không hề nhỏ
Mà nghĩa đệ huynh lại chẳng tròn

Lê Tư Tề quận vương huynh trưởng
Ở nơi nao số phận ra sao
Lệnh rằng: cấm tuyệt ai lui tới
Mà cũng không cho tự đến trào

Không đao kiếm mà nghe đứt đoạn
Ở cấm cung biệt lập như tù
Bao năm giam lỏng cười điên dại
Chuyện đời hồ dễ gạt thiên thu

Lưu Nhân Chú một oan lòng khác
Á thượng hầu không trách Thái Tông
Chỉ rằng Lê Sát quan phụ chính
Diệt mất đệ huynh chỉ bất đồng

Giết Nhân Chú trù Lê Khắc Phục
Biếm Ư Đài không nể ấu vương
Trăm năm cũng chỉ trung nhà chúa
Nào hay đâu số phận cùng đường

Quan Lê Sát, Lũng Nhai thuở trước
Được tiên vương di mệnh hôm qua
Công thần, chữ ấy trêu danh tướng
Chén thuốc ai đưa đến tận nhà

Ai đã giết đại quan phụ chính
Ai cầm chân huynh trưởng trong tay
So ra vua nhỏ không hề nhỏ
Tuổi chửa thành niên mấy kẻ tày

Nay triều chính tự mình lèo lái
Truất Ngọc Giao giáng cấp Lệ phi
Lập con trai trưởng ngôi thái tử
Vì mẹ vương phi được chuộng vì

Ỷ được trọng Dương phi tự mãn
Hệ lụy nầy bị giáng chiêu nghi
Treo luôn ngôi vị ngôi thái tử
Ai biết mai kia những chuyện gì

Từ buổi ấy hậu cung mấy ngả
Bà họ Bùi tự thủy vô tranh
Khắc Xương hoàng tử tâm như mẹ
Dạ thơ ngây từ bé thiện lành

Bà Thị Anh là người họ Nguyễn
Sinh Bang Cơ mấy độ tròn trăng?
Nhỏ hơn huynh trưởng đôi mùa lá
Mà để Nghi Dân một vết hằn

Theo chiếu chỉ Bang Cơ hoàng tử
Phận là em mà nét tinh khôi
Hài nhi hai tuổi thành thái tử
An định trừ quân thế đã rồi

Sinh Bang Cơ mùa hè năm trước
Mùa thu sau lại có Tư Thành
Lê Sơ tự thủy nhiều hệ lụy
Trăm năm lần sử chỉ mờ xanh

Sử không viết Sĩ Liên không viết
Nhặt dấu xưa trong đống sương mù
Oan khiên từng vạt treo sương giá
Vô tiền khoáng hậu cả nghìn thu

Ngôi thái tử Nghi Dân mùa cũ
Lạng Sơn vương vương vị từ đây
Khắc Xương một phận như anh cả
Tân Bình vương hiu hắt phận nầy

Người con út Tư Thành hoàng tử
Chưa định danh đã sét ngang tai
Lệ Chi vườn vải mùa thu cuối
Máu lệ nào rơi đến tuyền đài?


<<  |  >>