Skip to content

Chương 15/8

NHÀ TRẦN
(1225 – 1400)

Đoạn tám

TRẦN DỤ TÔNG:
GẠCH NỐI HAI THỜI THỊNH SUY CỦA NHÀ TRẦN

 

      Năm 1341, Trần Hạo mới 6 tuổi lên ngôi tức vua Trần Dụ Tông. Dĩ nhiên thượng hoàng Minh Tông chưa thể lui về Thiên Trường được. Ông vẫn tiếp tục ở Thăng Long với người vua con thứ hai nầy. Từ năm 1341 đến 1357, Vua Dụ Tông đặt niên hiệu Thiệu Phong và được coi là giai đoạn đầu của ông. Giai đoạn nầy thượng hoàng Minh Tông còn sống, và trực tiếp coi sóc triều đình. Đất nước vẫn thái hòa, văn học được phát triển. Chu Văn An tiếp tục củng cố trường quốc tử giám, và là người thầy trực tiếp của vua Dụ Tông. Trương Hán Siêu và Nguyễn Trung Ngạn phối hợp soạn bộ Hoàng Triều Đại Điển và Hình Thư. Xứ sở được an bình, nhưng vẫn có những biến cố xung quanh:

      Tháng 3 năm 1342 Chế A Nan, quốc vương Chiêm Thành qua đời, hoàng tử Chế Mộ lên thay. Tháng giêng năm 1343 triều đình Dụ Tông nới rộng quyền hạn của khu mật viện. Từ năm này Khu mật viện sẽ quản lãnh đạo quân cẩm vệ, mà trước đây trực thuộc lộ quân bảo vệ hoàng thành. Tháng 7 năm 1344, Ngô Bệ, một lãnh tụ nông dân khởi loạn ở núi Yên Phụ, nơi là thực ấp của Yên Sinh vương Trần Liễu một trăm năm trước. Tháng tư năm 1346 biên giới Ai Lao bị phá rối. Tháng 5 năm 1349 do các cửa biển bồi lở thay đổi nên điều các lộ quân trấn thủ cho thích hợp. Lúc nầy vua Dụ Tông đã được 14 tuổi, ông lập Ý Từ quận chúa, con của Bình chương Huệ Túc vương, làm Nghi Thánh hoàng hậu. Tháng 6 năm 1351 ở Thái Nguyên và Lạng Sơn có giặc cướp. Tháng giêng năm 1352 con rể của Chế A Nan là Trà Hoa Bố Để, đương kim tể tướng Chiêm Thành phản bội họ Chế. Ông ta lật đổ quốc vương Chế Mộ, khai sinh triều đình họ Trà. Vua Chế Mộ được cận thần cứu giá chạy qua Đại Việt cầu cứu. Tháng 2 năm 1353 thượng hoàng Minh Tông sai tướng Trần Thế Hưng mang quân đưa vua lưu vong Chế Mộ về Đồ Bàn. Năm mươi chiến thuyền đi khỏi Thuận Hóa thì gặp gió bão, đoàn quân phải tấp vào bờ ở Cổ Lũy. Tránh thiên tai ngoài biển thì gặp nhân tai trong bờ. Trời chưa dứt gió thì đoàn thuyền bị tập kích tan tác. Tàn quân theo tướng Trần Thế Hưng chạy ngược về Hóa Châu, nhưng không thấy vua Chế Mộ ở đâu. Người ta không biết vị vua Chàm lưu vong nầy chết trong gió bão hay trong loạn quân, mà từ đó không nghe nhắc tới nữa.

      Những biến động trên rồi cũng qua, các thân vương nhà Trần vẫn giữ cuộc sống bình thường. Cung Định vương Trần Phủ là người giàu tình cảm, ông thường về quê ngoại thăm viếng. Tháng 3 năm 1353 ông về giỗ Thanh Minh ở Giáp Sơn. Ông tình cờ gặp người em họ ngoại Lê Quý Ly từ Thanh Hoa đi ra. Đó là cái duyên tri ngộ để về sau người em họ Lê nầy bước vào chính trường. Thoạt đầu, Cung Định vương đưa Lê Qúy Ly vào làm quan nội nhân cho thượng hoàng Trần Minh Tông. Sau khi thượng hoàng băng hà vào tháng 2 năm 1357, thì Lê Quý Ly cũng vừa mất người vợ trẻ. Người vợ để lại đứa con trai Lê Nguyên Trừng 12 tháng tuổi cho người chồng Lê Qúy Ly mới 21 tuổi. Trước cảnh con gà trống còn non trẻ nầy, người cha vợ họ Phạm mang đứa cháu ngoại về nuôi. Riêng Lê Qúy Ly rời nội cung của thượng hoàng về phủ đệ của Cung Định vương giúp việc. Chưa có một chức vụ gì cần thiết, họ Lê dành thời gian quyết chí học hành. Với sự giúp đỡ tận tình của Cung Định vương, Lê Qúy Ly có 10 năm văn ôn võ luyện. Kiến thức của người anh họ Trần Phủ có bao nhiêu, người em họ Lê học hết. Lò võ của bắc đẩu Nguyễn Sư Tề cũng cho Qúy Ly làm quen với nhiều bạn đồng môn. Họ là những người đang hoặc sẽ phục vụ trong quân đội. Đặc biệt Nguyễn Đa Phương, con út của sư phụ Nguyễn Sư Tề, đã kết nghĩa huynh đệ với Lê Qúy Ly.

        Từ khi thượng hoàng Trần Minh Tông qua đời (1357) về sau, được coi là giai đoạn thứ hai của vua Trần Dụ Tông, quyền hành đã thực sự về tay nhà vua. Lúc nầy ông 21 tuổi và đổi niên hiệu thành Đại Trị. Đây là lúc nhà Trần bắt đầu đi xuống. Nhà vua trẻ tuổi nầy không đạt được những kỳ vọng mà thượng hoàng Minh Tông mong đợi. Trương Hán Siêu đã chết, nhưng Nguyễn Trung Ngạn và Chu Văn An vẫn còn, mà nhà vua không chịu nghe ai. Có phải đây là tâm lý trả thù việc “bị coi thường” trong thời gian thượng hoàng Minh Tông còn sống hay chăng? Nhà vua không nghe nhưng cũng không bác lời tấu trình của Chu Văn An. Ông coi vị thầy của mình như chưa hề nói điều gì.

      Nhà vua mê thú nuôi cá và cây cảnh, thích đánh bạc, ưa nghe diễn tuồng và thích uống rượu. Nếu ở một chừng mực nào đó thì những thú vui nầy không nguy hại, nhưng các nịnh thần chiều theo ý vua đã biến hoàng cung thành một thảo cầm viên và những tửu đình du hí. Các vị nầy đã xúi dục nhà vua lập nhiều vùng cây rừng để nuôi thú, và nhiều hồ nước mặn để nuôi cá biển và đồi mồi. Nhiều vương thân cũng hưởng ứng thú vui chơi của nhà vua. Họ quay quần trong cảnh thiên nhiên nhân tạo đó để đánh bạc và uống rượu. Họ thi tửu lượng và cá cược bằng tiền. Trong thập niên 60 (1360) nhà vua đã nhiều lần bỏ triều chính nhiều ngày trong lúc đê sông Hồng đang vỡ, và ở hai phương nam bắc đều biến động.

      Năm 1360 Trà Hoa Bồ Để chết, Chế Bồng Nga lấy lại quyền lực của họ Chế. Cuộc chính biến không có nhiều đổ máu vì các binh đoàn phòng thủ Đồ Bàn còn lòng hoài vương triều họ Chế. Chế Bồng Nga làm vua Chiêm Thành từ đó. Ngay trong những năm đầu, ông ta đã củng cố quân đội và tấn công nhà Trần. Riêng trong thời kỳ sau của vua Trần Dụ Tông đã có nhiều lần giao tranh. Năm 1362, 1364 , 1366 Chế Bồng Nga đã ba lần đưa quân Chiêm Thành vào Thuận Hóa đánh phá, tịch thu chiến lợi phẩm rồi rút về.

      Dĩ nhiên vua Dụ Tông thấy được sự tác hại của quân đội  nhà Chiêm, nhưng nhà vua chẳng làm gì cả. Có lẽ ông nghĩ Thuận Hóa xa xôi quá chăng? Ông vẫn theo bọn nịnh thần vui chơi như thường lệ. Nhà vua truyền cho các vương thân quan lại ai bày ra trò vui mà nhà vua thấy hay thì được thưởng. Đó là lúc vị quan tư nghiệp quốc tử giám Chu Văn An dâng sớ thất trảm. Trong đó vị thầy của nhà vua luận tội 7 nịnh thần, và thỉnh cầu nhà vua xử chết bọn nầy. Họ là những ai thì không được công bố vì vua Trần Dụ Tông không hề để mắt tới. Thất trảm sớ bị xếp lại, rồi thôi. Chu Văn An biết không sửa đổi được nhà vua, ông trả lại chức quan Tư nghiệp quốc tử giám về núi Chí Linh ẩn cư. Đó là năm 1367.

      Lúc nầy quan thái uý Trần Ngô Lang, và quan y sư Trâu Canh là hai người nổi tiếng “đàn đúm” với nhà vua càng đưa nhà vua sa lầy vào những cuộc vui. Nhiều lần họ giả dạng làm thường dân để đi chơi. Một lần hai vị nầy đưa vua Dụ Tông đi du hý ở xa nửa đêm mới về. Trên đường về, nhà vua bị cướp cả ấn vàng và gươm báu. Lúc nầy vua Trần Dụ Tông mới nghĩ đến những lời khuyên can của Chu Văn An. Ông thấy mình mất đi một vị thầy đáng kính, một đại quan có lòng với nước nhà. Nhà vua cho người về Chí Linh mời Chu Văn An trở lại, nhưng người thầy cũ đã tìm cách thoái thác.

      Để chứng tỏ không có Chu Văn An bên mình thì triều đình vẫn có đủ sức mạnh, trong năm 1367 ấy vua Trần Dụ Tông sai Trần Thế Hưng và Đỗ Tử Bình mang quân tấn công Chiêm Thành. Rất tiếc quân Trần rơi vào phục kích ở Chiêm Động (Quảng Nam). Trần Tấn Hưng bị bắt, Trần Tử Bình mang tàn quân trở về. Đó là điều làm vua Dụ Tông thấy được thế yếu của mình rõ hơn. Nhà vua bèn tấn phong Cung Định vương Trần Phủ từ hữu tướng quân thành tướng quốc. Nhà vua hy vọng người anh khác mẹ nầy sẽ đem đến Đại Việt một khuôn mặt mới.

      Năm 1367, Cung Định vương Trần Phủ thành tướng quốc, thì Lê Quý Ly được giữ chức trưởng cục chi hậu. Đây là chức vụ đầu tiên của họ Lê trong triều đình họ Trần (không kể thời làm nội nhân cho vua Minh Tông trước năm 1357). Cung Định Vương Trần Phủ lên làm tướng quốc cũng không đưa được đất nước đi lên, nhưng không bị họa xâm lăng phương bắc. Có được may mắn nầy, không phải vì Trần Phủ có tài mà vì nước Tàu đang chịu một cuộc chiến tranh phản Nguyên phục Tống từ trước đó:

      Mùa đông năm 1351, Hàn Sơn Đồng gốc người họ Triệu là hậu duệ của nhà Tống kêu gọi nông dân nổi dậy chống quân Nguyên. Con đê Hoàng Hà sụt lở sau 20 ngày mưa lớn chưa từng thấy. Quận Vạn Hà, và toàn vùng phụ cận thuộc Hà Bắc úng thủy. Khai thông nước một vùng trũng lớn là điều vô cùng cực khổ. Dân phu ngày đêm phải cúi mặt dưới nước để cho bọn quan quân nhà Nguyên sai khiến, là cơ hội khơi dậy lòng căm thù. Khi dòng Hoàng Hà còn đang lênh láng thì Hàn Sơn Đồng đã qui tụ hơn 5 ngàn dân quân vùng Hoa Bắc. Trong bọn họ nhiều phần xuất thân từ Bạch Liên giáo và Minh giáo. Đó những giáo phái âm thầm chống đế quốc nhà Nguyên. Hoa sen trắng tượng trưng Bạch Liên giáo, cây đuốc màu đỏ tượng trưng cho Minh giáo. Để thống nhất, Hàn Sơn Đồng cho mọi binh sĩ các cấp đều quấn khăn đỏ trên đầu thay vì hoa sen và cây đuốc.

      Từ đấy, đội quân khăn đỏ hay còn gọi là Hồng Cân quân được thành lập có qui cũ. Đầu năm 1352, Hồng Cân quân chiếm phủ trị Dĩnh Châu nhưng không may chủ tướng Hàn Sơn Đồng bị bắt và bị giết. Vợ ông và người con trai Hàn Lâm Nhi chạy lạc, nhưng Lưu Phúc Thông là thuộc tướng của họ Hàn không nản lòng. Họ Lưu tiếp tục chiến đấu. Ông đưa nghĩa quân vượt Hoàng Hà.

      Dĩ nhiên cuộc di chuyển về phương nam vô cùng khó khăn. Dù thêm rất nhiều nông dân hướng ứng, nhưng triều đình nhà Nguyên truy quét dữ dội làm nghĩa quân chết rất nhiều. Quân mới thay quân cũ trong sự kiên trì phục quốc. Đến năm 1355 quân khởi nghĩa đã làm chủ nhiều vùng da beo ở hai bên bờ sông Trường Giang. Lúc nầy Lưu Phúc Thông đã tìm được Hàn Lâm Nhi và tôn người thiếu niên nầy lên làm vua tức Tống Tiểu Minh vương. Triều đình hậu Tống nầy được kiến lập ở Biện Lương. Họ có ảnh hưởng lớn, nhưng tình hình miền nam lúc bấy giờ có những chuyển biến khác. Ở đây đã sẵn ba lực lượng chống triều đình nhà Nguyên.

      Thứ nhất, Quách Tử Hưng là thủ lãnh Hồng Cân quân ở Phụng Dương. Trong tinh thần “Phục Tống” ông chịu sự chi phối của hậu duệ nhà Tống, Tiểu Minh vương, từ bắc xuống. Quách Tử Hưng là người nghĩa khí và thật thà nhưng dưới trướng ông có một thuộc tướng không phải như thế. Đó là Chu Nguyên Chương. Họ Chu đầu quân vào Minh Giáo của Quách Tử Hưng khi 24 tuổi, lúc còn nghèo xơ xác và thường được gọi tên “cúng cơm” là Chu Trùng Bát. Người thanh niên nầy có thực tài, khôn khéo và trong thâm tâm chỉ mượn Hồng Cân quân để tiến thân. Năm 1352 ông được làm phó tướng cho họ Quách. Năm 1355 ông được giới thiệu gặp Lưu Phúc Thông và được diện kiến Tiểu Minh vương. Trong năm nầy ông được Tiểu Minh vương Hàn Lâm Nhi phong tước Ngô Quốc Công đi bình định vùng Kim Lăng (Nam Kinh). Mấy tháng sau Quách Tử Hưng chết trong một lần chiến đấu, Chu Nguyên Chương được lịnh cai quản luôn vùng Phụng Dương của họ Quách.

      Thứ hai, Trương Sĩ Thành là lãnh tụ khởi nghĩa miền duyên hải phía nam. Nghành khai thác muối bị triều đình nhà Nguyên bóc lột ở đây đã là nguyên nhân. Trương Sĩ Thành mau chóng được sự ủng hộ của tất cả diêm phu và lan rộng tới nông dân miền nam duyên hải. Năm 1353 ông đã chiếm được Giang Tô, và mở rộng ra vùng phụ cận. Ông thành lập nhà Đại Chu và đóng đô ở Bình Giang (Tô Châu). Ông là người ít học nhưng rất thông minh và hào sảng. Ông quyết kiến tạo một xã hội công bằng làm lớp người bình dân và cả lớp sĩ phu theo ông. Những danh sĩ nổi tiếng như Thi Nại Am và La Quán Trung đều nhận quan chức của triều đình Đại Chu nầy.

      Thứ ba, Từ Thọ Huy là lãnh tụ Hồng Cân quân ở Giang Châu (Quảng Tây). Dưới trướng ông có Bành Oánh Ngọc như một vị quân sư, và Trần Hữu Lượng là một tướng tài. Năm 1353 Bành Oánh Ngọc tử thương thì Trần Hữu Lượng trở thành cánh tay mặt của Từ Thọ Huy. Lượng là người khôn khéo và nhiều dã tâm. Năm 1357 Lượng giết Triệu Phổ Thắng, một người tuyệt đối trung thành với Hồng Cân quân và sau đó Lượng mưu sát Từ Thọ Huy. Trần Hữu Lượng thành lập nhà Trần Hán năm 1359 và dời đô về Vũ Xương ở Hồ Bắc. Bắt đầu từ năm 1359 nầy, phong trào kháng Nguyên đã chia thành 3 thế lực rõ rệt: Hậu Tống, Đại Chu và Trần Hán.

      Đây là điều bất lợi mà nhà Hậu Tống của Hàn Lâm Nhi phải gánh chịu đầu tiên. Tháng 6 năm 1359 tướng nhà Nguyên là Sát Hãn Thiếp Mộc Nhi bao vây Biện Lương của Hậu Tống đế. Quân Nguyên siết chặt thủ phủ nầy, chặn đường tiếp viện của Chu Nguyên Chương từ phía nam và lực lượng khăn đỏ Sơn Đông phía đông. Đến tháng 8 quân của Thiếp Mộc Nhi tràn vào thành. Một cuộc chiến đấu dữ dội xảy ra, gần 5 ngàn binh sĩ khăn đỏ bị thương và bị chết. Hoàng hậu của Hàn Lâm Nhi bị bắt, riêng vị Tiểu Minh vương nầy được Lưu Phúc Thông cứu thoát chạy về An Phong.

      Làm sao ai biết được Chu Nguyên Chương không cứu Biện Lương là vì không đủ sức hay ông ta không muốn, nhưng dường như Lưu Phúc Thông biết vì sao. Từ năm 1360 họ Lưu miệt mài chỉnh đốn Hồng Cân quân ở An Phong trong im lặng, không liên lạc với Chu Nguyên Chương. Tất cả nghĩa quân khăn đỏ ở đây mang tinh thần chiến đấu vì đạo. Rất tiếc không mấy thành công. Họ vựt dậy một cách chậm chạp, trong khi Chu Nguyên Chương ra mặt tách rời với An Phong. Họ Chu không cần thông qua Tiểu Minh vương, ông tự ý đưa quân đi chiếm nhiều nơi. Trấn Giang là vùng xôi đậu rộng lớn giữa các thế lực đã bị Chu Nguyên Chương nuốt gọn. Họ Chu được các bạn thân từ nhỏ một lòng giúp sức như Từ Đạt và Thường Ngộ Xuân. Bên cạnh đó ông cũng được Tống Liêm, một danh sĩ đã về ở ẩn làm cố vấn.

      Lúc nầy Trần Hán của Trần Hữu Lượng cũng phát triển mạnh. Dĩ nhiên mục tiêu lật đổ nhà Nguyên vẫn được nuôi dưỡng, nhưng hai kẻ gian hùng Chu Nguyên Chương và Trần Hữu Lượng không hề nhường nhau. Họ phải diệt người bạn có phương hại trước mặt. Đó là lý do đưa đến cuộc chiến ở hồ Bà Dương năm 1363 mà Trần Hữu Lượng bị trúng tên phải chết. Cái chết của Lượng coi như chấm dứt nhà Trần Hán, dù rằng ở Vũ Xương người ta vẫn tôn Trần Lý con của Trần Hữu Lượng lên làm vua.

      Cùng trong năm 1363 nầy, Chu Nguyên Chương phái sứ giả đi thông hảo với Trương Sĩ Thành nhưng họ Trương cự tuyệt và bắt giết sứ giả. Trương Sĩ Thành làm điều nầy vì nghĩ Chu Nguyên Chương đang âm mưu “hòa để diệt”. Ông ta mang quân tấn công Trấn Giang, và tin rằng họ Chu không đủ sức chia hai lực lượng vừa ở hồ Bà Dương vừa ở Trấn Giang. Điều suy đoán của Trương Sĩ Thành hoàn toàn sai. Lực lượng của Chu Nguyên Chương mạnh không thể tả. Tống Liêm và Chu Nguyên Chương tấn công Trần Hữu Lượng, Từ Đạt và Thường Ngộ Xuân tấn công Trương Sĩ Thành. Hai người bạn nối khố của Chu Trùng Bát ngày xưa đã là hai dũng tướng. Với 5 ngàn quân, họ không những giữ yên Trấn Giang mà còn chiếm luôn Thường Châu và Giang Âm. Họ đuổi quân của Trương Sĩ Thành chạy khỏi địa bàn Giang Tô. Đường cùng, Trương Sĩ Thành đầu hàng triều đình Nguyên để được sống còn. Họ Trương được phong làm thái úy và nhận lịnh đi tiêu diệt Hồng Cân quân.

      Năm 1363, Trương Sĩ Thành sai thuộc tướng Lữ Trân mang quân tấn công cứ điểm cuối cùng An Phong của Hàn Lâm Nhi. Với sự chống trả mang tính tử vì đạo của hàng ngàn nghĩa sĩ Minh Giáo, họ cầm cự được nhiều ngày. Tuy nhiên quân của Lữ Trân được tiếp viện thêm từ triều đình nhà Nguyên làm trận chiến trở nên nghiêng lệch. Dĩ nhiên phía yếu thuộc về Hồng Cân quân. Lúc nầy Hàn Lâm Nhi bất đắc dĩ cho người đi cầu cứu Chu Nguyên Chương ở Kim Lăng (Nam Kinh). Hay tin, họ Chu đích thân mang quân đi tiếp viện. Khi Chu Nguyên Chương đến nơi thì linh hồn Hồng Cân quân là Lưu Phúc Thông đã chết, nghĩa quân khăn đỏ hầu như tan rã. Đây là một sự tiếp viện muộn màng, mà nghĩa sĩ Hồng Cân quân không ai còn sức để tìm hiểu tại sao. Chu Nguyên Chương đánh tan quân triều đình. Ông cứu Tống chủ Hàn Lâm Nhi và đưa vị tiểu vương mạt vận nầy về Kim Lăng. Họ Hàn bị chết đuối sau đó, nhưng những Hồng Cân quân còn sống sót tin rằng vị lãnh tụ của mình bị Chu Nguyên Chương giết chết.

      Lực lượng kháng Nguyên bây giờ vô hình trung chỉ còn lại Chu Nguyên Chương và Trương Sĩ Thành. Dĩ nhiên cuộc chạm trán giữa hai bên không thể nào không xảy ra. Tháng 5 năm 1366 Chu Nguyên Chương ban bố “ Bình Chu hịch” (Chu nầy là Đại Chu của Trương Sĩ Thành). Ông kê 8 tội trạng của Trương Sĩ Thành, trong đó có hai tội nặng: đầu hàng quân ngoại xâm Nguyên Mông, và tiêu diệt nghĩa sĩ Hồng Cân quân. Lúc nầy Trương Sĩ Thành đóng quân ở thành Bình Giang sát biển, đây là cái gai phải nhổ của Chu Nguyên Chương trước khi bắc tiến. Ông dồn một lực lượng rất lớn để tiêu diệt. Toàn tỉnh Chiết Giang phải chịu chiến tranh trong vòng 10 tháng. Khi đợt giá lạnh thứ nhất của mùa đông năm 1367 chớm bắt đầu thì Bình Giang tan vỡ. Trương Sĩ Thành tự sát sau khi bị bắt giải về Kim Lăng. Không còn kẻ thù phương nam, Chu Nguyên Chương bắc tiến về đại đô.

      Chiến tranh ở nước Tàu như thế, nên triều đình Nguyên không có cơ hội thò tay xuống Đại Việt.

      Đó là cái may của vua Trần Dụ Tông, chứ không phải nhà vua nầy và tướng quốc Trần Phủ tài giỏi. Nhưng, từ xưa đám lãnh tụ con cháu nhà Hán luôn có mộng bành trướng sau khi được an định. Điều này vua Trần Dụ Tông dư biết, nhưng ông không hề tăng cường quân đôị để đề phòng. Chiêm Thành nhiều lần cướp phá Hóa Châu và chiến bại của Trần Thế Hưng ở Chiêm Động vào năm 1367 là một điều cho thấy. Sức mạnh Đại Việt đang đi xuống gần tới đáy, nhưng triều đình chẳng còn ai. Không có một vị văn võ quan nào có thực tài.

      Tướng quốc Trần Phủ đã từng là hữu tướng quân nhưng chưa bao giờ cầm quân đánh giặc. Chương quốc hầu Trần Nguyên Đán, thái bảo Trần Nguyên Hàng là hai thân vương có đi đánh giặc nhưng không phải là tướng giỏi. Họ là cháu 5 đời của thượng tướng Trần Quang Khải nhưng chỉ vận vào nghiệp văn. Trần Tử Bình từng là tướng quân ở mặt trận miền nam chống Chiêm Thành, nhưng bản thân vẫn là quan thị giảng ở trường quốc tử giám. Trần Ngô Lang là một vị tướng tương đối có tài, nhưng lại ở trong sàng cờ bạc rượu chè với nhà vua. Hai vị quan văn Lê Quát và Phạm Sư Mạnh thường chỉ được nhắc tới như những vị thanh quan. Hai ông nầy thích làm thơ phú và không có cái can trường giống người thầy Chu Văn An của mình. Nếu bây giờ vị tiều ẩn Chí Linh trở về triều dâng thất trảm sớ, thì không biết nhà vua có để mắt hay không. Người ta chỉ thấy vua Dụ Tông vẫn tiếp tục ăn chơi để đến hai năm sau thì ông mất. Đó là tháng 6 năm 1369, khi nhà vua mới 33 tuổi. Vua Trần Dụ Tông không có con. Nghi Thánh hoàng hậu chỉ như là một bóng mờ, và phi tần thì không hề được nghe nhắc tới. Điều nầy làm cho ngôi vua kế tiếp như hồ bị bỏ trống. Nó lại đưa đến một biến động khác cho triều đình.

Nhà Trần xuống dốc từ vua Dụ
Cuối Thiệu Phong đinh dậu năm nào (1357)
Vua anh mất vua cha chăm sóc
Mười lăm năm không nhọc binh đao

Nguyễn Trung Ngạn vua trao mật viện
Coi cấm quân thành lệ từ đây
A Nan họ Chế, Chiêm vương mất
Ai sẽ lên thay đất tháp nầy?

Giặc không lớn râm ran đôi chỗ
Đất Trà Hương, Ngô Bệ khởi binh
Trên đầu biên ải miền xứ Lạng
Chỉ đôi phen khuấy động dân tình

Cung Định vương nặng lòng họ ngoại
Giúp Qúy Ly huynh đệ họ hàng
Đi theo chân bước về vương phủ
Bước chân nào mai lấy giang san?

Thời Thiệu Phong còn bao nhân dáng
Bộ “Hình Thư” biên soạn Hán Siêu
“Hoàng triều đại điển” giao Trung Ngạn
Chu Văn An học sĩ đầu triều

Minh Tông rồi cũng theo năm tháng
Tuổi lụn già nua giã cõi đời
Dụ Tông từ đó sinh sa sút
Nịnh thần bày khéo cuộc vui chơi

Người chánh trực lần lần mất hết
Đến Chu An bỏ ngỏ triều đình
Phượng Hoàng lưng núi vui tiều ẩn
Thất trảm ơ hờ vận điêu linh

Cơ trời có phải Trần tận diệt
Mặc kệ lê dân dạ bất bình
Dụ Tông đàn hát vui cờ bạc
Nghiện rượu thi tài Bái Lưu Linh

Xây cung điện đào ao nước mặn
Nuôi đồi mồi chim thú trong cung
Mùa đông vỡ đập sông Hồng vỡ
Nỗi khó tràn lên tợ vô cùng

Nước như tưởng rất cần vun xới
Mà nhà vua cứ mực ăn chơi
Cần chi nam bắc biên thùy ấy
Sá chi Nguyên, chi Việt, chi Hời

Đôi dòng sử bắc về phương bắc
Nguyên Huệ Tông vua cuối triều Nguyên
Phải lo chống giặc quân nhà Hán
Từ bắc sang nam khắp mọi miền

Bắc Hoàng Hà có quân Khăn Đỏ
Ngọn lửa thiêng réo gọi muôn phương
Nhân đê sông vỡ mùa đông giá
Nỗi khổ lê dân hóa quật cường

Hàn Sơn Đồng trên đê nước thác
Gọi dân phu đứng dậy cứu dân
Bao nhiêu vạn mặt cày dưới nước
Nghe râm ran ngọn lửa Minh Thần

Ra tay cứu nước đầu khăn đỏ
Lưu Phúc Thông hướng ứng Sơn Đồng
Hoàng Hà lửa cháy hồn linh cũ
Phù Tống diệt Nguyên nợ non sông

Hàn Sơn Đồng không may mất sớm
Hàn Lâm Nhi con cả lên thay
Nghĩa quân lan rộng về nam xứ
Từ Thọ Huy hưởng ứng cuộc này

Bên bờ Dương Tử, Bành Ngọc Óanh
Cùng Từ Huy khởi nghĩa đợt đầu
Vương quyền đứng dậy vùng huyện Đặng
Sĩ Thành, Hữu Lượng khắp xứ châu

Trần Hữu Lượng vốn người Hồ Bắc
Sớm theo chân khởi nghĩa Hồng Cân
Bao lâu khôn khéo làm tùy tướng
Giết cả Từ Huy lập Hán Trần

Lập Hán Trần nhà Trần Hữu Lượng
Ở Thái Châu ai lập Đại Chu
Sĩ Thành khởi nghĩa từ nạn muối
Khắp cõi nam đông bạn hóa thù

Chu Nguyên Chương húy tên Trùng Bát
Theo Tử Hưng gia nhập Hồng quân
Tài ba được gặp Hàn hồng chủ
Ở Ứng Thiên danh đã vang lừng

Thế chân vạc lần lần như rõ
Trương Tử Thành, Hữu Lượng, Nguyên Chương
Cả ba là bạn hay là địch
Cùng diệt Nguyên một hướng ba đường

Hồ Bà Dương ai ghi chiến tích
Ai đốt thuyền ai thắng ai thua
Mũi tên ai bắn ghim vai áo
Hữu Lượng nào hay chỉ mấy mùa

Diệt Hán Trần, Nguyên Chương thêm mạnh
Nhắm Sĩ Thành nay đã xưng vương
Tướng quân Từ Đạt “Bình Chu Hịch”
Cùng Ngộ Xuân sĩ tướng lên đường

Thế địch mạnh, Sĩ Thành mất đất
Trải bao lâu thất thủ Bình Giang
Ở đây tự sát mà không chết
Về tới Ứng Thiên cũng chẳng hàng

Bình Giang Nam, Nguyên Chương dẹp bắc
Thành Đại Đô đã sớm lung lay
Ai là Thoát Mộc, ai Từ Đạt
Ai định giang san cuộc diện này?

Ở phương bắc nhà Nguyên bận rộn
Ở phương nam yếu thế hơn mình
Dụ Tông ở giữa thong dong lắm
Nằm vui chơi nào biết chiến chinh

Ngược dòng nam tiến sau Ô Lý
Lúc vua Chàm chết hận Gia Lâm
Chế Năng vua mới lòng căm phẫn
Hận mất hai châu vẫn cháy thầm

Thế lực yếu Chế Năng đại bại
Vua nhà Trần dựng Chế A Nan
Mười lăm năm lẻ không binh lửa
Tuổi chưa cao mà chết giữa đàng

Nửa chừng non nước giao Chế Mộ
Là trưởng nam nối dõi nghiệp cha
Mười năm bình ổn không cường địch
Sao lại đao thuơng giặc một nhà

Người anh rể hất chân Chế Mộ
Vua nhà Chiêm ra bắc kêu cầu
Thăng Long sa trận đồn Cổ Lũy
Chế Mộ buồn hiu chết ở đâu

Trải qua những công hầu chính biến
Giống nòi Chiêm còn đó tang thương
Đến khi Chiêm quốc hoàn Chế tộc
Chiêm Việt hồng lên những chiến trường

Việt Chiêm từ ấy thêm đối địch
Mà vua Trần không bỏ xa hoa
Mấy lần Chiêm sử ghi chiến tích
Dụ Tông thức tỉnh đã muộn mà

Khi tỉnh thức cũng vừa bịnh hoạn
Sớm lìa trần mà lại không con
Ngôi vua bỏ trống cho ai đó
Nước non ai biết sẽ mất còn


<<  |  >>