Skip to content

Chương 15/9

NHÀ TRẦN
(1225 – 1400)

Đoạn chín

TRẦN NHẬT LỄ GẶP TRẦN NGHỆ TÔNG

      Khi vua Trần Dụ Tông nằm xuống, thì Nghi Thánh hoàng hậu công bố di chiếu của nhà vua. Theo đó thì người cháu Trần Nhật Lễ gọi vua Dụ Tông bằng chú ruột được lên ngôi. Triều đình vương thân có nhìều người không bằng lòng. Theo họ, Trần Nhật Lễ không phải dòng dõi tôn thất. Mẹ của Trần Nhật Lễ là một đào hát đã có thai với chồng là kép hát Dương Khương mà Cung Dục vương Trần Nguyên Dục say mê. Ông thân vương nầy ép Dương Khương nhường vợ cho mình. Chuyện nầy có thể là thật vì bản thân Trần Nguyên Dục có rất nhiều tai tiếng từ lúc nhỏ. Từ lâu tôn thất họ Trần vẫn dấu chuyện nầy, và mọi chuyện cũng qua. Đến khi Trần Nhật Lễ được chọn làm vua thì mới sinh dị nghị.

      Tuy nhiên điều dị nghị nầy không làm suy suyển ý nghĩ của Hiến Từ thái hoàng thái hậu. Bà không nghi ngờ gì Trần Nhật Lễ, đứa cháu nội trai duy nhất của mình. Đứa con trai đầu Trần Nguyên Dục hư hỏng, đứa con trai út (Dụ Tông) được chọn làm vua mà lại không nên thân, bà buồn lắm. Dòng chính bây giờ không phải chỉ còn một mình Trần Nhật Lễ đó hay sao?  Bà quyết định tôn trọng di chiếu, và thái úy Cung Tĩnh vương Trần Nguyên Trác là người đầu tiên ủng hộ vị đích mẫu của mình. Tiếng nói của thái hoàng thái hậu rất có trọng lượng, nên sau đó triều thần đều nghe theo.

      Tiếng dị nghị rồi cũng qua. Tháng 7 năm 1369 Trần Nhật Lễ lên ngôi và đặt niên hiệu là Đại Định.  Khi chưa làm vua, Nhật Lễ đã hoài nghi thân thế của mình. Qua nhân dáng và những lúc kể chuyện xa gần của người mẹ, ông biết mình không mang dòng máu họ Trần. Điều đó làm ông thương người cha ruột hiện đang lưu lạc ở một phương trời nào đó. Khi có quyền hành trong tay, ông bí mật sai người thân tín đi tìm nguồn cội của mình. Chẳng bao lâu Dương Khương được về kinh, và vua Đại Định tấn phong người cha ruột của mình thành một vị quan. Dương Khương giữ chức Lệnh sư gia của triều Đại Định. Chức vụ nầy chẳng phải là chức vụ của triều đình. Nó chỉ hàm ý ở trong nhà, nhưng nó xác nhận ai giữ chức nầy là người thân cận ruột thịt của nhà vua. Điều đó có khác gì nó xác nhận họ Dương đương ở ngôi thiên tử. Đây là một sỉ nhục cho tôn thất nhà Trần.

      Tình hình trở nên bất ổn, làm Hiến Từ thái hoàng thái hậu lo sợ những điều ân oán xảy ra. Bà chạnh nhớ đến cái án chùa Tư Phúc năm nào. Nó đã làm mất người cha thân yêu của bà và người gia nhân vô tội Trần Phẫu. Bà không muốn có một cuộc tranh giành đổ máu mà nạn nhân có thể là đứa cháu nội của bà. Bà thương đứa cháu, dù rằng bây giờ có thể là không phải. Bà khuyên vua Nhật Lễ nên đưa Dương Khương ra ngoài vì tài năng chứ không đá động gì đến huyết thống. Chính lòng tốt nầy đã đưa đến cái cái chết của bà. “Trước hàng vương thân, tiếng nói của bà không ai dám cãi lại. Làm sao biết bà không xúi dục bọn kia truất phế mình. Khi sự việc chưa trầm trọng ta nên ra tay trước” Trần Nhật Lễ nghĩ thế và cho người thân tín đầu độc Hiến Từ thái hoàng thái hậu. Trong một đêm giữa tháng 12 năm 1369, người bà nội hiền từ nầy ngủ say và không bao giờ trở dậy nữa.

      Cái chết của Hiến Từ thái hoàng thái hậu như là cái chết bình thường của một người đàn bà ở độ tuổi 60. Nhưng, không có chuyện gì dấu được trong hậu cung. Chín tháng sau qua những nhỏ to từ cung nữ, sự việc tưởng đã yên bỗng thức dậy. Người ta tìm dần ra một bí mật: Đứa cháu nội, vua Đại Định Trần Nhật Lễ đã cho người bỏ thuốc độc trong bữa cơm tối cuối cùng của bà nội mình. Thái úy Cung Tĩnh vương Trần Nguyên Trác bật khóc vì thương tiếc người đích mẫu. Nguyên Trác nhớ lại khi hoàng tử Vượng và hoàng tử Phủ được cưng chiều, mà vua cha Minh Tông không để ý đến ông. Ông chỉ là con của một tài nhân vô danh, chịu số phận hẩm hiu cho đến khi Lệ Thánh hoàng hậu trở thành Hiến Từ hoàng thái hậu. Trong đối đãi với các dòng con, bà không phân biệt chánh hay thứ. Nguyên Trác đã nhận được cái ân từ của bà rõ ràng nhất.

      Cung Tĩnh vương bí mật liên lạc với các tôn thất thân tín trừ khử Trần Nhật Lễ. Một đêm, họ bất thần đột nhập vào thẩm cung. Yếu tố bất ngờ làm Cung Tĩnh vương nghĩ rằng sẽ dễ thành công. Rất tiếc lại không được như thế. Hai con trai của công chúa Thiên Ninh và hai cha con ông đều bị lộ lúc nửa đêm, vừa khi Trần Nhật Lễ kịp chạy thoát. Lập tức quân cẩm vệ của Trần Nhật Hạc phản công và tất cả 18 người đều bị bắt. Họ bị xử tử ngay ngày hôm sau vì tội thí quân.

      Vua Đại Định Trần Nhật Lễ cho truy lùng gắt gao những kẻ tình nghi, làm triều đình hoảng sợ. Nhiều hoàng tử, công chúa, vương thân đã chạy ra khỏi hoàng thành, nhưng Cung Định vương Trần Phủ cứ chần chờ. Cái cá tính không quyết đoán đã làm cho ông giằng co. Điều nầy làm cho các thuộc hạ thân tín của ông  phải quyết định giùm ông. Trưởng cục chi hậu Lê Quý Ly và chi hậu nội nhân Nguyễn Nhiên là hai người đã làm điều đó. Họ bí mật đưa ông ra khỏi hoàng thành. Cuộc lưu lạc kéo dài nhiều ngày và cuối cùng tôn thất nhà Trần cũng tập trung được ở bờ sông Đại Lại, Thanh Hoa. Ở đó gồm có các vị thân vương nòng cốt: Cung Định vương Trần Phủ, Cung Tuyên vương Trần Kính, công chúa Thiên Ninh (Ngọc Tha), Chương Túc hầu Trần Nguyên Đán và thái bảo Trần Nguyên Hàng.

      Thanh Hoa là quê hương của Lê Quý Ly. Chính người trưởng cục chi hậu nầy đã đưa những người tòng vong về đây. “Ở Thanh Hoa sẽ an toàn và kêu gọi được quân đội phía nam và đông nam. Nó sẽ dễ dàng hơn ở mặt tây bắc hoặc đông bắc, nơi có nhiều sắc dân Tày, Nùng và Thái. Những sắc dân nầy chưa chắc sẽ ủng hộ nhà Trần lúc hữu sự.”. Cái nhận xét nầy của Lê Quý Ly, làm Cung Định vương thấy có một tài năng ở người em họ ngoại nầy. Từ đó họ Lê được dự những cuộc họp tham mưu để chống lại ngụy triều Đại Định Trần Nhật Lễ. Nhiều ý kiến được đưa ra và họ thống nhất ở 3 điểm: Thứ nhất: Cung Định vương Trần Phủ là người có vai vế lớn nhất được chọn làm người lãnh đạo cuộc chiến. Thứ hai: không đưa cuộc chiến trở thành chiến tranh giữa hai quân đội nhà Trần. Thứ ba: thuyết phục thiếu uý Trần Ngô Lang, vị tướng quân trấn thủ thành Thăng Long về với quân kháng chiến.

      Nếu được Trần Ngô Lang ủng hộ sẽ tránh được đổ máu rất nhiều. Điều nầy rất quan trọng, nhưng không có ai trở về Thăng Long thích hợp hơn Lê Quý Ly. Lúc nầy Quý Ly chỉ như là hạt bụi trong vườn cây. Không ai biết đến ông quan chi hậu 33 tuổi nầy, nên dễ dàng đi lại. Bên cạnh đó, ông có những người bạn đồng môn hiện đang là thuộc hạ của Trần Ngô Lang. Những người bạn cũ tưởng đã quên như  Phạm Cự Luận, Nguyễn Đa Phương… bỗng lại hiện về trong trí họ Lê. Trong mấy thời gian sau nầy, Lê Qúy Ly ít liên lạc với những bạn đồng môn cũ. Ông không biết họ giữ chức vụ gì trong đạo quân bảo vệ kinh đô, do đó việc đầu tiên là ông đến tìm sư phụ Nguyễn Sư Tề ở ngoại thành Thăng Long.

      Qua sư phụ Sư Tề, Lê Qúy Ly sớm gặp hết những bạn đồng môn cố cựu. Họ rất nặng tình huynh đệ, nên họ trở thành mấu chốt thuyết phục Trần Ngô Lang. Nhưng, điều quan trọng vẫn là bản thân Trần Ngô Lang có chịu mình là một vương thân họ Trần trong lúc nầy hay không? Lê Quý Ly đã dùng miệng lưỡi của mình nói về tình yêu thương dòng tộc của Cung Định vương Trần Phủ. Dĩ nhiên trong tình yêu thương đó có dành cho quan trấn thủ kinh đô Trần Ngô Lang. Quan trấn thủ họ Trần cảm động, và quyết định theo quân chỉnh lý. Phạm Cự Luận và Nguyễn Đa Phương đã đặt ra tình huống xấu nhất là Lê Qúy Ly bị Trần Ngô Lang bắt giam. Họ sắp đặt một cuộc động binh để cứu họ Lê. Đó là thứ tình huynh đệ của con nhà võ, nhưng điều đó không xảy ra.

      Chuyến đi của Lê Quý Ly thành công. Các lộ quân ở miền đông và miền nam cũng hướng ứng phù Trần.  Bây giờ thì người ta không cần che dấu sự tiếm ngôi của vua Đại Định. Họ cáo thị cho các nơi biết rằng Trần Nhật Lễ vốn có họ Dương và là người đã giết Hiến Từ thái hoàng thái hậu. Tinh thần phù Trần diệt Dương được các lộ quân tán thành kể cả những lộ quân miền bắc. Từ nhiều năm qua chưa bao giờ người ta thấy khí thế Thăng Long sôi nổi đến như vậy. Gươm giáo tràn đầy giữa một ngày mùa đông từ các nơi kéo về. Đó là ngày 1 tháng 12 năm 1370. Hoàng thành bị bao vây. Sau lưng Cung Định vương Trần Phủ có hàng vạn giáo gươm giơ lên, trong đó có đông đảo những giáo gươm của đơn vị bảo vệ Thăng Long của Trần Ngô Lang.

      Trước một lực lượng mà từng loạt đơn vị như từng loạt sóng cồn, vua Đại Định Trần Nhật Lễ nhận biết tình hình. Ông ta thù ghét Trần Ngô Lang đang đứng trước mặt, nhưng đành khuất phục. Toàn bộ quân cẩm vệ của Trần Nhật Hạc đều buông gươm. Ông nầy bị xử chết vì đã bắt giam Cung Tĩnh vương Trần Nguyên Trác và 17 người hoàng thất. Bản thân Trần Nhật Lễ bị giáng xuống làm Hôn Đức công, nhưng sau đó cũng không thoát án tử hình. Không ai nhắc đến số phận của hoàng hậu vợ vua Đại Định, bà nguyên con gái của Cung Định vương Trần Phủ. Trong niềm vui nhiều khi ẩn dấu một nỗi buồn. Hy vọng bà chưa sinh con để sau nầy không kéo theo một mối hằn ân oán.

      Trong cùng ngày 1 tháng 12 năm 1370, Cung Định vương Trần Phủ được tôn lên làm vua tức vua Trần Nghệ Tông. Lúc nầy ông đã 49 tuổi và tình hình Đại Việt vẫn tiếp tục đi xuống. Ở phương bắc, Chu Nguyên Chương đã thống nhất nước Tàu. Người dựa vào Hồng Cân quân để đi lên nầy đã trở thành Minh Thái Tổ. Nguyên Huệ Tông của nhà Nguyên phải chạy về Ứng Xương rồi chạy về Mông Cổ thành lập triều đình Bắc Nguyên. Sau khi làm chủ cả một đại lục mênh mông, Minh Thái Tổ quyết định dời đô từ Đại Đô xuống Ứng Thiên (Nam Kinh). Lúc này Ứng Thiên còn lo kiện toàn xứ sở nên chưa gây hấn với Thăng Long.

      Trong khi đó, ở phương nam Chế Bồng Nga vẫn tiếp tục đánh phá Đại Việt. Người ta nói sau khi Trần Nhật Lễ bị giết, bà mẹ của ông qua cầu cứu Chế Bồng Nga, nhưng thực sự không cần như thế. Khi hay tin Cung Định vương Trần Phủ lên làm vua, Chế Bồng Nga quyết định tấn công Thăng Long. Dưới mắt họ Chế, vua Nghệ Tông là người nhu nhược đang điều khiển một nhóm quan lại bất tài. Tháng 3 năm 1371 Chế Bồng Nga mang 100 thuyền chiến vào cửa Ba Lạt tiến chiếm Thăng Long. Ông ta chẳng cần đưa quân theo nhiều ngả mà chỉ duy có ngược sông Hồng mà tấn công.

      Kinh thành có gần 400 năm văn vật của Đại Việt hoảng sợ. Gươm giáo mới mấy tháng trước còn tung hô như những cơn sóng cồn mà bây giờ đã mất biệt. Quân nhà Trần qua một ngày kháng cự yếu ớt đã đưa vua Nghệ Tông qua sông Hồng chạy về làng Cổ Pháp. Hoàng thành Thăng Long chìm trong cảnh cướp bóc, hãm hiếp, đốt phá. Không thấy một ai dám kháng cự, nhưng Chế Bồng Nga liệu rằng không thể chiếm giữ được Thăng Long. Ông ta cố thu gom chiến lợi phẩm và rút quân. Một tuần sau vua Nghệ Tông trở về, nhiều nơi còn nghi ngút khói. Không cung điện nào trong hoàng thành còn đủ hết bốn bờ tường. Nhà vua đau lòng nhìn cơ ngơi của tổ tiên và tôn miếu bị phá vỡ, ông cảm thấy mình bất lực.

      Từ đó, vua Nghệ Tông có ý định thoái thác ngôi cửu ngũ. Trong tháng tư năm 1371 ấy, ông lập Cung Tuyên vương Trần Kính làm thái tử. Trần Kính là con của dì Sung Viên nguyên phi, can trường và có tài chỉ huy. Ở Thanh Hoa trong lần chuẩn bị để tấn công Dương Nhật Lễ, nhà vua đã thấy được khả năng của người em nầy. Đây là vị thái tử duy nhất trong lịch sử Việt Nam, mà một người em của đương kim hoàng đế được chọn. Bên cạnh đó, vua Nghệ Tông giao những chức vụ quan trọng cho những người thân cận theo cảm tình. Đó là bản tính mềm yếu của ông. Tháng 5 năm 1371 ông phong Nguyễn Nhiên làm hành khiển Tham ty chánh sự. Nguyễn Nhiên là người hầu cận trung thành nhưng không có tài. Tháng 8 Lê Quý Ly được phong tước Trung Tuyên quốc thượng hầu và giữ chức khu mật viện đại sứ. Trong tháng nầy nhà vua gả đứa em gái út cùng cha khác mẹ của mình cho  Lê Quý Ly. Đó là công chúa Trần Huy Ninh.

      Bấy giờ, công chúa Huy Ninh là một góa phụ và chưa có con. Bà rất đẹp và sống âm thầm, không năng nổ như người chị Thiên Ninh. Bà luôn luôn làm theo ý của cha, của anh như hầu hết mọi người phụ nữ khác. Cuộc hôn nhân trước, bà đi theo quyết định của phụ hoàng. Cuộc hôn nhân thứ hai nầy bà theo quyết định của hoàng huynh. Tuy nhiên, trong lần nầy bà thấy có điều là lạ, phải chăng nó đã có duyên từ lúc xa xưa. Cái duyên đó chỉ như một vết mờ mà từ lâu lắm rồi bà vẫn không quên:

      Năm ấy, năm 1353, Huy Ninh mười lăm tuổi, mảnh khảnh, hay đau yếu và được vua cha Minh Tông cho ở trong cung Quảng Hàn. Cung Quảng Hàn cũng không có gì đặc biệt, nhưng Huy Ninh rất quý vì nó yên tĩnh phù hợp nàng. Nàng thích những lúc thức sớm, khi mặt trời chưa dậy. Có nhiều lần nàng ngồi hàng giờ ở sân trước để nghe những tia nắng đầu tiên đi lên. Khi chúng làm tan lớp sương trên những cành bạch mai, thì dần dần nhiều chồi xanh hiện ra. Nàng rất thích sự sống đó. Đó là những lúc trời đã ấm nên người dì mới cho nàng ngồi lâu. Nàng không có cái nhìn sâu xa về sinh diệt như người lớn. Nàng chỉ thấy thật vui khi có nắng và màu xanh, và buồn buồn khi những cánh hoa rụng.

      Vua cha Minh Tông rất thương đứa con gái út nhạy cảm nầy. Có một lần ông đến sân trước cung Quảng Hàn vào lúc tinh mơ. Hai cha con cùng ngắm mặt trời thấm dần lên cây lá trước sân. Nhân đó ông đem bài thi kệ Cáo Tật Thị Chúng của thiền sư Mãn Giác viết năm 1096 dưới đời vua Lý Nhân Tông nói với con. Theo đó thì vạn pháp đều phải sinh diệt, đời người thì giới hạn và mất đi, nhưng chơn như của vạn pháp luôn hằng còn. Ông tâm đắc hai câu thơ cuối trong bài thi kệ: “Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận/Đình tiền tạc dạ nhất chi mai”, mà đặt tên hiệu cho đứa con gáí út của mình là Nhất Chi Mai.

      Điều nầy chưa ai biết ngoài hai cha con. Nhưng, có một hôm thượng hoàng phát hiện có một gã quan nội dịch vô danh lại biết được. Gã đó chính là Lê Quý Ly do Cung Định vương tiến cử vào làm quan hầu cận cho thượng hoàng. Hôm ấy giữa đám cận thần và gia nhân ở cung Thanh Thử, thượng hoàng Trần Minh Tông nhìn  hàng cây quế trước mặt ra câu đối: “Thanh Thử điện tiền thiên thụ quế” và chờ các quan đối lại. Mãi một lúc lâu chưa có vị quan nào đáp được thì Lê Quý Ly đọc lên: “ Quảng Hàn cung lý nhất chi mai”. Thượng hoàng vô cùng ngạc nhiên vì câu đối vừa chỉnh lại vừa đúng với điều mà chỉ có hai cha con thượng hoàng biết được mà thôi. Thượng hoàng Minh Tông hỏi và được biết nguyên nhân rằng: Lúc còn nhỏ ở quê nhà có lần đi chơi ngoài bờ biển, Lê Quý Ly thấy trên cát ai đó đã viết câu nầy. Cậu thiếu niên họ Lê thấy chữ viết đẹp mà lại hay nên nhớ trong lòng. Thượng hoàng khen gã biết nhún nhường, và ông chợt nghĩ đến đứa con gái Nhất Chi Mai của mình.

      Ông đem việc nầy về thuật lại với Huy Ninh. Cô công chúa nhỏ chỉ biết thẹn thò khi thượng hoàng nói không chừng đây là duyên tiền định. Thế rồi mọi chuyện cũng qua đi khi biết Lê Quý Ly đã có gia đình. Sau đó Huy Ninh có chồng như mọi người con gái khác. Chuyện tưởng đã trôi theo năm tháng, nhưng không ngờ đến gần hai mươi sau hoàng huynh Nghệ Tông lại vô tình mở ra.

      Sau khi tác hợp hai người em nầy thành vợ chồng, vua Nghệ Tông rà xét mình còn thiếu ai cần nâng đỡ nữa không. Tháng 4 năm 1372 nhà vua phong Đỗ Tử Bình làm hành khiển tham mưu quân sự. Đây là vị tướng đã đưa ông qua sông về Cổ Pháp lánh nạn. Tháng 10 nhà vua về Thiên Trường tu sửa lăng miếu tổ tiên. Có lẽ ông nghĩ mình đã làm xong mọi chuyện, ngày 9 tháng 11 năm 1372 ông nhường ngôi cho Cung Tuyên vương Trần Kính. Từ đây vua Nghệ Tông trở thành thượng hoàng. Đây là vị thượng hoàng duy nhất trong lịch sử Việt Nam truyền ngôi cho em trong khi mình có con trai.

Trần Nhật Lễ vàng son mấy nả
Đã tìm tông quên học Thủy Hoàng
Giá như mưu lược thêm nhiều nữa
Không chừng đã lấy được giang san

Một năm tại vị ngôi thiên tử
Khéo vui chơi không giống tiên vương
Giá mà hiểu được tình nội tổ
Không khéo Trần gia đã rẽ đường

Triều Trần lúc ấy đà lo sợ
Lỡ mất sơn hà thẹn tổ tông
Hẹn nhau ra tận miền Thanh Hóa
Kín đáo binh lương dạ nhất đồng

Bên bờ Đại Lại, vương Trần Phủ
Có những người em phụ dấy binh
Ngọc Tha công chúa cùng Trần Kính
Nguyên Đán, Ngô Lang cũng tận tình

Một sớm mùa đông gợn trắng mây
Quân về kéo tận đến thành tây
Kiến Hưng rợp bóng cờ gươm giáo
Đại Định còn đâu vận hội nầy

Diệt Nhật Lễ, Trần gia trở lại
Cung Định vương Trần Phủ lên ngôi
Bấy giờ non nước đà yếu lắm
Vực được lên hay muộn mất rồi

Vua Nghệ Tông vốn giàu tình cảm
Chọn quần thần không luận tài ba
Nhà Trần như thể cây đèn bấc
Trước gió mùa đông giữ được nhà?

Riêng tình mà chọn quan hành khiển
Vị thích mà chiều tổng mật cơ
Nguyễn Nhiên không ác không làm hại
Lê Quí Ly mưu tính từng giờ

Nhìn qua như tưởng đà yên ổn
Mầm họa ai nào có biết đâu
Lên ngôi chưa được bao ngày tháng
Giặc nam phương đã đánh phủ đầu

Chế Bồng Nga anh hùng Chàm tộc
Vốn là em vua Chế A Nan
Lên ngôi từ độ nhà Trà mất
Làm rạng danh họ Chế Chiêm hoàng

Mùa hạ chưa về đà chinh chiến
Quân nhà Chiêm tiến tới Thăng Long
Vua tôi bỏ ngỏ xuôi Đình Bảng
Kẻ phá kinh đô, kẻ đau lòng

Chế Bồng Nga thu quân không giữ
Trần Nghệ Tông trở lại kinh thành
Nghe ra như thể mình bất lực
Phận làm vua cả phận làm anh

Nhà vua lúc ấy đà trọng tuổi
Lệ thượng hoàng theo bước ông cha
Truyền ngôi em nhỏ, em khác mẹ
Trần Kính lên thay giữ nghiệp nhà


<<  |  >>