Skip to content

Chương 18/1

LAM SƠN KHỞI NGHĨA
(1417 – 1428)

ĐOẠN MỘT

TỪ THANH HOA ĐẾN THUẬN HÓA

 

       Đầu năm 1417 tổng binh Trương Phụ bị một nội quan nhà Minh là Mã Kỳ tố cáo. Theo đó họ Trương quá lợi dụng quyền hạn ở vùng chiếm đóng. Tháng ba, Minh Thành Tổ triệu Trương Phụ về nước, cử Phong Thành hầu Lý Bân sang thay. Có nhiều xáo trộn trong hàng quan lại và quân sự theo sự thay đổi nầy. Điều đó giúp cho những người đã nhen nhúm tinh thần khởi nghĩa đứng dậy. Ở Thanh Hoa có hai vị:

      Thứ nhất: Nguyễn Chích ở làng Vạn Lộc, Đông Sơn. Ông là một nông phu. Ông kêu gọi dân làng chống đợt thuế điền tịch quá đáng áp đặt lên người dân. Lực lượng lan rộng, và dần dần đánh chiếm các đơn vị địa phương lấy được nhiều vũ khí. Họ có đến cả ngàn người. Nhận thấy cứ điểm ở Vạn Lộc trống trải khó phòng thủ, Nguyễn Chích đưa dân quân tiến đánh căn cứ Hồng Nghiêu của địch. Trận chiến kéo dài hai ngày và nghĩa quân toàn thắng. Đây là một căn cứ bên dòng sông Hoàng, một chi lưu của hạ nguồn sông Mã. Ở đây có hai dãy núi đá vôi thấp ở hai bên bờ sông: núi Hoàng và núi Nghiêu. Với địa thế nầy, nếu có một lực lượng mạnh sẽ dễ làm chủ được 3 mặt xung quanh: Đông Sơn, Nông Cống và Ngọc Sơn. Tuy nhiên, nghĩa quân của Nguyễn Chích hoạt động ở đây nhiều năm mà điều mơ ước ấy không thực hiện được. Sau đó vị thủ lãnh Hoàng Nghiêu bằng lòng đứng duới trướng một lãnh tụ khác hoạt động cách mình không xa: thủ lãnh Lam Sơn, Lê Lợi

      Thứ hai: Lê Lợi. Ông sinh năm ất sửu 1385 ở làng Lam Sơn thuộc huyện Cổ Lôi (nay là Thọ Xuân). Ông là con trai út trong gia đình mà người anh trai trưởng là Lê Học và anh thứ là Lê Trừ. Gia đình ông là cư dân đã ba đời ở đây. Ông là người thông minh, có chí khí và khôn khéo. Ông đã âm thầm nuôi dưỡng tinh thần khởi nghĩa từ lâu. Không những ở Cổ Lôi mà ở miền tây Thanh Hoa, dọc theo thượng nguồn sông Chu, ông cũng có những người đồng chí. Khi kẽ hở quyền lực từ việc đổi tổng binh của nhà Minh, Lê Lợi nới rộng phạm vi hoạt động. Trước đó một năm, năm 1416,  họ chỉ có mặt ở Lam Sơn và những bản làng miền núi: làng Lẹn, làng Mé và làng Chếng. Căn bản chỉ là dân quân, và nguồn lương thực tự túc. Người ta trồng bắp ở mọi nơi. Một mảng rừng nào đó vừa đốt, họ có thể gieo bắp trên những than tro sau một cơn mưa, chỉ hai tháng sau là có trái để ăn. Bên những tảng đá vôi quanh nhà người ta cũng trồng được bắp. Bắp hầu như có quanh năm. Nó là nguồn sản phẩm chính, hơn cả lúa nước. Lúa nước được trồng ở những lũng thấp. Có một lũng rộng mà trên mé bờ có những nhà sàn xen kẻ với nhà trệt không theo một thứ tự nào.

      Đó là lũng Nhai mà trong tháng hai năm bính thân 1416 đã có một hội thề. Hội thề Lũng Nhai gồm 19 người và đã bầu Lê Lợi làm thủ lãnh. Theo đó họ trung thành với tôn chỉ: “Làm vững mạnh bản làng để giành độc lập cho đất nước”. Trong hai năm1416 và 1417 huynh đệ Lũng Nhai chỉ chiêu mộ binh lính, và luyện tập cách xử dụng binh đao thế trận. Đầu năm 1418 mọi người đồng lòng tôn Lê Lợi làm Bình Định vương để dễ tạo ảnh hưởng lớn. Địa bàn hoạt động được mở rộng. Từ lũng Nhai nghĩa quân tiến về bắc tới Lạc Thủy, Vân Am. Từ Lam Sơn tiến về nam tới Xuân Phù, Yên Cát. Sự phát triển nầy bị một thổ quan địa phương tên Cầm Lạn đã báo cho Mã Kỳ. Họ Mã là quan tham tri, đại diện cho Lý Bân trấn nhậm ở Tây Đô. Dĩ nhiên Mã Kỳ không để yên, khoảng 10 ngày sau, ông ta mang 5 ngàn quân uy hiếp Lam Sơn. Lê Lợi liệu rằng không thể trực diện thắng đạo quân nầy, nên lui quân đến Lạc Thủy. Sau đó ông cho mai phục binh ở huyện Lỗi Giang, phía bắc Lam Sơn và phía nam sông Mã. Mã kỳ đuổi theo, quân Lam Sơn tiếp tục chạy, và quân Mã Kỳ đã sa lưới ở hành lang mai phục. Lê Thạch, Phạm Vấn, Lê Ngân, Lê Lý là những lãnh binh chỉ huy trận này. Họ đã giết tới 3 ngàn quân của Mã Kỳ, nhưng cuộc chiến vẫn tiếp diễn. Quân số còn lại của họ Mã vẫn đông hơn của Lam Sơn. Chiến đấu đến ngày thứ ba, Lam Sơn yếu dần. Lê Lợi phải cho quân binh chạy về rừng núi trước mặt mình: núi Chí Linh trên rừng Pù Rinh. Mã Kỳ không đuổi theo đến nơi, nhưng cho bao vây chặn các đường về miền xuôi. Núi rừng mênh mông của thượng nguồn sông Mã che chở được được đoàn quân kháng chiến, nhưng nghĩa quân sa vào một khó khăn mới: Lương thực.

      Vừa hết một mùa xuân năm 1418, quân Lam Sơn đã hết những hạt gạo cuối cùng. Các nguồn tiếp tế cứ ít dần đi, trong khi hoa màu tự túc chưa đủ để thành thức ăn. sắn khoai chưa ra củ, và bắp chưa ra hạt. Người ta phải đào củ mài và săn thú rừng để sống. Cuối mùa hạ khi đã có cái ăn, nhưng những cơn gió chớm thu đã mang hơi lạnh của rừng. Gió tây bắc đem theo những cơn sốt lây lan. Sợ rằng không chịu nổi một mùa đông sắp tới, Lê Lợi và các tướng quân bàn nhau phải rời bỏ Chí Linh. Lúc nầy quân Minh cũng đã mỏi mệt. Qua gần 8 tháng bao vây, lực lượng chính quy đã rút về Tây Đô. Tháng 9 năm 1418, Lê Lợi đánh tan một chốt quân Minh ở bìa rừng, và thoát ra. Cố thổ Lam Sơn vẫn là nơi níu kéo những tâm hồn chiến binh. Họ tiến chiếm Mường Một, tiến chiến Nga Lạc. Đây là hai đồn binh nhà Minh mới thành lập ở phía tây bắc Lam Sơn.  Giữ được gần 6 tháng, ăn được cái tết kỷ mùi 1419 ở làng xưa, đến tháng 3 thì không còn nữa. Quân Minh phản công. Vẫn chưa đủ sức để giữ một đồn lũy nào, quân Lam Sơn lại rút về Chí Linh. Kinh nghiệm bao vây lỏng lẻo ở lần trước không có kết qủa, lần nầy Mã Kỳ siết chặt hơn. Ba con đường lên rừng từ bản Năng Cát, Lạc Thuỷ và bản Húng nối lại thành một vòng cung đều được canh giữ cẩn mật. Quân số lên tới cả vạn người, và chúng thường xuyên hành quân truy lùng quân Lam Sơn ở sâu trong rừng. Những hoa màu tưởng có thể nuôi quân đã bị quân Minh càn phá. Củ mài và thú rừng cũng không còn an toàn để tìm được nữa. Có nhiều nghĩa quân đi săn thú bị quân Minh bắt gặp. Họ bị giết chết. Cái đói và cái nguy cơ bị bắt đã kéo dài sang đến mùa thu. Trong lúc cùng bách nầy, đôi lần Lê Lợi nghĩ đến Lưu Bang bị vây ở thành Huỳnh Dương của hơn 1,500 năm về trước bên Tàu. Lúc ấy họ Lưu thoát được là nhờ đến một thuộc tướng là Kỷ Tín hy sinh. Lê Lợi chỉ nghĩ thế, nhưng có người đồng cảm. Trong những đêm trăng của rừng Chí Linh tịch mịch có người thao thức. Một tướng quân, một huynh đệ của hội thề Lũng Nhai, đã tình nguyện làm người hy sinh. Trong một đêm mờ sáng, tướng quân Lê Lai đã nhận gươm tướng soái và giả cái uy phong của Lê Lợi. Ông dẫn hơn 300 quân tình nguyện tiến xuống con đường mòn sinh tử về bản Năng Cát, quê hương của ông. Chưa đến nơi, chưa thực sự đặt chân lên cái nhà, cái làng, một cuộc quyết tử đã xảy ra ở chân núi phía bắc nầy. Tiếng gà gáy sang canh bị chìm mất bởi những tiếng gươm đao chạm nhau. Giữa hừng đông, với phong thái uy nghi của một vị chủ soái đã làm quân Minh tin rằng mình đương chiến đấu với Bình Định vương Lê Lợi. Qua thêm một canh giờ, trời sáng hẳn, quân Minh khuất phục được đối phương. “Bình Định vương Lê Lợi” và trên 30 nghĩa quân còn lại đều tự sát.

      Cái chết của Lê Lai mà quân Minh ngỡ rằng Lê Lợi, đã giúp cho Chí Linh không còn bị vây ngặt. Mã Kỳ nới lỏng vòng vây, và đưa quân tiếp ứng các nơi theo lệnh của Lý Bân. Lúc nầy quân khởi nghĩa nổi lên ở nhiều chỗ khác: Lộ Văn Luật ở Thạch Thất. Trần Thái Xung ở sách Hồi. Phạm Ngọc ở Đồ Sơn. Lê Ngã ở Xương Giang. Phan Liêu chiêu tập quân binh tấn công thành Nghệ An. Nam bắc đều có “loạn”, nhưng mặt bắc nặng hơn. Lý Bân rút Mã Kỳ về Đông Quan giúp mình, và giao Tây Đô lại cho Sơn Thọ. Cùng lúc ấy Đông Quan còn phải cung cấp nhân công về Kim Lăng (Nam Kinh) để đi xây cung điện ở Yên Kinh (Bắc Kinh). Chu Lệ Minh Thành Tổ quyết định dời đô về bản phiên của mình trong năm 1421. Những bận rộn của Đông Quan đã giúp Bình Định vương đưa quân ra khỏi Chí Linh, và củng cố quân đội.

      Từ số trăm lúc trước đã lên tới số ngàn vào tháng 4 năm 1421. Lê Lợi chiếm giữ Mường Thôi, chiếm sách Ba Lẫm, chiếm sách Thủy, chiếm huyện Lỗi Giang. Quân Lam Sơn còn suýt bắt được tướng nhà Minh là Trần Trí ở ải Kình Lộng, khi Trí từ các bản Lào trở về. Những địa danh nầy đều ở miền tây Thanh Hoa mà Lê Lợi chọn Lỗi Giang làm hành dinh tạm thời. Tại đây, trong mùa thu năm 1421, Bình Định Vương lần lược gặp 3 vị khách góp phần quan trọng thay đổi cuộc diện Lam Sơn: Nguyễn Chích, Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hãn. Cả ba người họ đều do Nguyễn Nhữ Lãm, một huynh đệ có tài ngoại giao, mời gọi về. Vị lãnh tụ Hồng Nghiêu Nguyễn Chích thì nghĩa quân Lam Sơn đã biết, hai vị còn lại chỉ mới nghe danh. Nguyễn Trãi người gốc Phượng Sơn, Hải Dương. Vì mẹ chết sớm nên có một thời ấu thơ ông về sống với ông ngoại Trần Nguyên Đán ở Côn Sơn, Hải Dương. Ông sinh năm 1380, đỗ thái học sinh năm 1400 và có 7 năm làm quan dưới thời nhà Hồ. Từ khi nhà Hồ mất năm 1407 đến khi về Lỗi Giang năm 1421, ông lưu lạc rất nhiều nơi. (Theo Lịch Triều Hiến Chương của Phan Huy Chú: NT được quan tam ty Hoàng Phúc tiếc tài nên che chở ở Đông Kinh) Là người uyên bác luôn luôn trăn trở cho vận nước, ông đã trình Bình Định vương kế sách chống quân Minh qua tập Bình Ngô Sách. Trần Nguyên Hãn sinh năm 1385, lúc mà cha mẹ ông theo ông nội Trần Nguyên Đán về trí sĩ Côn Sơn. Sau khi ông nội chết năm 1390 gia đình ông dời về Sơn Đông, Lập Thạch (vĩnh Phúc). Trong thời Hồ và thời đầu lệ thuộc Minh người thanh niên hoàng tộc Trần Nguyên Hãn nầy phải bỏ quê hương Lập Thạch. Nhiều lúc ông có cuộc sống cơ cực đó đây, và ông đã gặp lại người anh em cô cậu Nguyễn Trãi sau lúc nhà Hồ mất. Thỉnh thoảng mỗi người có ghé về Côn Sơn, và trong một lần tình cờ họ đã gặp nhau. Hai huynh đệ sớm cùng chí hướng đưa đến quyết định tôn phò Lê Lợi.

      Trong ba vị khách chỉ có một mình Nguyễn Chích đi về với trên 300 quân, nên tình hình quân sự cũng không có gì thay đổi. Nỗi gian nguy vẫn rình rập trên từng vuông đất, chưa biết lúc nào quân địch sẽ tấn công. Không đợi lâu, nó đã đến chỉ một tháng sau. Dẹp được các “loạn quân” miền bắc và Nghệ An, Lý Bân chú tâm trở lại Lam Sơn. Họ Lý thấy lực lượng nầy nguy hiểm hơn bất cứ lực lượng nào. Ông ta đã phát hiện ra “Bình Định vương giả” đã chết, và một Bình Định vương thật đang điều binh khiển tướng. Lý Bân quyết tâm tận diệt.

       Tháng 10 năm 1421, một lực lượng dữ dội tấn công Lỗi Giang. Một vạn binh Đông Quan, một vạn binh Tây Đô, một vạn binh Nghệ An đặt dưới quyền chỉ huy của tham tri tướng quân Mã Kỳ. Họ Mã có các tướng phụ tá: Trần Trí, Sơn Thọ và Phương Chính. Bên cạnh đó, tổng binh lực nầy còn được quân Ai Lao của Là Ma Sát trợ giúp. Trước một lực lượng hùng hậu Minh – Lào, Lỗi Giang chỉ như hạt bụi trước cuồng phong. Chỉ có mở đường máu để thoát ra, chứ không thể nào cầm cự với một lực lượng lớn hơn đến 25 như thế. Trong con đường tìm sống nầy họ dồn hết lực lượng đánh vào đạo quân Nghệ An của Phương Chính. Trong một đêm tối mùa xuân năm 1422 quân Lam Sơn mở đường máu chạy được về rừng Chí Linh. Rất tiếc chiến trường đã cướp đi hàng ngàn quân sĩ, trong đó có Lê Thạch. Vị nầy là một tướng trẻ tài ba gọi Bình Định Vương bằng chú ruột. Lê Thạch còn là người bạn thân với Lê Tư Tề, con trai trưởng của Bình Định Vương.

      Thắng trận, mỗi nơi đều rút quân về. Lý Bân chỉ giữ tướng Sơn Thọ cầm một vạn quân bao vây Chí Linh. Đây là lần thứ 3 quân Lam Sơn bị vây ở núi rừng tây bắc Thanh Hoa nầy. Lần nầy không có ai đóng vai Lê Lai như lần thứ nhì, nhưng có một tài ba Nguyễn Trãi. Ông đề nghị phô trương thanh thế trong lòng Chí Linh để làm sức mạnh mà cầu hòa. Theo đó, cho đốt rừng làm rẫy chứ không chỉ tìm những khoảnh đất trống nhỏ hẹp như hai lần trước. Quân Minh ở ngoài đã nhiều lần thấy khói bay lên ở nhiều nơi, và có cả tiếng cồng chiên của người Mường, người Thái. Cái dấu hiệu đó chỉ ra rằng có một sức mạnh, nhưng nhiều lúc Bình Định vương cùng các tướng lãnh phải nhịn đói. Tình trạng phô trương thanh thế ở phía trong, và bao vây ở phía ngoài của hai bên đối địch đã kéo dài suốt 4 tháng. Nhiều lần quân của Sơn Thọ tiến sâu vào rừng,  những đám khói còn đó, nhưng không thấy nghĩa quân Lam Sơn ở đâu. Quân Minh không chết vì gươm giáo mà chết vì những hầm chông. Họ thường hành quân ở bìa rừng để tránh những thiệt hại. Cả hai bên đều có cái tết nhâm dần thiếu thốn và nguy hiểm ở rừng Chí Linh. Cả hai đều mỏi mệt. Không ai biết tình trạng nầy kéo dài bao lâu. Đột nhiên chỉ vừa sang tháng 2 năm 1422 ít ngày thì có sự thay đổi.

      Đầu tháng 2 tổng binh Lý Bân thình lình đột tử. Mã Kỳ được triệu về Đông Quan, nhưng triều đình Yên Kinh không nói họ Mã có thay cho Lý Bân hay không. Ở Tây Đô quyền hành được giao cho Sơn Thọ. Ông nầy không năng nổ như Lý Bân, Mã Kỳ hay Trần Trí, đó là dịp để Nguyễn Trãi bắn tiến cầu hòa. Dễ dàng được chấp thuận. Tháng 6 năm 1422 đoàn quân bao vây Chí Linh rút về Tây Đô. Dĩ nhiên vẫn để lại những tiền đồn ở miền tây nầy. Đổi lại, quân Lam Sơn được trở về Lam Sơn với điều kiện không chống đối nhà Minh. Hai bên đang lừa dối nhau vì cả hai đều biết đối phương không thành thật. Sơn Thọ muốn dụ quân Lam Sơn ra đồng trống để dễ tiêu diệt. Nguyễn Trãi muốn củng cố binh lực. Lúc nầy Bình Định Vương đưa quân về Lam Sơn và lũng Nhai nhưng không động binh. Thậm chí ông và Sơn Thọ có những giao hảo tốt. Trong năm 1423 họ cho cả trâu dê và ngựa lẫn nhau. Trong tháng 11 năm 1423 yên bình nầy, Bình Định vương có thêm một đứa con trai nữa từ người vợ thứ họ Phạm. Cậu bé nầy được đặt tên Lê Nguyên Long, và cách người anh cả khác mẹ Lê Tư Tề ít nhất 16 tuổi. Tình trạng yên ổn như thế kéo dài đến giữa mùa thu năm 1424 thì có biến. Đầu tháng 8 một số dân phu khai thác mỏ nổi loạn ở Tây Đô. Bình Định vương sai tướng Lê Trăn đến giàn xếp. Sơn Thọ nghi ngờ Lam Sơn đứng sau lưng cuộc bạo loạn nên đã giết vị tướng họ Lê, và tàn sát dân phu. Đó là nguyên nhân gần để hiệp ước tan vỡ. Lam Sơn tấn công.

      Người ta tưởng Bình Định vương tiến về Tây Đô để trả thù, nhưng không phải. Quân đội Lam Sơn tiến về hướng nam. Đây là kế hoạch của Nguyễn Chích. Kế hoạch nầy được Nguyễn Trãi tán đồng và Bình Định vương Lê Lợi mau chóng chấp thuận. Khởi đầu ngày 20 tháng 9 năm 1224, quân Lam Sơn tấn công thành Đa Căng. Thành nầy thuộc Nghệ An nhưng nằm sát biên giới Thanh Hoa. Nó trơ trọi giữa vùng đất sỏi đá do hàng tướng Lương Nhữ Hốt chỉ huy. Căn cứ nầy mau chóng thất bại. Qua nửa canh giờ chiến đấu, họ Lương chạy thoát được, nhưng Đa Căng bị phá huỷ. Tướng tiếp viện Nguyễn Hoa Anh đến quá muộn màng. Số phận ông nầy không may mắn như Lương Nhữ Hốt. Ông và số quân ít ỏi bị quân Lam Sơn phục kích giết chết.

      Sau Đa Căng, Lam Sơn lần lượt thắng các trận Bồ Đằng, Bồ Ải, Bồ Liếp. Tất cả những cứ điểm nầy đều nằm dọc miền sơn cước phủ Nghệ An. Chúng là vệ tinh của căn cứ lớn Trà Lân phía dưới. Trà Lân là tên một châu của phủ Nghệ An mà trước đó có tên Nam Nhung rồi Mật Châu. Nó nằm bên tả ngạn thượng nguồn sông Lam. Tại đây tướng thủ thành là Cẩm Bành kháng cự trong điều kiện thiếu thốn, cô lập. Quân lính các đồn lẻ tẻ đến tiếp trợ đều bị quân Lam Sơn chận đánh. Hơn một tháng bị bao vây và bị tiêu diệt cả ngàn quân sĩ, Cẩm Bành đầu hàng. Riêng quân Lam Sơn cũng đã hy sinh gần một trăm người trong đó có Vũ Uy, một nghĩa sĩ của hội thề Lũng Nhai.

      Chiếm được Trà Lân, Lam Sơn làm chủ được được miền trung du. Bước kế tiếp là tiến về miền duyên hải Nghệ An tức Diễn Châu. Thành phủ trị Nghệ An hay còn gọi là thành Diễn Châu còn cách chừng trên 30 cây số. Con đường xuôi đông đã bị cản trở ở ải Khả Lưu. Tại đây quân Lam Sơn gặp quân Minh trên đường tái chiếm Trà Lân. Trần Trí, Hoàng Thanh mang quân từ Tây Đô. Phương Chính, Chu Kiệt, Thái Phúc mang quân từ Diễn Châu. Một cuộc phục kích đưa đến phần toàn thắng về phần Lam Sơn. Tướng Nguyễn Chích đã giết tướng tiên phong Hoàng Thanh ở cửa ải phía tây. Tướng Trần Nguyên Hãn đã bắt sống tri phủ Chu Kiệt trong đoàn quân phía đông. Chỉ qua một đêm quân Minh đã chết lên tới hàng ngàn người. Tướng Trần Trí và đô đốc Phương Chính kéo được tàn quân về Diễn Châu. Họ đóng cổng thành cố thủ.

      Thành Diễn Châu nằm trên bờ nam sông Bùng và cách cửa biển Lạch Vạn chưa đầy 2 cây số. Thời tiết vừa qua mùa đông, mùa xuân ất tỵ 1425 đang đến. Bầu trời trong xanh yên bình, nhưng quân đội hai bên đang rình rập nhau. Quân Lam Sơn đã chiếm được hào lũy phía ngoài, và sẵn sàng tấn công. Nhiệm vụ của họ là phải lấy lại cái thành ở ven biển nầy. Nó không giống như Trà Lân. Nó kiên cố hơn. Từ các hào lũy bao bọc phía ngoài tiến vào bờ tường gạch phía trong là những khoảng đất trống. Quân Lam Sơn đã nhiều lần vượt qua nhưng đều bị những trận mưa tên đẩy lui. Nguyễn Trãi cũng chưa có kế hoạch gì tấn công được thành. Thời gian đã qua đi 10 ngày, nửa tháng rồi một tháng, tiết trời đã vào tháng 3 âm lịch. Bình Định Vương không muốn kéo dài thời gian bao vây. Ông quyết định tấn công một mặt thành để dành chiến thắng dù có thiệt hại. Kế hoạch ấy chưa được thực hiện thì hay tin quân tiếp viện nhà Minh đương kéo đến.

      Ba trăm chiến thuyền chở 5 ngàn quân sĩ và lương thực từ Đông Quan sẽ cập bến cửa biển Lạch Vạn. Tham tri tướng quân Lý An và đô ty Trương Hùng là chánh phó soái đạo quân nầy. Một cuộc giao tranh không thể nào tránh khỏi. Từ cửa Lạch Vạn đến thành Nghệ An đều có quân của Lam Sơn mai phục. Họ đang chờ những tiếng trống lệnh tấn công mà họ đã học được ở Mường Húng, ở Lũng Nhai. Và, điều đó đã đến. Một sáng tinh mơ đầu tháng 4 năm 1425, năm ngàn thuyền binh đổ bộ. Chúng không tiến sâu từng nhóm để bị phục kích mà là đồng loạt. Năm ngàn quân xuống thuyền, 5 ngàn quân trực chỉ thành Diễn Châu. Chiến trận lập tức diễn ra theo tiếng trống thúc quân của Bình Định vương. Các tướng Lê Sát, Phạm Vấn, Đinh Lễ, Lê Khôi, Trần Nguyên Hãn chỉ huy đạo quân của mình cắt quân giặc ra nhiều mảnh nhỏ để tiêu diệt. Quân Minh cũng không vừa, Lý An chia quân ra đối địch. Hai bên kịch chiến ngang ngửa trên từng con dốc, từng bờ mương, từng nền nhà. Khi trời hừng sáng thì không ai biết bao nhiêu người đã chết, nhưng quân Minh bắt đầu yếu thế. Họ bị giạt về hướng bờ sông Bùng, và quân nhà Lê đuổi theo.

      Chính điều nầy đã giúp cho quân của Trần Trí, Phương Chính ở trong thành có cơ hội mở đường máu thoát ra ngoài. Chúng hiệp sức với một đạo quân Minh từ căn cứ Đỗ Gia tiến tới. Cánh lính Tàu lâu nay bị bao vây lên tinh thần. Nhưng ngay lúc ấy quân Lam Sơn được sự tiếp sức của dân quân từ nhiều nơi đổ về, đông hơn rất nhiều lần. Nguyễn Trãi đã vận dụng kế sách của ông từ trước. Đặc biệt trong đám dân quân tham chiến ấy có 3 ngàn binh lính của tri châu Ngọc Ma là Cầm Qúy đến giúp. Trong hàng ngũ nầy có một người tên Trần Cảo mà binh lính của họ Cầm đùa rằng ông ta là một hoàng tử nhà Trần. Tiếng reo hò, tiếng gươm đao tiếp tục chạm nhau át hẳn những cơn gió giông chuẩn bị cho một chiều mưa ven biển. Chiến trường bên bờ sông Bùng, bên thành trị Nghệ An, bên cửa Lạch Vạn đẫm máu. Một canh giờ, hai canh giờ trôi qua, trận tuyến cứ dồn về phía quân Minh. Quân đội viễn chinh không còn tinh nhuệ nữa. Khi những hạt mưa đầu tiên rời rạc rớt xuống và mùi hơi đất bốc lên, một toán quân Minh gần bờ sông Bùng tháo chạy. Nó như một nút chặn được rút đi, quân Minh ào ào chạy theo. Người ta chết vì tranh nhau lên thuyền và tranh nhau qua cầu cũng nhiều như bị chết vì chiến đấu. Tổng số lên tới cả ngàn người, nhưng  bọn chỉ huy quân Minh đều được may mắn thoát được. Trần Trí, Lý An lên thuyền ra biển. Trương Hùng, Phương Chính dẫn quân băng sông Bùng, qua núi Mộ Dạ chạy bộ về hướng Tây Đô.

       Chiến trận Diễn Châu vừa dứt, Bình Định vương ra lịnh các tướng Lê Sát, Đinh Lễ, Lê Nhân Chú, Trịnh Khắc Phục, Lý Triện, Phạm Vấn dẫn bộ binh trực chỉ Tây Đô. Cuộc chiến ở thành tây nầy diễn ra 10 ngày sau. Lúc nầy đạo quân bộ của Trương Hùng lạc ở đâu đó vẫn chưa về. Trong thành, quân Minh hoảng sợ đóng cửa cố thủ. Quân Lam Sơn bắc thang qua tường mà không bị một mũi tên nào từ trong cung Minh Đạo ngày xưa bắn ra. Bộ chỉ huy còn lại của quân Minh đã trốn biệt. Quân tướng nhà Lê lục soát, chiêu hàng quân Minh lên cả ngàn người. Số thương vong cũng tới hàng trăm, và không còn ai kháng cự. Tây Đô trở về trong tay nhà Lê sau 25 năm. Nó không còn là hành dinh phía nam Giao Chỉ của nhà Minh. Nó cũng không còn được nghe ai gọi là thủ đô của nhà Hồ.

      Khi hay tin lấy lại được Tây Đô, Bình Định vương cử tướng Trần Nguyên Hãn, tướng Lê Khôi và Lê Bồ Đà mang 5 ngàn quân tiến vào Tân Bình, Thuận Hóa. Trên đường xuôi nam xa xôi nầy không gặp lực lượng mạnh nào của quân Minh. Các địa danh Cửa Lò, Cửa Hội, Kẻ Vang (Vinh), Hồng Lĩnh, Thiên Cầm, Kỳ Hoa, Hoành Sơn, quân của Trần Nguyên Hãn đều đi qua dễ dàng. Các đồn lũy quân Minh ở các nơi đây đều qui phục hoặc bị đánh tan tác. Đến sông Bố Chính (sau nầy gọi sông Gianh) thì tình hình đổi khác. Tướng Nhậm Năng của nhà Minh trấn đóng ở đây đã cầm giữ bước tiến của Trần Nguyên Hãn trong nhiều ngày. Họ Trần phải cầu viện binh từ Nghệ An, nhưng đồng lúc ông cũng lừa địch loại trừ được Nhậm Năng. Trần Nguyên Hãn và Lê Khôi cho ổn định tình hình bắc sông Bố Chính, và lúc nầy họ gặp quân tiếp viện. Lê Ngân, Lê Bôi và Lê Văn An mang 3 ngàn quân trên 70 chiến thuyền cập cửa sông Bố Chính. Bên kia sông là địa giới phủ Thuận Hóa mà con đường nam chinh của quân Lam Sơn phải tiếp tục thu về. Rất may suốt đoạn đường tái chiếm nầy không có sự kháng cự của quân Minh. Các đồn binh Đồng Hới, Sái Già, Lăng Cô, Hải Vân, Cu Đê đều qui hàng. Quân Lam Sơn đã gần như lấy lại lãnh thổ cực nam của Đại Việt dưới thời Trần Anh Tông, chỉ trừ một số đồn lũy lẻ tẻ.

      Từ tháng 9 năm 1424 chiếm đồn Đa Căng đến tháng 10 năm 1425 qua khỏi Hải Vân, quân Lam Sơn không thiệt hại nhiều. Chỉ trong 13 tháng chiến trường miền nam đã giải quyết.  Điều mau chóng nầy có được vì nghĩa quân một lòng chiến đấu, và nhờ vào tài điều binh của các tướng lãnh Lam Sơn. Tuy nhiên cũng không quên trong giai đoạn nầy hầu như các đơn vị quân Minh đều bị cô lập. Họ tự túc chiến đấu và không được tiếp ứng kịp thời. Điều nầy được thấy ở căn cứ Đa Căng: Lương Nhữ Hốt chạy đi xa rồi, Nguyễn Hoa Anh mới mang quân tiếp viện tới. Họ Nguyễn đã bị phục kích khi còn ngơ ngác không biết quân tướng của thành Đa Căng đã về đâu. Ở thành Trà Lân: Hơn một tháng bị bao vây, Cẩm Bình đã đầu hàng, mà quân của Trần Trí, Phương Chính mới đến được ải Khả Lưu. Ở thành Diễn Châu: Lý An mang 300 chiến thuyền từ Đông Quan đến tiếp ứng quá chậm. Ở thành Tây Đô: Không thể chiến đấu vì quân số quá ít. Ở Bố Chính: Hoàn toàn không có quân tiếp viện. Tất cả những điều tệ hại nầy do có một lổ hổng quyền lực ở Đông Quan. Sử ghi rằng tổng binh Lý Bân chết tháng 2 năm 1422 và người kế nhiệm là Vương Thông được đưa sang tháng 9 năm 1426. Trong thời gian  hơn 4 năm đó không ai có quyền hạn cao nhất về quân đội ở Đông Quan cả. Hai tham tri Mã Kỳ và Trần Trí đều không được nghe nói tới được chọn một trong hai làm tổng binh. Binh bộ thượng thư Trần Hiệp sang thay lão quan Hoàng Phúc cũng không được nghe nhắc tới. Điều thiếu sót nầy xảy ra vì Yên Kinh có những bận rộn khác: Minh Thành Tổ chết vào tháng 2 năm 1424, Chu Cao Sí lên thay cha tức Minh Nhân Tông. Ông nầy phải lo giải quyết chiến trường chinh phạt Mông Cổ mà cha ông theo đuổi. Bên cạnh đó, nhà vua nầy đang sửa đổi một chính quyền quân phiệt bằng một chính quyền dân sự. Cải tổ chưa xong thì ông bị bịnh tim qua đời vào tháng 5 năm 1425. Người con là Chu Chiêm Cơ lên thay tức Minh Tuyên Tông. Ông vua nầy vừa lên ngôi phải lo dẹp loạn do chính người em ruột  Chu Cao Hú gây ra. Tình hình diễn biến như thế, nên hầu như Đông Quan bị bỏ quên. Nó đã giúp cho Bình Định vương dễ đạt được những thành công liên tiếp từ chiến trận đồn Đa Căng đến chiến trường châu Diễn, Tây Đô, Tân Bình Thuận Hóa. Đó là ý trời. Nguyễn Trãi đã nghĩ đến niềm tin nầy để có những chiếc lá trôi sông với huyền thoại quân thần Lê – Nguyễn.

 

Hồ bị diệt thân đành vong xứ
Hậu Trần đâu nay đã không còn
Trông lên đường núi đường ra biển
Ai đã vì đời cứu nước non

Làng Đông Sơn có người họ Nguyễn
Đất Lam Sơn có kẻ họ Lê
Chiêu binh nhuốm lửa rừng Thanh Hóa
Non nước hôm nao một đợi về

Người Đại Việt họ Lê buổi ấy
Gọi sông Chu gọi đất Lam Sơn
Rằng quân Ngô ấy giày đất tổ
Đốt lửa lên mà trả căm hờn

Bính thân ngày mão tháng hai về (15/3/ 1416)
Hồn linh tiên tổ dặm sơn khê
Thắp tạ đất trời xin phù hộ
Lũng Nhai mừng gặp những hồn quê

Ba mươi mốt tuổi, thề, Lê Lợi
Cùng đệ huynh Lê Lý, Lê An
Lê Lai, Trương Chiến, Lê Văn Liễu
Đất Lam Sơn, hậu thổ địa hoàng

Vòng tay lớn nối vòng kiệt sĩ
Đâu Vũ Uy, Trịnh Khả, Trương Lôi
Đâu Lưu Nhân Chú đâu Đinh Lễ
Về lũng Nhai nối dặm lũng đồi

Nguyễn Nhữ Lãm, Lê Bôi, Lê Thận
Bùi Quốc Hưng, Đinh Liệt, Lê Lan
Lê Văn Linh, Lê Triện khắp ngàn
Lửa huynh đệ Lũng Nhai thắp sáng

Lòng rạng rỡ nhưng thời chưa đủ
Mài kiếm cung mài chí Lam Sơn
Bên lòng đáy nước sông Chu ấy
Rừng lá Pù Rinh cũng dậy hờn

Cơn gian khó mấy mùa thao dượt
Trống bên đông cờ luyện bên tây
Bao giờ thử sức cùng cung kiếm
Cho thỏa bình sinh vận hội nầy

Vương Lê Lợi đông tây trải rộng
Bắc Vân Am, nam tới Xuân Phù
Lam Sơn rừng thấp bao đông hạ
Đã mấy mùa qua lá chiến khu

Lão Mã Kỳ, Tây Đô phủ dụ
Mang vạn quân uy hiếp nghĩa quân
Nhưng khinh địch thua bờ Lạc Thủy
Kẻ xâm lăng tức giận bừng bừng

Trận Mường Một quân Minh đại thắng
Trận Lỗi Giang đâu những Lam Sơn
Lòng tuy vững nghĩa quân đại bại
Về nơi đâu gói lại căm hờn

Đâu những lúc Chí Linh nếm mật
Đâu những khi Lạc Thủy chơi vơi
Trăng tàn mấy độ đầu sương điểm
Giữ lửa niềm tin rạng đất trời

Rừng xanh biếc lòng người vời vợi
Chuyện áo cơm gánh nặng lao đao
Chuyện tử sinh ngờm ngợp khí hào
Đã mấy trải những đời giông bão

Vây tứ phía giặc thù vô số
Người Lam Sơn ngày tháng về đâu
Giấc mơ hoa thấm đẫm cơ cầu
Nửa hạt muối hạt cơm gian khó

Vòng thắt chặt phận người bỗng nhỏ
Củ mài non độ nhật tháng ngày
Đêm thanh cao đứng ngắm trăng bay
Người vị quốc Lê Lai thay áo

Trời vô lượng xa cao vô tận
Chuôi gươm nầy Lê Lợi ghi tâm
Trăng nghiêng mờ sáng sương rơi điểm
Tiễn biệt người đi cật ruột bầm

Lệ không chảy mà lòng đã vỡ
Lời không trao mà ý thênh thang
Rừng Chí Linh xuất chiến gió ngàn
“Chúa Lê Lợi” Lê Lai dày dạn

Trận xuất chiến giữa lòng Năng Cát
Hồn cồng chiêng vị quốc hy sinh
Đâu Lam Sơn đâu những ân tình
Nghĩa son sắt không chờ chiến thắng

Bình Lam Sơn, Mã Kỳ về bắc
Bờ Lỗi Giang, Lê Lợi chuộng tài
Ai là Nguyên Hãn, ai Nguyễn Trãi
Người Côn Sơn góp sức chung vai

Trần Nguyên Hãn, vương Trần hậu duệ
Mấy phong ba lưu lạc nơi nào
Anh em qua cát cùng Nguyễn Trãi
Những mười năm dâu biển lao đao

Chàng Nguyễn Trãi nhân tài hiếm có
“Sách Bình Ngô” đi suốt can qua
Nhân tâm mưu lược trên từng bước
Phò quân vương từng mỗi quan hà

Tướng Nguyễn Chích sa bàn từng lập
Bình định vương còn chút phân vân
Những chàng hậu duệ Côn Sơn đến
Tiến phương nam nào có ngại ngần

Đồn Đa Căng sông Chu hữu ngạn
Trận mở đầu xứ Nghệ trung du
Thành kia ai đắp mà không giữ
Cháy mênh mang khói bụi mịt mù

Diệt Đa Căng tiến về Bồ Ải
Trận Bồ Đằng, Minh tướng buồn hiu
Ngàn quân bị diệt trên đồi núi
Kéo chạy về đâu nắng thẩm chiều

Trải một dọc trũng sâu đất núi
Đâu Trà Lân đâu những Nam Nhung
Đâu Khả Lũy, Diễn Châu cát trắng
Đâu quân Minh đâu những cuối cùng

Lấy đất Nghệ miền nam cô lập
Đất Tân Bình, Thuận Hóa lung lay
Lê Khôi tiếp sức Trần Nguyên Hãn
Diệt Nhậm Năng, Minh tướng một ngày

Trước buổi ấy đất trời Thanh Hóa
Thành Tây Đô, Đinh Lễ bao vây
Lưu Nhân Chú, Lê Ninh phụ trận
Tướng nhà Minh ai biết vận nầy

Đâu Trần Trí, Mã Kỳ xâm lược
Buổi đông sang phải bỏ Tây Đô
Hai mươi năm ai mất cơ đồ
Những núi Đốn Tây Đô hoàn Việt


<<  |  >>