Skip to content

Chương 18/2

LAM SƠN KHỞI NGHĨA
(1417 – 1428)

Đoạn hai

TÁI CHIẾM MIỀN BẮC

 

      Đâu đó trên những phiến lá khô, người ta đọc được hàng chữ: “Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần”. Hư thực thế nào thì không ai để ý, nhưng ảnh hưởng của nó rất lớn. Người ta tin là điềm ứng thiên mệnh.  Khi Bình Định vương quyết định bắc tiến, thì dân quân các nơi ùn ùn kéo theo. Đó là một ngày đầu thu năm bính ngọ 1426. Lê vương để Trần Nguyên Hãn, Lê Khôi tiếp tục bình định hai phủ phía nam. Nguyễn Chích, Lê Tư Tề, Lê Văn An vẫn ở lại thành Diễn Châu tiếp tục củng cố Nghệ An. Đại quân các lộ tiến về Thanh Hoa, và Bình Định vương đặt hành dinh tại Lỗi Giang.

     Lúc nầy Lê vương được tin hơn một vạn quân Minh từ biên giới tây bắc trên đường tiếp viện Đông Quan. Dưới sự chỉ huy của Vương An Lão, chúng đã tràn qua Quy Hóa (nam Lào Cai), và đang tiến về Gia Hưng (Phú Phọ). Điều nầy chỉ làm thay đổi kế hoạch bắc tiến, chứ không hề ngừng lại.  Dưới quyền chỉ huy của Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả, Lê Bí, Trịnh Khắc Phục, 10 ngàn quân về Gia Hưng. Họ băng qua miền trung du dọc theo hạ nguồn sông Đà đến Hưng Hóa thì gặp địch. Quân của Vương An Lão không rành địa thế ở khúc sông Thao uốn cong về Bạch Hạc nên bị sa lầy. Tướng Phạm Văn Xảo nhử chúng đến hành lang chạy về cầu Xa Lộc. Đó là một vùng mà một bên là phù sa sình lầy. Quân họ Vương hiện ra lồ lộ giữa đường cái quan đang bị phục kích. Cả ngàn quân địch chết trong đợt nầy, nhưng Vương An Lão may mắn dẫn bại binh chạy về thành Tam Giang.

      Cùng lúc đó ở sát bên thềm Đông Quan, một cánh quân thiện chiến của Lam Sơn đã có mặt. Chỉ hơn một ngàn quân dưới sự chỉ huy của Đinh Lễ và Nguyễn Xí, họ đột nhập kinh thành. Trong lúc bất ngờ của một ngày chưa sáng, họ đột kích ba cứ điểm Nhân Mộc, Cổ Lãm và Đỗ Động. Cuộc chiến không kéo dài, và hai bên không đủ sức tiêu diệt nhau. Đinh Lễ chỉ bắt được Đô ty Vi Lượng rồi thu quân về Ninh Giang (một đoạn sông Đáy, khác với Ninh Giang của sông Luộc). Tại đây 3 vạn quân của tướng Lý Triện đã từ Lỗi Giang vừa kéo tới. Lộ quân nầy có cả Phạm Vấn và Nguyễn Nhữ Lãm. Một bộ chỉ tiền phương được thiết lập. Lý Triện và Đinh Lễ là hai vị chánh và phó soái.

      Áp lực của Lam Sơn đè lên Đông Quan như thế thật không thấm vào đâu. Từ Bắc Kinh, Chu Chiêm Cơ đã có kế hoạch nam chinh. Đầu tháng 9 năm 1426 vị vua thứ năm của nhà Minh nầy cử Thành Sơn hầu Vương Thông làm tướng soái và tham tướng Mã Anh dẫn quân lên đường. Trên đường đi, họ Vương còn lấy thêm 6 ngàn quân đã tập hợp sẵn dọc theo Quảng Tây, nâng quân số lên tới 5 vạn người. Suốt từ biên giới  bắc ở ải Phả Lũy đến Đông Quan không có một ngăn trở nào. Quân Lam Sơn chưa đủ sức tràn lên mặt nầy. Vương Thông vào thành Đông Quan và chính thức nắm quyền tổng binh theo sắc chỉ của hoàng đế Tuyên Tông. Các tướng lãnh từ trước đều trở thành thuộc tướng của vị Thành Sơn hầu họ Vương. Vị tân tổng binh điều quân đi các nơi: Mã Kỳ trực tiếp bảo vệ dinh thành. Mã Anh mang hai vạn quân đến Tam Giang đối đầu với Phạm Văn Xảo. Trần Trí, Phương Chính đến án ngữ ở Sa Đôi. Bản thân tổng binh họ Vương và Trần Hiệp đóng quân ở Cổ Sở. Lý An, Sơn Thọ giữ Cổ Lãm và Đỗ Động. Tất cả địa danh nầy thành một vòng cung phía nam Đông Quan sẵn sàng tấn công quân địch trước mặt. Với quân số trên 7 vạn người ở mặt trận ngọn cờ nầy. Tướng Lý Triện đang chuẩn bị. nầy, chúng dàn doanh trại liền nhau tới mười dặm. Chúng giương cờ xí rợp trời để thị oai. Ở phía đông nam chừng 2 dặm đường chim bay, bộ chỉ huy Lam Sơn ở Ninh Kiều thấy được những

      Dĩ nhiên một cuộc tương tranh không thể nào tránh khỏi. So ra quân số của Lý Triện và Đinh Lễ chỉ bằng một nửa quân số địch. Điều nầy không làm quân Lam Sơn khiếp sợ. Họ thay đổi chiến thuật. Lý Triện đưa 3 vạn binh tướng về Cao Bộ. Điạ danh nầy nằm phía nam sông Lương Sơn, mà đương thời chỉ là con lạch nhỏ chảy ra sông Đáy.  Từ Cao Bộ tới Ninh Kiều là vùng đồng ruộng mênh mông Tốt Động – Chúc Động. Cánh đồng nầy được hai nguồn nước của sông Đáy, sông Tích mang phù sa về. Nó như là vùng độn giữa quân Lam Sơn và quân Minh. Ở Cao Bộ an toàn hơn và có thể tiến chiếm vùng hữu ngạn hạ nguồn sông Hồng còn đương bỏ trống.

      Biết được ý đồ của Lý Triện, Vương Thông quyết định tấn công. Với quân số gấp đôi, ngày 5 tháng 10 năm 1426 họ Vương khởi binh. Vị tổng binh nầy kéo quân qua Ninh Kiều, nơi nầy chỉ còn lại những công sự không bóng người. Cả dân và quân đều di tản. Con đường tiến quân trước mặt của quân Minh là băng qua Chúc Động và Tốt Động. Năm vạn quân tràn qua cánh đồng với đội hình dọc. Họ giẫm nát lên mọi thứ. Những chùa miếu lẻ loi, những cụm nhà tranh, những gia súc còn sót lại đều bị đốt cháy. Vương Thông định lấy thịt đè người nên không hề sợ một cuộc phản công hay phục kích nào. Khi già một nửa đoàn quân băng qua sông Lương Sơn, thì trời đứng bóng. Lúc nầy, những máy bắn đá của quân Minh có  thể bắn tới Cao Bộ. Ở đây vẫn chưa có động tịnh gì, nhưng từ Yên Duyệt hướng sông Tích quân Lam Sơn tràn ra. Nguyễn Xí chặn đoàn quân tiên phong của Lý Lượng. Hai bên quần thảo nhau. Nguyễn Xí điều từng cánh quân phá những mũi nhọn đang cố tiến vào Cao Bộ. Dân chúng theo sau cướp vũ khí của quân Minh đã chết tạo thành một trợ giúp đáng kể. Tướng tiên phong Lý Lượng đã chết dưới những đường loạn gươm nầy. Cùng lúc đó cánh hậu quân của nhà Minh còn chưa qua sông Lương Sơn cũng bị tấn công.

      Quân của Đinh Lễ, Trương Chiến mai phục ở hai đầu sông đổ ra đông hơn cánh hậu vệ nầy. Hai tướng chỉ huy quân Minh ở đây là Lý An và Sơn Thọ buộc phải lui ngược về hướng bắc. Ở cánh trung quân, Vương Thông thấy rõ tình hình. Ông ta ra lịnh Trần Trí và Phương Chính tấn công bộ chỉ huy Lam Sơn ở Cao Bộ. Hai vị nầy đương trong thời kỳ thọ phạt mà theo sắc dụ của Minh Tuyên Tông là lập công để chuộc tội. Lý do:  Đã không tiếp ứng kịp thời để mất Trà Lân và thất bại ở ải Khả Lưu dẫn đến mất Nghệ An năm trước. Điều nầy không những làm Trần Trí và Phương Chính xuống tình thần mà quân sĩ của họ cũng thế. Quân tướng cũ ở Giao Chỉ vẫn theo lệnh của Vương Thông nhưng trong lòng bất phục. Mười ngàn quân theo họ Phương và họ Trần chia hai ngả đông tây tiến vào Cao Bộ. Hai cánh quân nầy vượt qua giao thông hào tiến vào phía trong. Không có động tịnh gì. Quân Lam Sơn đã rút hết ra ngoài. Ở đó chỉ còn những tia nắng vắt qua những công sự dỡ dang.

      Cao Bộ chẳng còn ai, Lý Triện đã kéo quân đi từ lúc nào. Ông đương chỉ huy tấn công cánh quân của Trần Hiệp ở giữa đồng Tốt Động. Vị binh bộ thượng thư họ Trần của nhà Minh vốn không phải là tướng trận mạc. Ông ta sang thay lão quan Hoàng Phúc để coi tam ty nhưng cũng phải tham chiến như các Đô ty đời trước. Không may cho ông ta đã có mặt ở trận nầy, và đụng ngay tướng Lam Sơn Lý Triện. Khi mặt trời xuống thấp hơn, nắng chiều vàng thẩm hơn, họ Trần và cả mấy trăm quân bị tiêu diệt. Diệt được Trần Hiệp, dũng tướng họ Lý đưa quân yểm trợ Phạm Vấn, Nguyễn Nhữ Lãm, và Vũ Uy. Ba người này đang chiến đấu với Vương Thông. Giữa lúc đang cân bằng, cánh quân Phạm Vấn được tiếp ứng, nên dễ dàng chiến thắng. Quân Lam Sơn đuổi quân Vương Thông chạy về phía bắc. Chiến trường lui dần nằm trên con sông cạn Lương Sơn.

      Vương Thông không phải là kẻ chiến đấu tồi. Ông ta ra sức điều quân chống lại. Cuộc chiến vẫn tiếp diễn giữa hoàng hôn. Vương Thông cô thế. Rất may lúc đó quân của Trần Trí và Phương Chính tới kịp. Hai cánh quân nầy và bóng tối đã cứu họ Vương. Ông ta tiếp tục dẫn quân chạy về hướng bắc. Họ gặp cánh quân của Đinh Lễ và Trương Chiến đang uy hiếp quân của Sơn Thọ và Lý An ở đây. Chiến trường mờ mịt khi mặt trời không còn.  Đêm nhờ nhợ, quân Minh không kiểm soát được. Theo bản năng tự nhiên, họ chạy ngược chiều với phía địch tấn công. Quân Lam Sơn tiếp tục đuổi theo. Khi đã quá nửa đêm, trên bờ Ninh Giang nối liền Chúc Động, quân hai bên ngờm ngợp dưới ánh trăng. Vương Thông đã cho người báo về Đông Quan và đợi quân tiếp viện, nhưng điều ấy không xảy ra. Tiếp viện không đến mà Ninh Giang đang là một hào lũy ngăn cản, nên quân Minh phải chạy dọc một bên bờ sông tiến về Cổ Sở. Một cuộc chiến đẫm máu dưới  trăng khuya. Bây giờ thì quân Lam Sơn đông hơn nhiều lần. Họ đánh áp đảo làm quân Minh phải lui sát bờ sông. Người chết chồng lên nhau, và có nhiều người chết đuối. Đó là những toán quân Minh liều lĩnh vượt sông để được sống còn. Số chết trên sông cũng không hề ít. Lúc nầy không còn ai chỉ huy được loạn quân. Các tướng lãnh nhà Minh đã lẩn trong đám binh lính của mình để chạy thoát.

      Sáng hôm sau, trên cánh đồng từ Ninh Kiều đến Tốt Động, người ta mới thấy cái rùng rợn im lặng của chiến trường. Người chết nằm la liệt. Hơn một ngàn quân Lam Sơn hy sinh, và gần hai vạn quân Minh tử trận đều nằm ở đây. Tin chiến thắng được báo về Lỗi Giang. Năm ngày sau, ngày 11 tháng 10 năm 1426 đại quân của Bình Định vương ra bắc. Ông chọn bộ chỉ huy tiền phương của Lý Triện làm hành dinh. Lúc nầy Nguyễn Chích vẫn giữ Nghệ An và chịu trách nhiệm luôn phủ Thanh Hoa. Ở Tân Bình, Trần Nguyên Hãn được lệnh giao binh quyền cho Lê Khôi và mang một vạn quân về Ninh Giang. Ngày 23 tháng 10, một cuộc hành quân được tiến hành: Lý Triện bảo vệ hành dinh. Trịnh Khả mang 5 ngàn quân tăng viện Phạm Văn Xảo cầm chân quân địch ở Tam Giang. Trần Nguyên Hãn tấn công Đông Bộ Đầu. Đinh Lễ, Nguyễn Xí tấn công Tây Dương. Đích thân Bình Định vương tấn công Tây Phù Liệt. Đó là ba căn cứ quan trọng sát thềm Đông Quan.

      Khi Trần Nguyên Hãn mới đến cửa đông, quân của Phương Chính chưa đánh đã chạy. Chúng còn khiếp sợ vị tướng họ Trần ở trận Khả Lựu. Quân Lam Sơn đuổi theo, và rất nhiều người tử vong gối lên nhau cả trên bờ và dưới nước. Hàng trăm chiến thuyền và vô số vũ khí bị tịch thu. Hai phía còn lại của Lê vương và Đinh Lễ cũng ngợp trời khói lửa. Số người chết không đếm hết. Thảm bại nặng nề ở Tốt Động – Ninh Kiều đã làm quân Minh khiếp vía dẫn đến thất bại ở đây. Vương Thông và các tướng Đông Quan phải rút về chiến tuyến cuối cùng: Tổng hành dinh của tổng binh và bộ chỉ huy của tam ty. Nguyên nó là một phần của cấm thành cũ. Đó là điện Càn Nguyên, điện Tập Hiền và cung Long An của các vua Trần ngày xưa. Từ thời Trương Phụ, nơi nầy đã được bao bọc bằng một tường thành hình vuông có chu vi 2 dặm. Tám tháp canh trên mặt thành nhìn nghiêng xuống hào lũy bọc phía ngoài. Lý Bân tiếp tục tu bổ. Tổng hành dinh nầy rất kiên cố, không thể nào tấn công bằng đao kiếm từ bên ngoài.

      Bình Định vương cho bao vây và dùng máy bắn đá bắn vào thành, nhưng không có kết quả. Trong lúc đó các đơn vị nhỏ của quân Minh ở ngoài không chịu đầu hàng. Các lãnh binh thấy bộ chỉ huy Vương Thông còn vững chắc, chúng tin rằng sẽ có viện binh nên tiếp tục chiến đấu. Một trận chiến lây lan khắp hoàng thành. Quân Lam Sơn không thể mạnh tay với những lực lượng nầy vì chúng lẫn lộn trong dân chúng. Bên cạnh đó ở Tây Đô và Cổ Lộng quân nhà Minh cũng nổi lên chiếm lại được. Tình trạng như thế kéo dài nhiều ngày, đưa đến Bình Định vương chấp nhận cầu hòa của Vương Thông.

      Theo đó binh tướng nhà Minh phải rút hết về xứ, đổi lại lực lượng Lam Sơn phải lập con cháu nhà Trần lên làm vua. Chư tướng không bằng lòng, nhưng vương Lê Lợi cân nhắc và sau đó thuận theo ý kiến của Nguyễn Trãi. Theo họ Nguyễn, tường thành cố thủ của Vương Thông quá kiên cố chưa chắc gì năm bảy tháng có thể phá hủy được. Quân bao vây chỉ thành công khi nào ở trong thành không có lương thực, và ở ngoài thành không có quân tiếp viện. Nhưng cả hai điều nầy, Vương Thông đều có. Điều thứ nhất: Trong thành có cả một kho lương thực lớn của ty bố chánh thu gom khắp các châu phủ mang về. Điều thứ hai: Nếu Lam Sơn bao vây bức quá (mà thực sự không có kết quả), triều đình nhà Minh sẽ gởi quân tiếp viện qua. Hiện thời binh bính nhà Minh không chinh chiến ở mặt bắc, họ dư quân số để gởi về phương nam. Chi bằng thả lỏng để tránh đạo quân tiếp viện nầy để có thời gian tiêu diệt các cứ điểm cần thiết. Cũng theo họ Nguyễn, việc Vương Thông hứa thu binh trở về chỉ là lừa dối. Bản thân một tổng binh không có quyền để quân ở lại hay rút về. Lúc đó chư tướng mới đồng ý với Nguyễn Trãi, và đi tìm người họ Trần thừa kế.

      Trần Cảo ở Ngọc Ma trong hàng binh lính của Cầm Qúy được nghĩ đến. Khó để nói ông Cảo là hậu duệ của các vua Trần, nhưng bạn bè thường đùa ông là “Trần hoàng thân” từ hồi mới làm lính. Duyên cớ ấy đã đưa ông về Đông Quan, nhưng từ đây có người bảo ông họ Hồ. Ông nầy được đưa lên làm vua vào đầu tháng 11 năm 1426. Bình Định vương Lê Lợi đặt cho ông niên hiệu Thiên Khánh và giao cho Bùi Quốc Hưng đóng vai quan xả bộc để giám sát. “Triều đình” vua Trần Cảo đặt tại một làng quê ở Vũ Ninh (Quế Võ, Bắc Ninh). Suốt ngày vị quốc vương họ Trần chẳng có việc gì làm, ông tự trở thành người chăm sóc cây cảnh trong dinh của mình. Trần Cảo lên làm vua, nhưng Vương Thông không rút quân về như dự đoán của Nguyễn Trãi. Người ta nói tại bọn Lương Nhữ Hốt nhắc về số phận của Ô Mã Nhi dưới thời vua Trần Nhân Tông, nên Vương Thông dám không về. Thực ra đó không phải là lý do.

      Bấy giờ Bình Định vương chia địa hình miền bắc thành 4 đạo, và dời hành dinh về một đồi cao trên bờ bắc sông Nhị. Dinh nầy có một cây bồ đề lớn mà dân chúng quen gọi là dinh Bồ Đề. Ở đây có thể nhìn khắp cả Đông Quan và vùng phụ cận. Vùng đồng bằng nầy, quân số Lam Sơn đã lên tới hàng chục vạn. Với lượng quân số như thế, Lê vương quyết định nhanh chóng tấn công tiêu diệt các đồn lũy quân địch khắp miền bắc. Ngày 13 tháng 1 năm 1427, Lê Lựu thắng đồn quan ải Khâu Ôn. Quân Minh chạy về bên kia biên giới. Ngày 19 tháng 1, Bùi Quốc Hưng tấn công buộc Thị Cầu đầu hàng. Ngày 23, Nguyễn Chích chiếm Điêu Diêu (Bắc Ninh). Khí thế đương lên ở bắc đạo như thế, thì ở ngay Đông Quan lại thất bại.

      Ngày 7 tháng 2 Phương Chính đột kích đánh úp Lý Triện ở đồn Cảo Động (Từ Liêm). Lý Triện chết và Lê Bí bị bắt. Ngày 9 tháng 2 Vương Thông tấn công áp đảo Lê Khuyên ở Tây Phù Liệt. Đinh Lễ, Nguyễn Xí được lịnh tiếp ứng. Hai vị nầy đuổi Vương Thông chạy tới My Động (Hà Tây). Tại đây hai vị tướng Lam Sơn tự làm vướng vào đầm lầy và bị bắt. Đinh Lễ bị giết ngay và Nguyễn Xí may mắn chạy thoát được. Cả Lý Triện và Đinh Lễ đều là người hùng trước vạn binh ở Tốt Động – Ninh Kiều, nhưng đều bị chết ở hai trường hợp không đáng. Đổi lại những đáng tiếc nầy, tháng 6, Phạm Văn Xảo tiến công ào ạt Tam Giang. Gần một vạn quân địch ở đây phải đầu hàng.

      Thắng được Tam Giang tây bắc, Bình Định Vương yên lòng, chỉ còn một cây đinh lớn phải nhổ ở đông bắc: Xương Giang. Thành nầy rất kiên cố. Tướng Lê Sát và phó tướng Trần Nguyên Hãn mang 2 vạn quân tấn công từ giữa tháng 6 đến đầu tháng 9, mà quân trong thành vẫn còn cầm cự. Khi cuộc chiến Xương Giang đang tiếp diễn, thì hay tin Minh Tuyên Tông sẽ đưa quân tiếp viện. Quân Minh sẽ qua ngả Phả Lũy tiến xuống Chi Lăng. Bình Định vương tức tốc gởi 3 vạn binh đến mặt trận nầy, và lấy tướng Lê Sát từ Xương Giang giữ quyền tư lệnh chiến trường. Lưu Nhân Chú, Lê Bôi, Lê Thụ, Phạm Vấn, Trịnh Khắc Phục được gởi lên tiếp theo. Họ trực tiếp liên lạc với tướng biên ải Trần Lựu đương trấn đóng ở Phả Lũy. Theo kế hoạch, quân Lam Sơn sẽ mai phục ở đồi núi Chi Lăng để chờ địch. Rừng Chi Lăng mênh mông thật khó biết chính xác quân địch đi đường nào. Núi Kai Kinh và sông Thương ngoằn ngoèo dường như bất biến, nhưng các lộ trình nam bắc đều đổi thay. Bao trùm ở đó một màu xanh mênh mông, mà không biết chiến công của vua Lê Đại Hành ngày xưa ở nơi nào. Đã hơn 400 năm qua, lặp lại mối thù với quân xâm lăng trên phần đất nầy. Mang mang tiếng giáo gươm của thời trước, tướng Lê Sát cùng các tướng quan sát địa thế. Một cuộc phục binh được tiến hành.

       Ngày 18 tháng 9 năm 1427 An Viễn hầu Liễu Thăng xuất quân từ Quảng Tây. Tham tướng Lương Minh, binh bộ thượng thư Lý Khanh, đô đốc Thôi Tụ, công bộ thượng thư Hoàng Phúc, thổ quan hữu bố chính sứ Nguyễn Đức Hưng là những tướng quân các lộ dưới quyền.  Hơn 7 vạn quân trước sau tràn qua biên giới. Người, ngựa, gươm giáo rực trời. Còn cách ải Phù Lũy hơn dặm đường mà đã nghe tiếng vó ngựa dồn dập. Tướng Trần Lựu liệu thế không chống nổi, thu quân bỏ chạy. Liễu Thăng xua quân tràn qua như một cơn bão thổi bay biến một hàng phên dậu bằng tre. Họ Liễu không cần cho ai chốt giữ ở đây mà tiếp tục tràn qua căn cứ thứ hai. Ải Khâu Ôn cũng không thể nào cầm cự nổi. Quân Lam Sơn chạy dồn về Ải Lựu. Tại đây được sự yểm trợ của tướng Trịnh Khắc Phục và Lê Bôi nâng quân số biên phòng lên gấp hai lần, nhưng  cuộc chiến vẫn không cân sức. 15 ngàn quân của 3 vị tướng Lam Sơn không thể nào chiến đấu với 2 vạn quân của Thôi Tụ và Hoàng Phúc. Hơn một canh giờ chiến đấu, quân Lam Sơn rút chạy. Hai vị tướng nhà Minh tiếp tục đuổi theo. Họ muốn tận diệt đạo quân biên ải nầy. Quân của tướng Trần Lựu quen địa thế nên cuộc rượt đuổi không có kết quả. Trong khi đó đại quân của Liễu Thăng tiếp tục tiến tới Chi Lăng. Ngựa và người ào ạt như nghiền nát được hết những tảng đá vôi bên đường.

      Trời đang đứng trưa, nhưng lòng kiêu hãnh của đạo quân xâm lăng không thấy được quân phục binh. Từ bờ sông Thương, từ rừng Phượng Hoàng, từ núi Kai Kinh, từ rừng Hàm Qủy, từ núi Mã Yên, 3 vạn quân Lam Sơn đang chực sẵn. Họ bố trí ở núi Mã Yên với một quân số lớn. Nó nằm phía tây Chi Lăng và sau lưng nó là dòng sông Thương quanh co. Nếu dụ được địch vào đây thì ngắt chúng ra làm hai, cơ hội thành công sẽ nhiều hơn. Lê Nhân Chú có 5 ngàn quân phục ở núi có hình yên ngựa nầy. Tùy theo đường địch đi, bất cứ tướng lãnh nào ở phía ngoài đều có bổn phận dụ địch vào Mã Yên, các tướng lãnh còn lại lập tức cắt đôi đạo quân nầy. Theo tướng Lê Sát, cánh tiên phong của địch sẽ bị dẫn dụ vào Mã Yên, và ông sẽ đối đầu với đại quân của Liễu Thăng ở phía sau. Nhưng, điều tiên đoán của vị chủ tướng họ Lê lại sai. Liễu Thăng đã từng theo Trương Phụ chinh nam năm 1406 bằng ngả nầy. Năm 1407 đã dẫn độ gia tộc Hồ Quý Ly qua đây. Về nước họ Liễu đã từng tung hoành trên mặt biển Ninh Liêu, đã từng chinh phạt quân Mông Cổ ở thảo nguyên tây bắc. Có phải cái kinh nghiệm ấy, cái khí phách ấy làm ông ta coi thường rừng núi phương nam. Sau khi tiên phong Thôi Tụ và Hoàng Phúc đuổi theo Trần Lựu và Lê Bôi, Liễu Thăng tự dẫn quân đi đầu về Chi Lăng.

      Trước đám phục binh từ rừng Phượng Hoàng của Phạm Vấn đổ ra, Liễu Thăng đã ồ ạt xua quân tấn công. Dĩ nhiên Phạm Vấn phải thua và chạy về Mã Yên như kế hoạch. Họ Liễu đuổi theo. Lập tức Lê Sát, Lê Thụ, Lê Lãnh chận các đạo quân của Lương Minh, Lý Khánh và Nguyễn Đức Hưng ở phía sau. Liễu Thăng bị tách rời như một mũi tên đã lao về phía trước trên đồi Yên Mã. Một cuộc chiến như nghiêng cả ngọn đồi. Thành tích của Liễu Thăng là thế, nhưng ba ngàn quân của ông ta không thể nào chiến đấu với liên quân của Lê Nhân Chú và Phạm Vấn. Số quân tương đương nhau, nhưng quân Lam Sơn đang ở thế chủ động. Lê Nhân Chú điều khiển các cánh quân, riêng Phạm Vấn so gươm với Liễu Thăng. Vị An Viễn hầu lừng danh nầy không biết mình đang chiến đấu với một tay kiếm cừ khôi Đại Việt. Họ Liễu gặp phải những đường kiếm lạ lùng mà ông ta chưa từng học qua. Ông ta đâu biết rằng đó là những thế kiếm bí truyền của nhà họ Phạm ở Lương Giang đã từng trừ bọn cướp ở cửa Thần Phù. Chỉ qua nửa canh giờ kịch chiến cô độc, chinh nam tướng quân Liễu Thăng mệt lã. Những đường guơm của vị tướng quân Lam Sơn càng lúc càng nhanh, khiến họ Liễu dùng hết sở học của mình nhưng đành tuyệt vọng. An Viễn hầu liếc nhìn về đoàn quân phía sau đã bị chận đứng, ông ta ngã ngựa như một người chưa từng học võ. Liễu Thăng bị tử thương, mà không biết mình chết vì thế kiếm nào.

      Trong lúc ấy, ở phía sau chiến trận lan rộng cùng khắp. Thôi Tụ và Hoàng Phúc đã trở về. Khi họ tiến vào được Mã Yên, thì bị đánh bật trở ra mang theo tin Liễu Thăng đã chết. Tin vị chủ tướng tử thương làm quân Minh rối bời, nhưng tham tướng Lương Minh quả là người có tài điều binh. Bây giờ họ Lương là tướng lãnh cao nhất. Ông ta ra lịnh chỉnh đốn lại hàng ngũ. Thiệt hại trong và ngoài Mã Yên lên tới trên một vạn quân, nhưng quân số quân Minh vẫn đông hơn. Cuộc chiến vẫn tiếp diễn đến ngày hôm sau và nhiều ngày sau nữa.

      Lúc nầy, tại Xương Giang chiến trường đã ngã ngũ. Quân Minh hoàn toàn thất bại. Đông Quan không thể tiếp viện được, quân Xương Giang đã thiếu lương thực là lý do. Chánh phó tướng nhà Minh là Kim Dận và Lý Nhậm đã chiến đấu đến phút cuối cùng. Tự chiến đấu gần 3 tháng trường để chết theo thành quả là anh hùng. Giống như Lý Thường Kiệt năm xưa khi chiếm thành Ung Châu, Trần Nguyên Hãn nhìn những xác tướng sĩ nhà Minh mà lòng không vui. Cuộc tử sinh luôn luôn đi trên số phận mỗi người, nhưng những người nằm xuống trước mắt ông quá bi thảm. Là quân xâm lăng, nhưng họ chết vì đói trước khi chết vì gươm.  Trần Nguyên Hãn cũng cố lại khu vực Xương Giang theo lệnh của Bình Định vương. Ông cho thuộc tướng Lê Lý tiến quân đến Phố Cát, và Lê Văn An đến Cần Trạm. Đây là hai địa cứ giữa Chi Lăng và Xương Giang. Cả ba nơi nầy đều sẵn sàng ứng chiến.

       Đến ngày thứ năm, chiến trường Chi Lăng giữa Lê Sát và Lương Minh vẫn chưa phân thắng bại. Với quân số các lộ còn lại cũng gần tới 4 vạn người, họ Lương đánh mạnh về Cần Trạm. Ông ta hy vọng nuốt căn cứ nầy, và bắt tay với Xương Giang của Kim Dận. Bây giờ không còn mai phục và bị mai phục. Hai bên đánh nhau giữa trời, giữa ban ngày. Thời tiết  cuối tháng 8 âm lịch, nắng không còn gay gắt trên miền trung du, nhưng chiến trường vẫn nóng hổi. Đến hết ngày thứ chín, họ đã qua chín ngày chiến đấu, mặt trời đã chín lần hạ xuống đỉnh Kai Kinh thì tình hình quân Minh trở nên tồi tệ hơn. Trên cứ địa Cần Trạm quân Lam Sơn đã sẵn có đạo quân của tướng Lê Văn An, làm cho quân địch thêm một lần tan tác. Tướng Lương Minh không còn đủ sức ngồi trên mình ngựa, ông ta ngã xuống đất dưới sức tấn công vũ bão của tướng quân Lê Sát. Đó là ngày 25 tháng 9 năm 1427.

      Cái chết của tham tướng Lương Minh làm quân Minh hết tinh thần. Theo chức vụ đương thời thì Lý Khánh lên thay. Họ Lý chưa từng có chiến công trong trận mạc, nhưng tỏ ra là người có bản lĩnh. Ông ta chỉnh đốn các lộ quân và tiếp tục xua quân về nam. Lê Sát đuổi theo phía sau, và biết họ Lý đương dẫn quân Minh vào tử lộ. Trước mặt là Xương Giang của Trần Nguyên Hãn đang sẵn sàng. Ba ngày sau, ngày 28 tháng 9, hai cánh quân Lam Sơn ép cánh quân của Lý Khánh ở Phố Cát. Số quân Minh chết giữa gọng kèm nầy còn nhiều hơn ở Cần Trạm.  Họ Lý tử thương ở đây trong loạn quân.

      Lúc nầy quân số của quân Minh chỉ còn lại hơn một vạn người. Thôi Tụ lên chỉ huy. Đến bây giờ thì vị tướng nầy mới biết Xương Giang của Kim Dận đã mất. Số phận của quân tướng nhà Minh như đá treo mành. Trách nhiệm của người chỉ huy lúc lâm nguy làm họ Thôi can đảm. Ông ta thu các lộ quân và tiến về hướng đông. Hướng nầy theo sơ đồ trước khi xuất chinh, sẽ đến đồn Chí Linh. Không may cho Thôi Tụ. Cái lằn chỉ xanh mà ông nhớ không phải là con suối, mà là con sông Lục Nam mênh mông. Bên kia là đồn Chí Linh mà vĩnh viễn họ Thôi không đến được. Trên cánh đồng trống sát bờ sông bên nầy, những đơn vị cuối cùng của nhà Minh quần tụ lại cố thủ. Họ đương bị bao vây. Tướng Trần Nguyên Hãn cho gọi hàng. Mọi kháng cự đều bị xử chết.

      Tất cả quân Minh đều rúng động, và người bỏ kiếm đầu tiên là Hoàng Phúc. Không phải họ Hoàng là người sớm vội sợ hãi, mà ông ta cảm thấy rất gần gũi với người Đại Việt. Ông ta có 17 năm làm Chưởng ty cả hai ty bố chánh và án sát ở Đông Quan từ năm 1407. Vì ở quá lâu ở một nơi xa xôi, năm 1424 Minh Thành Tổ gọi ông ta về cho giữ chức Công bộ thượng thư. Lần trở lại năm 1428 nầy vẫn còn đậm nét vui buồn ở Đông Quan. Họ Hoàng đã trải qua rất nhiều những lúc cương nhu đối với dân bản xứ. Ông ta biết đây là lúc nhân nhượng cần thiết. Hoàng Phúc không phản kháng, và số quân theo ông hơn một nửa, trong đó có thổ quan Nguyễn Đức Hưng. Thôi Tụ và non một nửa số quân còn lại còn mang cái hào khí của một Đại Minh. Điều này chỉ mang đến một cuộc chiến đấu thảm bại cho quân viễn chinh. Cuộc so gươm chưa đầy nửa canh giờ, tất cả số quân Minh sống sót còn lại đều bị bắt. Họ khoảng một ngàn người trong đó có Thôi Tụ. Đó là những ngày đầu tháng 10 năm 1427. Chiến trường đông bắc chấm dứt.

      Tin nầy lập tức được đưa về dinh Bồ Đề. Tại đây cũng nhận một tin khác từ chiến trường tây bắc. Năm vạn quân của Mộc Thạnh cùng hai bộ tướng Từ Hanh và Đàm Trung đã tiến quân từ biên giới dọc theo tả ngạn sông Lô . Đã 15 ngày không có cuộc đụng độ nào. Lãnh tụ thái trắng Đèo Cát Hãn, ở Ninh Viễn (Lào Cai, Lai Châu) không thân thiện với quân Lam Sơn nên không nhờ đỡ được gì trong lúc này. Không ai cản quân Minh, nên họ đi trên rừng Đại Việt như đi trên rừng nhà. Băng qua những đồi núi, và thỉnh thoảng có những cánh đồng hẹp, họ đã đến ải Lê Hoa. Lê Hoa là một ải ngắn ở phía bắc ngã ba sông Lô vả sông Gâm  thuộc địa phận rừng Lãnh Câu – Đan Xá. Tại đây đã có những cuộc đụng độ nhỏ. Tướng Phạm Văn Xảo cùng tướng Trịnh Khả được lịnh mang hết 3 vạn quân chủ lực Tam Giang tiến về tây bắc để chặn địch. Khi họ đến Đan Xá thì hai bên đụng nhau. cuộc chiến không dữ dội như ở mặt đông. Ở đây không có điểm đích để làm mục tiêu chiếm đánh. Chiến trường mở rộng, nhưng không lớn. Chỉ có những toán quân nhỏ gặp nhau, nên không gây thương vong nhiều trong khu rừng bạt ngàn. Tình trạng nầy kéo dài đến giữa tháng 10 năm 1427 thì Mộc Thạnh biết được tin từ chiến trường đông bắc.

      Tin nầy do Thông sự Đặng Hiếu Lộc của Bình Định vương và hàng tướng Hoàng Phúc mang đến. Chuyến đi có cả tù binh Thôi Tụ và ấn tín, hổ phù của Liễu Thăng. Mộc Thạnh không thể nào không tin, vì ấn tín tướng quân có những dấu hiệu đặc biệt mà kẻ làm giả không làm được. Bên cạnh đó ông cũng tin Hoàng Phúc. Trong hai lần chinh nam trước, ông đã biết họ Hoàng là người không nói những điều ngoa sai. Mộc Thạnh tỏ ra bình tĩnh, nhưng tin lộ ra ngoài rất nhanh làm giao động toàn binh. Điều nầy đã giúp cho nghĩa sĩ Lam Sơn trong những cuộc giao tranh sau đó dễ dàng giành được thắng lợi. Tướng Phạm Xảo đuổi quân Minh qua khỏi Đan Xá, qua ải Lê Hoa, qua rừng Lãnh Câu mới thu binh trở về. Mộc Thạnh đã mất hàng trăm ngựa chiến, và số binh sĩ thương vong lên tới cả ngàn. Chiến trường tây bắc kết thúc.

      Thất bại hai đạo viện binh đã đưa đến thất bại cho Vương Thông ở Đông Quan. Cuối tháng 10, năm 1427, ông ta đưa thư cầu hòa lần thứ hai. Lần nầy các tướng không phản đối. Cuộc chiến đấu lâu ngày đã làm kiệt quệ tiềm năng của đất nước. Đã đến lúc cần phải ngừng để canh tân quốc gia. Một hòa đàm trên bờ sông Nhị Hà vào đầu tháng 11 năm 1427 được thực hiện. Đó là hội thề Đông Quan. Đào Công Soạn, một thái học sinh đã khéo léo sắp xếp hội thề để đề huề sĩ diện. Theo đó, Lê Lợi là lãnh tụ khởi nghĩa Lam Sơn thỏa thuận ký hòa ước với tổng binh Vương Thông. Lê Tư Tề, Lê Nhân Chú và Mã Kỳ, Sơn Thọ là 4 con tin của hai bên. Sử không nói chi tiết về hội thề nầy, nhưng điều căn bản là quân Minh phải rút hết về nước. Đổi lại Lam Sơn phải trả hết tù và hàng binh, và chính thức đưa “vua” Trần Cảo lên ngôi để nhận sắc phong An Nam quốc vương của vua Minh. Dù thắng lớn hai trận cuối cùng, nhưng ở hội thề nầy, nước ta vẫn ở thế hạ phong. Bình Định vương biết, Nguyễn Trãi biết, nhưng lịch sử phải chìu theo kẻ mạnh. Tháng 12 năm 1427 các điều khoảng trong hội thề được thi hành. Chấm dứt 20 năm cai trị của nhà Minh.

Đâu những kẻ anh hùng kiệt hiệt
Tiến Đông Quan mà lấy sơn hà
Trận Xa Lộc một chàng Phạm Xảo
Diệt quân Minh ngả lớp hằng sa

Cầu Nhân Mục họ Vi thúc thủ
Quân xâm lăng run rẩy Đông Quan
Tướng Lý Triện điểm binh điểm số
Hẹn tương tranh một độ kinh hoàng

Sang xứ Việt: Vương Thông hầu tước
Năm vạn binh xé gió mùa thu
Những đâu nghìn ngựa, đâu quân bộ
Cờ tung bay cát bụi sa mù

Đâu Cổ Lãm, Sa Đôi, Cổ Sở
Đâu Ninh Kiều sông nước xanh mây
Ai người chiến bại ai chiến thắng
Dấu chinh nam nặng gót sa lầy

Đồng Tốt Động hỏi hồn sông Đáy
Nước luân lưu có đến Ninh Kiều
Bên kia chiến trận đà thua thắng
Người sống qua sông được bao nhiêu

Thoát Ninh Kiều, Vương Thông cố thủ
Về Đông Quan chờ đợi tình hình
Trăng nghiêng trên mái Càn Nguyên điện
Soi bóng quân về suốt chiến chinh

Vây ba mặt bờ đông Nguyên Hãn
Cầu Tây Dương, Đinh Lễ tiến lên
Thân chinh vua tiến Tây Phù Liệt
Lửa cháy thuyền trôi nước bập bềnh

Thế cuộc ấy buộc Minh đàm phán
Lam Sơn đưa Trần Cảo lên ngôi
Vương Thông thu dọn quân về xứ
Niềm vui xanh lên tận lũng đồi

Thế là thế mà Thông hai dạ
Vịn tích xưa Ô Mã ngậm hờn
Mới hẹn hòa bình đôi khắc trước
Mà sao thương kiếm dậy từng cơn

Nào Điêu Diêu, Xương Giang, Tam Đái
Nào Thị Cầu, Mỵ Động, Hà Tây
Lũng Nhai từng bước người đi nữa
Ai đã sa cơ giữa cuộc nầy

Vương Lê Lợi riêng tây thương tiếc
Gót trường chinh đâu những đệ huynh
Những người đi trước đi sau ấy
Đứng suốt trăm năm dậy ân tình

Khóc huynh đệ mà thù trước mắt
Bỏ riêng thương mà bước Chi Lăng
Chu Cơ bao vạn binh hùng tướng
Tràn ải biên khí thế đằng đằng

Đồn Phả Lũy, Khâu Ôn, ải Qủy
Ngàn vạn binh họ Liễu tràn qua
Sông Thương chảy xiết mùa nước lớn
Gió đông nam thổi suốt quan hà

Rừng tây bắc gió tây tây bắc
Ngả Vân Nam họ Mộc xâm lăng
Sông Lô cuồn cuộn về Đan Xá
Ải Lê Hoa cây cỏ ngả quằn

Thế giặc mạnh đôi đường quan ải
Mà Xương Giang còn nặng binh đao
Trăng treo trên đỉnh bao lần khuyết
Chiến trận đôi bên đẫm chiến bào

Rồi đến lúc mùa thu thứ nhất
Cửa thành Xương phải bức hừng đông
Họ Kim hào khí như danh tướng
Tô Giám thành Ung cỡ lượng đồng

Diệt Xương Giang đối đầu tiếp viện
Ở nơi nao Lê Sát phục quân
Chi Lăng hồn cũ còn đâu đó
Mà những trăm năm sóng đã từng

Phục ải Qủy, Kai Kinh, Yên Mã
Nấp sông Thương, núi đá Kỳ Lân
Rừng xanh núi biếc dang tay với
Đợi xâm lăng sa bước lần lần

Quân họ Liễu gót chân xâm lược
Tràn biên cương Phả Lũy tan hoang
Khâu Ôn, aỉ Lựu treo mành tóc
Rừng xanh xanh một dọc kinh hoàng

Làng Ải Lựu biên cương Trần Lựu
Tướng Lam Sơn Trịnh Phục, Lê Bôi
Dẫn quân mà chạy về trũng thấp
Qua Lạng Giang qua núi qua đồi

Dụ quân địch chia đôi hai ngả
Ngả bên kia còn lại Liễu Thăng
Lương Minh, Lý Khánh cùng thổ Nguyễn
Gót xâm lăng khí thế đằng đằng

An Viễn hầu hung hăng kiêu mạn
Từng gông Hồ dẫn độ qua đây
Sá chi đôi chút Kai Kinh thấp
Mà sợ Chi Lăng sợ độ nầy

Đuổi trũng cạn qua đồi Yên Mã
Núi sông kia cây cỏ bình thường
Thương quân Nam nghịch không liệu sức
Làm sao cát cứ được một phương?

Tướng Liễu Thăng chưa xong kiêu mạn
Từng vuông xanh đất đá nổi lên
Ở đây tên bắn kia súng phá
Tiếng reo vang như thác như ghềnh

Cùng một cỡ cân bằng ta địch
Nhưng quân Minh tiêu đìểm giữa trời
Tên bay như thể mưa cắm đất
Mộng chưa qua mà máu đã rơi

An Viễn hầu hô quân tứ phía
Chống bên đông đỡ lại bên tây
Quân Minh cứ thế tha hồ chết
Gươm chưa vung mà xác đã đầy

Chỉ mấy khắc cán cân nghiêng lệch
Đồi Mã Yên ngơ ngẩn trong mây
Hỏi hồn An Viễn làm sao thế
Bỏ khôn ngoan mà lấy sa lầy

Cuộc chiến ấy đổi dần thế trận
Tướng Lương Minh tham tướng lên thay
Những ngày thu biếc trên xứ Lạng
Bao xác chinh nam gởi xứ này

Bỏ Chi Lăng chạy về Cần Trạm
Từ tinh mơ đến cuối chiều tà
Đố ai gom được bao người chết
Để biết quân thù mấy độ sa

Là trận mạc trách sao tử biệt
Hồn quân Minh liên tiếp vời trông
Lương Minh trút bỏ đời chinh chiến
Bỏ chinh nam bỏ vó ngựa hồng

Tướng Lý Khánh buồn vương đáy mắt
Phải thi gan còn mất trời nam
Xua quân tiến thắng về Phố Cát
Hồn xâm lăng đã bạc màu chàm

Cơn tím sẫm hoàng hôn xâm lược
Thành Xương Giang mù tít nơi đâu
Nào hay Kim Dận không còn nữa
Họ Lý hai bên tựa phủ đầu

Lý Khánh chết gọng kiềm Phố Cát
Theo vạn binh mà bỏ trần ai
Quân Minh còn lại ai danh tướng
Thôi Tụ về đâu cuộc chạy dài

Giữa lúc ấy bên trời tây bắc
Ải Lê Hoa, Mộc Thạnh dàn quân
Tranh nhau Đan Xá cùng Phạm Xảo
Tướng Tam Giang danh đã vang lừng

Ngỡ chiến thắng như mùa thu cũ
Mà tin đưa như sét ngang mày
Rằng quân An Viễn đà tiêu tán
Một cuộc sa trường mấy cuộc đau

Tướng Mộc Thạnh an quân mà rối
Quân nhà Minh lo sợ khiếp hồn
Bao người bỏ cuộc chiều tây bắc
Rừng Lãnh Câu như xác mồ chôn

Tin thắng trận như cồn sóng vỗ
Mà Bồ Đề mấy lược trở trăn
Hòa Bình, chinh chiến đem cân lượng
Nước yếu trong tim một vết hằn

Hội thề buổi ấy buổi cuối đông
Nước sông hồng đục nước sông Hồng
Gió vi vu thổi nghe se lạnh
Có kẻ bên thềm chạnh núi sông


<<  |  >>