Skip to content

Chương 19/1

NHÀ LÊ SƠ
(1428-1527)

Đoạn một

LÊ THÁI TỔ KHAI SINH TRIỀU LÊ

 

      Theo hiệp ước hội thề Đông Quan, thì ngày 12 tháng 12 năm đinh mùi quân Minh bắt đầu rút quân. Chỉ còn 18 ngày nữa đến tết nguyên đán mậu thân 1428. Đông Quan vô cùng rộn rịp. Dưới cái nắng mật vàng của những ngày nắng đông, dân chúng háo hức trở lại môt cái tết Thăng Long xưa. Nhà nhà đều đón mừng hòa bình, nhà nhà đều đón mừng tự chủ. Dõng dạc đâu đó, những người sính đọc hùng ca đọc từng đoạn thiên cổ hùng văn Bình Ngô Đại Cáo. Nguyễn Trãi đã viết thay Lê vương từ ngày đầu tiên quân đội nhà Minh rời Đại Việt.

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo…
…………………………………..

Một cỗ nhung y chiến thắng
Nên công oanh liệt ngàn năm
Bốn phương biển cả thanh bình
Ban chiếu duy tân khắp chốn.

      Trong niềm vui tưởng như tràn ngập nầy, thì ở hai nơi có hai nỗi buồn không quên được. Thứ nhất: Ở dinh Bồ Đề, Bình Định vương ngẫm nghĩ về mặt trái của hội thề Đông Quan. Hiệp ước mà ông ký kết nhìn như có vẻ thắng thế, nhưng là thắng thế của kẻ yếu. Bình Định vương đã cân nhắc và đành chấp nhận để có hòa bình. Theo đó nước ta phải cấp phương tiện và lương thực cho đoàn quân xâm lăng về nước, giao lại tất cả vũ khí và tù hàng binh đã bắt được. Cũng theo đó thì nước ta phải coi nhà Minh là một thiên quốc như dưới thời Hồng Vũ Chu Nguyên Chương. Dù đã thắng lớn, nhưng binh lực và kinh tế so ra quá nhỏ so với nhà Minh lúc bấy giờ, nước ta đành chấp nhận. Thắng mà chấp nhận điều kiện của bên thua. Đó là nỗi buồn im lặng mà vua Lê Lợi và Nguyễn Trãi là hai người chịu đựng đầu tiên. Thứ hai: Ở Vũ Ninh, An Nam quốc vương Trần Cảo có một nỗi buồn khác. Ông đủ tỉnh tảo để biết cái nguy hiểm đương cận kề với mình. Khi triều đình nhà Lê buộc được quân Minh về nước thì thân phận ông sẽ ra sao? Quân dân mọi nơi đều chấp nhận Lê Lợi là một quân chủ thực quyền. Một nước không thể có hai vua. Trong một đêm trăng hạ huyền tháng chạp Trần Cảo giả dạng thường dân ra đi. Ông được một người thân tín tên Văn Nhuệ đưa lọt qua các cửa ngõ Đông Quan về tới Ninh Kiều. Tại đây, họ xuôi dòng sông Đáy về trở lại Ngọc Ma, nhưng không thành công.  Đơn vị phòng thủ vòng đai thành Cổ Lộng phát hiện ra ông và bắt giải trở lại Đông Quan. Nguyên nhân cái chết của vị An nam quốc vương họ Trần thì đã rõ ràng, nhưng ông chết ở đâu và thật sự nhân thân thế nào thì có nhiều nguồn khác nhau. Theo sử thần Ngô Sĩ Liên thì ông chỉ là một người vô danh tên Hồ Ông ở Nghệ An, và bị chết trong trường hợp:“Các quan dâng sớ xin trừ Trần Cảo vì xét ra ông ta không có công trạng gì. Vua cũng biết vậy nhưng trong lòng không nỡ nên đối xử càng hậu. Cảo biết người trong nước không phục mình nên trốn về Ngọc Ma. Đến Ma cảng quan quân đuổi bắt được giải về Đông Quan và Cảo bị ép uống thuốc độc tự sát.” Thật khó trách một vị vua từng chịu đựng gian nan như Bình Định vương Lê Lợi, nhưng cũng ngậm ngùi cho vị quốc vương họ Trần có niên hiệu Thiên Khánh nầy.

      Bằng cách nào thì Trần Cảo cũng đã chết và mau chóng đi vào quên lãng. Lê dân đang mừng đón một triều đại mới. Tháng 2 năm 1428, Lê Lợi chưa đăng quang vẫn còn ở dinh Bồ Đề, nhưng ông đủ uy quyền của một vị hoàng đế. Ông ban thưởng và thăng cấp tất cả chư tướng mà trước đây đã có chức vị nhưng chưa chính thức. Nguyễn Trãi: tước quan phục hầu, chức Nhập nội hành khiển. Đại hoàng tử Lê Tư Tề: tước quận vương, chức Hữu tướng quốc. Trần Nguyên Hãn: Bình chương quân quốc trọng sự tả tướng quốc. Phạm Văn Xão: Thái bảo. Phạm Vấn: Bình chương kiểm hiệu. Lưu Nhân Chú: Bình chương tư không. Lê Sát: Bình chương tư khấu. Lê Ngân: Tư mã, Lê Lý: Tư mã…và vị hoàng tử 5 tuổi Lê Nguyên Long: Lương quận công. Ngày 15 tháng 4 năm 1428, vua dời hành dinh về trong hoàng thành và đăng quang vương vị. Nhà vua đặt niên hiệu Thuận Thiên và chính thức xóa tên nước “quận Giao Chỉ”. Ông lấy lại tên Đại Việt có từ thời vua Lý Thánh Tông, và đặt thủ đô ở Đông Quan và được đổi thành Đông Kinh. Cung điện nhà Trần được tu bổ. Điện Kính Thiên, Vạn Thọ, Thị Triều được xây sau khi xóa bỏ tàn tích dinh tổng quản và tam ty ở cấm thành. Vẫn giữ 4 đạo ở miền bắc như cũ, và đặt thêm đạo thứ 5. Đạo nầy có tên Hải Tây gồm Thanh Hoa, Nghệ An, Tân Bình và Thuận Hóa. Việc kế tiếp là giảm binh bị, quân bình đất đai. Trong thời chiến tranh, kể cả dân quân có lúc đã lên tới 25 vạn, không có người lo việc nông tang, nay giảm xuống còn 10 vạn.

      Trên đường cải cách tốt đẹp như thế thì vẫn có những mầm loạn xảy ra. Ở Mường Lễ, biên giới tây bắc và Lào, Đèo Cát Hãn không phục. Ở Thái Nguyên, Bế Khắc Thiên và Nông Đắc Thái khởi loạn. Ngay ở Đông Kinh bọn Lương Nhữ Hốt và Trần Phong lại manh tâm kết nối với nhà Minh. Nhưng điều làm vua Lê đau đầu nhất, không phải là những cuộc nổi loạn nầy mà là từ triều đình nhà Minh. Yên Kinh cứ liên tục sai sứ buộc phải tìm con cháu nhà Trần lên thay Trần Cảo đã chết. Điều nầy có nghĩa là không công nhận triều Lê. Đây là âm mưu gây rối loạn và muốn tăng cao cống nạp, nhưng vua Lê vẫn chưa có cách giải quyết thích đáng. Nhà vua biết phải đưa đất nước hùng mạnh thì mới giải quyết được áp lực nầy, nhưng chưa làm được. Nhiều sắc chỉ mang tính trịch thượng, nhưng nhà vua phải nhân nhượng. Ở bản kỷ toàn thư quyển 10 b, sử thần Ngô Sĩ Liên đã chép rải rác nhiều đoạn, và có hai đoạn xảy ra năm 1428. Đoạn thứ nhất: “Tháng 3 năm nay (1428) Lê Thiếu Dĩnh đến Yên Kinh dâng biểu. Đến đây trở về, vua Minh ban cho Dĩnh áo vóc hoa, tiền giấy và có sắc dụ cho nước ta, đại ý nói: lập con cháu nhà Trần là việc rất quan trọng, phải hợp với lòng người trong nước, không được tự động chuyên quyền, phải cùng với các bô lão trình bày sự về người cháu đích tôn cũ họ Trần (Trần Cảo) tâu lên để làm bằng cớ mà ban chiếu sắc phong. Số người và chiến khí còn bị giữ lại cũng đưa trả về hết”. Đoạn thứ hai: “Tháng 8 ngày 21(1428), nhà Minh sai bọn La Nhữ Kính, Từ Vĩnh Đạt mang sắc thư với chiếu dụ cho vua rằng họ Trần nhiều đời vẫn được lòng người, bảo vua phải dò tìm cho được con cháu họ Trần tâu lên để ban cho mệnh lệnh nối dòng đã tuyệt. Lại bảo rằng do các đầu mục bô lão chưa hỏi khắp, có thể vẫn còn người chưa dám nói ra”.

Áp lực nầy đã đưa đến lý do phải giết Trần Nguyên Hãn.

      Đầu tháng giêng năm 1429, Trần Nguyên Hãn xin cáo lão từ quan dù lúc ấy ông chỉ mới nhích hơn 40 tuổi. Đang là Tả tướng quốc với nhiều bổng lộc và quyền uy, nhưng trước áp lực của nhà Minh, vị tướng họ Trần đã làm như thế. Hành động nầy để tránh cho vua Lê khó xử. Ông về an trí ở Sơn Đông, Lập Thạch (tây bắc Vĩnh Phúc). Tuy thế, mọi điều đã không trôi chảy như ông muốn. Về cố hương, vị cựu tướng họ Trần bị vu cáo xây phủ đệ nguy nga, mua voi chiến và đóng thuyền lớn để sẵn sàng động binh. Vua Lê cho lịnh bắt ông chỉ sau hai tháng về nhà. Khi lên thuyền ở bến Sơn Đông để về Đông Quan, thì ông bị chết. Nước sông Lô không nói ông tự trầm mình hay bằng cách nào mà ông chết, nhưng ông qua đời trên dòng sông nầy là sự thật. Dòng nước vẫn lặng lờ trôi về Bạch Hạc như tự ngàn xưa. Trần Nguyên Hãn chết chỉ vì ông là hậu duệ của vương thất họ Trần, và sức ép của nhà Minh lên vua Lê. Nếu vắng mặt một trong hai yếu tố đó thì không có việc đáng tiếc xảy ra. Thực tế Trần Nguyên Hãn không có voi chiến, không có nhà to thuyền lớn, và vua Lê Thái Tổ cũng không muốn hại ông. Chỉ tiếc ông không đi sâu vào rừng già để biệt tích. Âu cũng là một cái chết vì quyền lực và áp lực đáng suy gẫm. Cái chết của vi cựu tả tướng họ Trần chìm vào hoài nghi trong lòng chư tướng.

      Bên cạnh lòng hoài nghi nầy, vua Lê lại gieo một niềm hoài nghi khác cho chính người con trai trưởng của mình. Cùng trong tháng giêng năm 1429 ấy, nhà vua lập Lê Tư Tề làm quốc vương và người con thứ Lê Nguyên Long làm thái tử. Điều nầy không có nghĩa là ông phế Tư Tề và truyền ngôi cho Nguyên Long. Tuy nhiên làm sao không gợi lên trong lòng người con trai trưởng một niềm hoang mang. Trong một tờ chiếu, ông chỉ ra cách thức truyền ngôi mới. Đại Việt Thông Sử của Lê Quí Đôn đã viết: “Như Tư Tề hiện đã lớn tuổi vào hàng thành nhân. Tuy liệu việc chưa được kín đáo tinh vi cho lắm, nhưng mắt thấy tai nghe cũng đã từng trải qua nhiều việc. Hãy cho tạm coi việc nước để giúp đỡ trẫm. Nguyên Long tính tuy minh mẫn, nhưng tuổi còn non, hãy nuôi dưỡng dự trữ nơi chốn thanh cung chờ ngày đức tính đầy đủ. Khi nào Tư Tề lên ngôi chấp chánh, thì lúc ấy Nguyên Long lại coi việc nước việc quân. Đó là việc làm của Triệu Tống xưa*. Con cháu đời sau cũng nên theo nghĩa truyền ngôi như vầy mãi mãi. Sau đây, hoặc kẻ nào không nghe lời trẫm, bàn luận trái lại, viện dẫn lời chê Triệu Phổ nhầm lẫn** để thay đổi phép nhất định trong tờ chiếu nầy, thì kẻ ấy chỉ là phường siểm nịnh, chực đem mưu gian để tính kế sẽ được như Vương Mãng và Tào Tháo chứ không phải tận trung với nước, pháp luật tất không tha. Nay ban tờ chiếu nầy cho quần thần văn võ để được biết ý nghĩa truyền ngôi đã định và giải điểm nghi hoặc và bàn luận bất nhất, các ngươi đều nên hiểu rõ.”

      Chẳng những Tư Tề hoang mang mà chư tướng cũng thế. Chức quốc vương ở đây chỉ là một chức đệm dư thừa, mà ngôi vị thái tử mới là quan trọng. Đâu đó họ thấy có sự thiên vị, nhưng không ai nói ra. Theo cách truyền ngôi trong chiếu chỉ nầy thì cha truyền ngôi cho con trưởng, người con nầy sẽ truyền ngôi cho em. Theo đó thì chức thái tử phải dành cho Tư Tề, và khi nào Tư Tề lên làm vua thì dành chức thái tử cho Nguyên Long. Việc đặt trước chức thái tử như một việc chọn sẵn, nhiều người đã thấy có sự gập ghềnh.

      Phải chăng trong triều có nhiều người dành lòng trắc ẩn cho vị đại hoàng tử? Lòng trắc ẩn nầy đã biến thành một luồng phản đối ngấm ngầm mà đại thần Phạm Văn Xảo là người lãnh đạo?  Điều nầy buộc vua Lê phải diệt Phạm Văn Xảo? Tháng 11 năm 1430, sau gần hai năm hoang mang như thế, vua Lê cho bắt cả nhà họ Phạm, và Phạm Văn Xảo bị giết sau đó. Cái chết của vị thái úy họ Phạm có gốc lộ Kinh nầy như mãi mãi núp dưới một màng sương. Tướng Xảo đã theo vua Lê từ những ngày đầu khởi nghĩa, chỉ sau những người có dự hội thề Lũng Nhai. Ông đã tận sức với vua Lê trong những lúc gian khổ Thanh Hoa, Nghệ An. Ông đã lần lược chiến thắng Vương An Lão và Mộc Thạnh, đưa một phần tây bắc bình an về cho vua Lê. Trong kỳ định phẩm tháng 5 năm năm 1429, ông được đứng vào hàng đại công thần khai quốc. Ông cũng không phải họ Trần để mà liên lụy. Lần tìm cái chết của Phạm Văn Xảo cũng đi vào bế tắc như nhiều án tích khác trong lịch sử.

      Sau khi Phạm Văn Xảo chết mọi việc vẫn trôi chảy bình thường: Tháng 2 năm 1431, nhà vua thân chinh đi dẹp loạn ở Thái Nguyên. Bế Khắc Thiên bị giết, Nông Đắc Thái bị bắt. Loạn quân miền trung du phía bắc nầy sau 3 năm quấy phá vĩnh viễn bị tiêu diệt. Tháng 3 năm 1431 mở khoa thi hoành từ. Nguyễn Thiên Tích và Phan Phu Tiên đã trúng tuyển. Đây là hai vị tân khoa đầu tiên kể từ ngày bọn giặc Minh đốt hết sách vở. Tháng 11, chánh phó sứ Nguyễn Nhữ Lãm và Nguyễn Văn Huyền với phẩm vật hậu hỉ qua Yên Kinh tạ ơn vua Minh đã sắc phong công nhận vua Lê. Đầu tháng 12 vua sai “quốc vương” Lê Tư Tề, tư khấu Lê Sát đi đánh giặc Đèo Cát Hãn ở Mường Lễ. Cuộc chiến kéo dài đến cuối tháng 1 năm 1432 vẫn chưa xong, nhà vua phải đích thân đi chinh phạt. Đèo Cát Hãn và các tùy tướng của ông ta không chống nổi. Sau gần một tháng kịch chiến, họ Đèo phải kéo tàn quân chạy qua Ai Lao. Vua đổi tên châu Mường Lễ thành châu Phục Lễ và thành lập lực lượng trú phòng ở đây. Tháng 11 năm 1432 cha con họ Đèo phải ra hàng. Chấm dứt vùng biên cương “tự trị” của người Thái trắng vốn phát sinh từ thời Trần suy của 40 năm trước.

      Dẹp được giặc cỏ, thân thiện được với nhà Minh, bình được vùng tự trị, đất nước có cơ hội phát triển đến tự chủ. Đây là lúc vui mừng nhất của vua Lê có được từ lúc khởi nghĩa. Tháng 8 năm 1433, vua vào thăm lăng mộ tổ tiên ở Lam Kinh, Lam Sơn. Sau chuyến đi nầy vua phế Lê Tư Tề từ quốc vương xuống làm quận vương, và cho thái tử Nguyên Long mới 11 tuổi trông coi việc nước. Chắc trong lời khấn cáo, thế nào nhà vua cũng thưa trình lý do phế lập với tổ tiên, vì đây là một điều vô cùng trọng đại với dòng họ Lê. Việc đặt quốc vương và thái tử năm 1429 đến việc phế lập năm 1433 nầy dường như có điều liên quan? Vua Lê đã chủ ý truyền ngôi cho Nguyên Long từ năm 1429? Lý do vua Lê phế Tư Tề lại thêm một màng sương phủ bí ẩn. Các sử gia của ĐVSKTT chỉ ghi biên niên xảy ra sự việc, tuy nhiên, Đại Việt Thông Sử của học giả Lê Qúy Đôn có ghi lời chiếu của vua Lê vào đầu tháng 8 năm 1433 như sau: “ Làm tôi phải trung, làm con phải hiếu, thế mà con trẫm là Tư Tề không trung hiếu với cha mẹ, ngược đãi quần thần, khinh nhờn trời đất, không theo đạo của các đấng tiên vương. Nay giáng Tư Tề xuống chức quận vương. Vậy bố cáo thiên hạ.”***

Điều xác lập trưởng tử Lê Tư Tề không được truyền ngôi, đồng nghĩa với việc thái tử Lê Nguyên Long sẽ làm vua. Thật vậy, ngày 22 tháng 8 năm 1433 vua Lê Lợi băng hà thì mươi lăm ngày sau thái tử Lê Nguyên Long lên ngôi, chính xác là ngày 8 tháng 9 năm 1433. Đại tư đồ Lê Sát, Nhập nội kiểm hiệu Phạm Vấn, Nhập nội kiểm hiệu Lưu Nhân Chú, Nhập nội tư mã Lê Ngân đã chuẩn bị từ trước. Họ chọn giờ lành long trọng làm lễ đăng quang cho vị thái tử 11 tuổi. Triều đại Lê Thái Tông bắt đầu.

Vương Lê Lợi đồng lòng ký kết
Vết trăm năm ngàn cũ tục dung
“An Nam quốc trưởng” đành như thế
Nghĩa tự do vốn cũng vô cùng

Cuộc chinh chiến mỏi mòn kết thúc
Quân nhà Minh thủy bộ quay về
Niềm vui nao lên phố lên quê
Cả đất đá cỏ cây hóa mật

Dù đất Việt trả về người Việt
Dấu lo toan ngàn dặm chưa xong
Đan xen một nỗi buồn nước nhỏ
Nghe đăm đăm vết sướt trong lòng

Lệ Hồng Vũ ít trong nhiều đục
Nên ngẫm lòng mấy nỗi xanh xao
Mười năm nếm mật lòng không sá
Mà phải thu gươm kiệm máu đào

Rồi Trần Cảo chết trong trăn trở
Người bao dung mà thế chẳng dung
Giá chi tên lính là tên lính
Thì Hồ Ông đâu đến đường cùng

Cành lá động trăng tà hiu hắt
Đêm hạ huyền mờ tỏ mây bay
Ai đi trong gió về Cổ Lộng
Thuyền nước nơi nao bỏ cuộc này

Nay đất cũ bắc nam năm đạo
Ngày bình yên qua suốt xuân đông
Giảm binh bị cho mùa lúa mới
Ánh reo vui mắt thắm trên đồng

Quận Giao Chỉ đã không còn nữa
Tên gọi xưa trả lại Văn Lang
Viết tên Đại Việt từ vua Lý
Non nước muôn năm nắng rợp vàng

Từ Thuận Hóa đi ra xứ Lạng
Đâu làng quê đâu những thị thành
Có quan hành khiển trông mỗi xứ
Yên bình xa tắp một màu xanh

Nhưng rất tiếc mấy lần phụ rẩy
Nghĩa vua tôi thần tử cha con
Ngàn năm vết cắt trong sương ấy
Mờ mịt nghi xưa cứ vẫn còn

Khói phủ sóng trên dòng lịch sử
Giết tướng Trần nào rõ thực hư
Sơn Đông chảy miết về Bạch Hạc
Dòng nước muôn năm cứ đục lừ

Giết Nguyên Hãn vì là Trần Hãn
Vì nhà Minh cứ buộc điêu ngoa
Giá mà không đứng bên thềm ấy
Thái Tổ mừng vui huống lộ là

Khói còn phủ mờ xa phủ đệ
Đưa Tư Tề lên tới quốc vương
Chức danh chưa có từ muôn trước
Có phải lòng nhen một lối đường?

Dưới quốc vương có chàng thái tử
Lê Nguyên Long con thứ vua Lê
Đã lòng muốn chọn ngôi vương vị
Thì vẽ làm chi Triệu Tống hề?

Khói còn đến một người khai quốc
Huyện thượng hầu Phạm Xảo lộ Kinh
Mờ trông sương phủ muôn năm phủ
Gác kiếm thôi cung đã phụ tình?

Diệt Phạm Xảo mùa đông canh tuất (1430)
Đầu năm sau thắng trận Thái Nguyên
Hoành Từ năm ấy khoa thi tuyển
Thiên Tích, Phu Tiên phỉ chí nguyền

Cuối tân hợi Tư Tề xuất trận (1431)
Lệnh diệt thù Ninh Viễn biên cương
Ai Lao núi thẳm về Việt Bắc
Chiến trận lê thê giặc Thái Mường

Được tin báo vua Lê xuất trận
Giữa mùa xuân nhâm tí hoan ca (1432)
Biên thùy cát cứ đành quy thuận
Ba mươi năm trở lại một nhà

Thế là thế mà vua suy yếu
Mùa thu sau vua đến Lam Kinh (qúy sửu 1433)
Khấn nguyền tiên tổ điều họa phước
Con trưởng làm chi đến tội tình?

Khinh hay trọng đôi đàng đã rõ
Cũng thu nầy thái tử lên vương
Trăng thu hai ngã chia hai lối
Riêng một niềm đau một lối đường

___________________________________________

* Chuyện bên Tàu: Triệu Khuông Dẫn tức Tống Thái Tổ, vốn là tướng của nhà Hậu Chu.  Ông là người mưu lược đã cướp ngôi vua Hậu Chu Cung Đế để lập nên nhà Tống năm 960. Là vị vua khai quốc từng chinh chiến và diệt nhiều cát cứ Thập Quốc, nhưng  đặc biệt nhà vua nầy rất có hiếu với mẹ. Do vậy tiếng nói của mẹ ông, bà Đỗ thái hậu, rất có trọng lượng trong triều đình. Bà thái hậu nầy muốn hoàng đế Triệu Khuông Dẫn sau nầy truyền ngôi cho em trai thay vì cho con trai. Và, cứ thế mà tiếp tục cho đến người em trai út, xong trở lại đứa con trai. Đây là cách truyền ngôi kiểu mới mà bà muốn các vua nhà Tống về sau làm theo.

      Cách truyền ngôi nầy không chuẩn, dễ gây tương tàn về sau, nên khó ai giữ được. Ngay đời vua thứ hai Triệu Khuông Nghĩa của nhà Tống đã không tuân theo. Năm 997 ông truyền ngôi cho con là Triệu Nguyên Khản thay vì cho em là Triệu Đình Mỹ. Dĩ nhiên điều nầy vua Lê Lợi biết, tại sao quyết ông định làm theo? Phải chăng ông đã thiên vị đứa con út Lê Nguyên Long, nhưng không nỡ bỏ đứa con trưởng Lê Tư Tề nên đã chọn cách truyền ngôi nầy?

** Lời chê Triệu Phổ được học giả Lê Qúi Đôn đã chú giải trong Đại việt Thông Sử: “Khi Đỗ thái hậu nhà Tống bệnh nặng, vời Triệu Phổ vào nhận di mệnh, dặn vua Tống Thái Tổ phải truyền ngôi cho em trai là Quang Nghĩa, bảo Triệu Phổ ghi nhớ điều đó. Triệu Phổ xin tuân mệnh, bèn lập tờ ước thệ, rồi ký tên vào. Việc nầy Trịnh Bá Kiền chê Triệu Phổ không biết giảng giải can ngăn, đến nỗi về sau sinh loạn. Như vậy không phải là đại thần kinh quốc”

***Cái chết của tướng Trần Nguyên Hãn và cái chết của tướng Phạm Văn Xảo, người đời sau còn thỉnh thoảng nhắc đến như một sự minh oan. Riêng cái oan của trưởng tử quốc vương Lê Tư Tề thì không được điều đó, thậm chí chúng ta quên bẵng ông. Kết cuộc của ông thế nào thì vua Lê Thái Tông sẽ dành cho ông ở đoạn sau, bây giờ chỉ thử đi qua lời chiếu chỉ của vua Lê Lợi qua Đại Việt Thông Sử của Lê Qúy Đôn:

“Làm tôi phải trung, làm con phải hiếu, thế mà Tư Tề con của trẫm không trung hiếu với cha mẹ, ngược đãi quần thần, khinh nhờn trời đất, không theo đạo của các đấng tiên vương. Nay giáng Tư Tề xuống chức quận vương. Nay bố cáo thiên hạ.”

     Thực sự có lời chiếu nầy hay không? Nếu có, tại sao Đồng tu sử quan Phan Phu Tiên viết Đại Việt Sử Ký dưới thời vua Lê Nhân Tông không nêu ra. Nếu có, tại sao quan Ngự sử Ngô Sĩ Liên viết ĐVSKTT dưới thời vua Lê Thánh Tông cũng không nhắc tới. Hai vị sử gia nầy chỉ ghi biên niên mà không nói lý do. Đó là một “khoảng trống” của lịch sử. Đến hơn 300 năm sau, cụ Lê Qúy Đôn muốn lấp “khoảng trống” nầy mới viết những lý do nêu trên, chứ thực sự Lê Tư Tề đã không xấu như thế. Lê Tư Tề luôn theo cha chinh chiến từ Thanh Hoa, Nghệ An rồi ra bắc. Ông đã từng làm con tin của Vương Thông trong hội thề Đông Quan năm 1428. Ông đã tuân lệnh vua cha cùng quan Tư khấu Lê Sát đi đánh dẹp Đèo Cát Hãn trong một mùa đông năm 1431 ở biên cương giáp Lào…

     Lòng thiên vị của vua Lê Lợi có từ năm 1429 khi phong con trưởng Tư Tề làm quốc vương, và con thứ Nguyên Long làm thái tử. Theo đó, ngôi vua sẽ được truyền cho Tư Tề, và chức thái tử của Nguyên Long như một cách “xí chỗ”. Đến năm 1433 nhà vua mới 48 tuổi, nhưng sức khoẻ đã yếu nên thay đổi quyết định. Ông sợ rằng sau khi mình chết, Tư Tề sẽ không tuân theo chiếu chỉ, nên đã phế chức quốc vương để chỉ còn một ngôi thái tử của Nguyên Long như chúng ta đã biết. Âu đó cũng là một tính toán sai lầm từ lòng thiên vị. Nếu vua Lê Lợi chọn Lê Tư Tề làm vua thì chắn chắn sẽ không có vụ án Lệ Chi Viên ở 9 năm sau. Rất tiếc lịch sử đã đi qua như thế.


<<  |  >>