Skip to content

Chương 15/6

NHÀ TRẦN
(1225 – 1400)

Đoạn sáu

VUA TRẦN MINH TÔNG VÀ NIỀM ÂN HẬN

 

      Năm 1314, thái tử Trần Thánh Sinh lên ngôi tức vua Trần Minh Tông. Lúc nầy nhà vua mới 14 tuổi, ông tiếp tục học hành và được nhiều người giúp sức điều hành đất nước. Nhập nội bình chương Trần Quốc Chẩn và các vị quan văn võ từ đời trước là giềng mối của triều đình. Ngoài ra còn có hai danh sĩ Nguyễn Trung Ngạn và Chu An. Nguyễn Trung Ngạn thì đã là tôi thần trẻ từ thời vua Anh Tông. Chu An ít tuổi hơn, nhưng cũng là một vị thầy uyên bác. Ông được phong tước công, hiệu là Văn Trinh nên đời sau thường gọi Chu Văn An. Thời gian nầy Đại Việt được tiếp tục thái bình.

      Vua Minh Tông muốn giao hảo tốt với Chiêm Thành, nhưng vị quốc vương ở đây không có thiện ý. Sau khi củng cố lại quân đội từ lần thất trận Hóa Châu năm 1311, vua Chế Năng không còn hòa thân với Đại Việt như lúc ban đầu. Tháng giêng năm 1318, vị vua nầy muốn mang quân bắc tiến để một lần nữa đòi lại hai châu Ô và Lý. Ông bị phản đối của nhóm chủ hòa do hoàng thân Chế A Nan đứng đầu. Cuộc nội chiến của quân đội Chiêm Thành xảy ra, và tin đưa tới Đại Việt. Dĩ nhiên triều đình Đại Việt muốn Chế A Nan thắng. Nhập nội bình chương Trần Quốc Chẩn, chú ruột nhà vua, được cử qua Đồ Bàn để can thiệp. Ông dẫn theo 5 ngàn quân với sự tham tá của Kim Ngô tướng quân Phạm Ngũ Lão. Kết quả: Quân chủ chiến bại trận trước quân chủ hòa. Vua Chế Năng phải rút chạy qua Ai Lao và Chế A Nan lên làm vua.

      Bình được Chiêm Thành không tốn xương máu, Huệ Vũ vương Trần Quốc Chẩn càng được thượng hoàng Anh Tông và vua Minh Tông tin dùng. Ông tận trung với nhà vua và đất nước, nhưng một chuỗi dài hệ lụy cung đình sau đó đã đưa đến cái chết của ông.

      Sau khi đoàn quân bình Chiêm trở về, thì vua Minh Tông đã được 18 tuổi. Triều đình bàn đến việc lập hoàng hậu cho nhà vua, nhưng Huệ Vũ vương không tán thành. Có nhiều quận chúa con của các vương hầu được bắn tiếng đến triều đình đều phải ngưng lại. Họ là hậu duệ của các đại công thần hoàng tộc đời trước, nhưng Trần Quốc Chẩn vẫn có ý chờ đợi đứa con gái của ông: Huy Thánh quận chúa. Huy Thánh đã được nâng lên làm công chúa, nhưng chỉ mới mười tuổi. Ít ra phải chờ ba năm nữa mới có thể làm hoàng hậu. Vua Minh Tông không bằng lòng với việc ưu tiên đặc quyền của Huệ Vũ vương, nhưng trọng nể người chú ruột đại thần của mình nên không nói ra. Nhà vua vẫn tiếp tục chăm lo và học hỏi việc triều chính. Thỉnh thoảng ông cũng đi thăm các nơi với những cận thần.

      Mùa hạ năm 1318, một lần nhà vua được Trần Khắc Chung hộ giá về Giáp Sơn, quê hương của vị thượng quan gốc họ Đỗ nầy. “Giáp Sơn là một phần lãnh thổ của xứ Dương Tuyền thời Hồng Bàng. Làng Giáp Sơn đã trải qua những thăng trầm của lịch sử vẫn giữ tên làng xưa dù rằng tên xứ đã bao lần thay đổi: Giao Chỉ, Giao Châu thời bắc thuộc. Hồng Châu thời Đinh, thời Lê. Lộ Hồng thời Lý và đổi lại thành lộ Hảỉ Đông từ thời đức Thánh Tông. Nơi đây trong thời nội tổ của hoàng thượng đã nhiều lần lập chiến tích chống quân Nguyên”. Trong lúc lắng nghe Trần Khắc Chung nói về lịch sử Giáp Sơn như thế, thì vô tình nhà vua bắt gặp một ánh nhìn. Nó quả hơn là một tiếng sét. Ánh mắt ấy, gương mặt ấy, dù chỉ thoáng qua, nhưng lòng nhà vua rung động. Cái bắt gặp vô tình ấy đã đưa cô thôn nữ làng Giáp Sơn đi một bước rất dài. Cô được Trần Khắc Chung sắm sanh, dạy dỗ để nhập cung theo như ý nhà vua mười tám tuổi.

      Ba tháng sau, trong cuộc tuyển cung đầu tiên, cô gái 16 tuổi ban đầu ấy được nhận vào hàng nguyên phi. Đó là hạng cao nhất trong các hạng phi tần. Nó chỉ đứng sau chức vị hoàng hậu còn đương bỏ trống. Không biết người con gái nầy tên chi, sử chỉ ghi cô có họ Lê và được nhà vua phong tặng là Anh Tư nguyên phi. Cô được sinh ra trong một gia đình nghèo. Cha mẹ cô chỉ là nông phu, và cô có một người em gái kế 14 tuổi.

      Sắc đẹp e ấp của nguyên phi Anh Tư đã làm vua Minh Tông vô cùng yêu qúi. Cô như một hoa hồng buổi sáng chưa nở hết. Nó đang từ từ tỏa hương thơm để trở thành lộng lẫy làm nhà vua mê say. Đó là lúc người ta thấy nàng có những triệu chứng đầu tiên của mùa thai ngắn. Nhà vua sung sướng với cảm giác được làm cha càng lúc càng lớn dần. Mùa thu năm 1319, nguyên phi Anh Tư cho ra đời một hoàng nam. Đứa bé kháu khỉnh được đặt tên là Vượng, nhưng người ta không biết số phận của hoàng tử nầy ra sao. Dù mẹ cậu bé được nhà vua sủng ái, nhưng vẫn là một nguyên phi. Ngôi thái tử được ưu tiên cho con trai của vị chánh cung hoàng hậu họ Trần chưa thực sự có mặt.

      Trong lúc nhà vua say đắm Anh Tư, thì chính nàng lại làm một điều giống như lầm lẫn. Nàng thỉnh cầu nhà vua cho đứa em gái của mình nhập cung như nàng. Thật khó hiểu cho đàn bà, nhưng, dĩ nhiên vua Minh Tông bằng lòng. Trong lần tuyển cung lần sau, người em trở thành nguyên phi giống chị. Cô được coi trọng hơn những phi tần khác ở trong cung vì chính sắc đẹp của mình. Nhà vua phong tặng cô tên Sung Viên và cũng vô cùng yêu qúi. Hai năm sau, năm 1321, khi người em đang được sủng ái như mình thì người chị lại cho vua Minh Tông thêm một hoàng nhi nữa. Trần Phủ là tên của vị hoàng tử nầy. Đây là đứa con thứ hai của Anh Tư nguyên phi, nhưng là đứa con thứ ba của vua Minh Tông.

      Nhà vua đã có một hoàng tử thứ hai tên Nguyên Trác với một tài nhân, mà ít khi được nghe nhắc tới. Trác nhỏ tuổi hơn Vượng vài tháng và không được để ý, nhưng anh em Vượng và Phủ rất được cưng chiều. Chúng là những hoàng tử được nhà vua yêu thương, cọng với người mẹ trẻ đẹp và người dì xuân xanh trở thành những hạt mầm ngoại thích. Vua Minh Tông không nghĩ như thế, nhưng là một lo ngại lớn cho những người bảo hoàng. Huệ Vũ vương Trần Quốc Chẩn sốt ruột. Ông gấp rút chọn ngày lành để nạp hoàng hậu cho nhà vua. Lúc nầy tuổi của công chuá Huy Thánh vừa đủ mười ba. Tháng 12 năm 1223, một lễ cưới linh đình được cả thần dân biết tới. Huy Thánh công chúa được vua Minh Tông phong làm Lệ Thánh hoàng hậu.

      Nếu nhị vị Lê nguyên phi như một đôi hoa hồng trước cung đình, thì hoàng hậu Lệ Thánh như một đóa sen hàm tiếu trong hồ bên thềm cửa. Dù rạng rỡ trong ngày cưới, nhưng Lệ Thánh lặng lẽ, thơ ngây, tinh khiết đến độ không thể nghĩ nàng là đương kim quốc mẫu của triều đình. Nàng không hề biết đến cha nàng và các hoàng thân khác vì việc chọn hoàng hậu mà ngấm ngầm hiềm khích lẫn nhau. Nàng luôn luôn được săn sóc trong đôi tay người mẹ với những ý tưởng vô cùng trong sáng. Nàng sống an bình trong tuổi thơ để học hỏi và vui chơi. Bỗng một hôm nàng nhận được những dặn dò khác thường của người mẹ làm nàng lờ mờ. Có lúc nàng nghe mẹ nói đến đức Lý Chiêu Hoàng của trăm năm trước. Nàng không hiểu làm sao lúc ấy đức bà lại có thể làm vợ đức Thái Tông?  Bà chỉ mới 8 tuổi. Bà sống thế nào chuyện vợ chồng để 7 năm sau bà có con. Lúc ấy đức Chiêu Hoàng 15 tuổi sinh con, nhưng đức hoàng tử Trần Trịnh bị chết khi vừa tròn tháng. Ta năm nay mới 13 tuổi, và mẹ dặn ta đừng sợ sệt. Điều gì sẽ xảy ra?

      Lệ Thánh hoàn toàn i tờ. Sự chậm phát triển sinh lý, và tâm lý sợ hãi đã làm vị hoàng hậu mười ba tuổi co cụm. Tình vợ chồng của nàng với vua Minh Tông bỗng hóa thánh, nhưng nhà vua cũng không phàn nàn. Là một người vợ, nhưng Lệ Thánh chính là người em chú bác ruột còn quá thơ ngây. Và, hơn nữa bên cạnh nhà vua còn có hai nguyên phi mà không ai có thể thay thế được. Lệ Thánh hoàng hậu kéo dàì tình trạng nửa vời như thế đến bốn năm sau thì xảy ra biến. Nguyên những hoàng thân không được đưa con cháu của mình vào tranh ngôi hoàng hậu từ lúc trước cảm thấy bị ức chế. Lúc nầy Huệ Vũ vương đã được thăng chức Nhập nội quốc phụ thượng tể, và quốc phụ Trần Nhật Duật được phong là Tá thánh thái sư.

      Trong những người cảm thấy bị ức chế nầy có Văn Hiến hầu, con của Tá thánh Trần Nhật Duật, và Trần Quang Triệu là hậu duệ Trần Hưng Đạo đại vương. Trong một phiên thiết triều như thường lệ vào tháng 3 năm 1328, Trần Quang Triệu tâu với nhà vua nên lập ngôi thái tử. Theo ông thì kể từ đức Thái Tông, qúi ngài hoàng tổ đều lập thái tử sớm để vị trừ quân nầy có cơ hội học hỏi. Và, một điều quan trọng là tránh được sự ngấm ngầm chia phe phái tranh đọat có thể xảy ra. Đây là một tâu trình hợp lý vì nhà vua cũng đã ở ngôi 15 năm và hiện có 3 hoàng tử. Nhiều người đưa ra những lý lẽ để biểu đồng tình, nhưng không thể nào bác được ý kiến của Huệ Vũ vương Trần Quốc Chẩn.

      Vị quan đầu triều Nhập nội thượng tể nhất định chờ chánh cung hoàng hậu sanh con trai. Theo ý ông tuy là hoàng hậu đã bốn năm chưa sinh con, nhưng hoàng hậu còn rất trẻ, chỉ mới gần tròn mười tám tuổi. Bên cạnh đó hoàng thượng cũng mới hai mươi tám tuổi thì tội gì mà không giữ dòng chính thuần tộc. Ông nhấn mạnh, đó là ý chỉ của nhiều đời tiên đế. Cả triều im phăng phắc. Vua Minh Tông bãi triều. Tá thánh Trần Nhật Duật người cao tuổi nhất thủy chung im lặng. Ông lặng lẽ ra về.

      Mọi việc tưởng ngừng ở đó, nhưng nó lại diễn biến theo chiều hướng khác. Văn Hiến hầu cảm thấy đã đến lúc không nhịn Huệ Vũ vương được nữa. Cha ông là người có công và là đại thần từ nhiều triều trước, đã từng chiến đấu dẹp giặc Nguyên. Không những thế ông còn là tằng thúc tổ của nhà vua và nuôi nhà vua mười bốn năm từ lúc lọt lòng mẹ. Tất cả những điều đó đều là số không trước mắt Huệ Vũ vương. Văn Hiến hầu cảm thấy đau lòng khi suốt cả buổi triều phục, cha mình không nói một lời rồi ra về như một kẻ già nua bị phế thải. Bản thân Văn Hiến hầu là vai chú của Huệ Vũ vương có thể bị coi thường, nhưng không thể coi thường tá thánh Trần Nhật Duật. Ông là thái sư đương triều, là người cao tuổi nhất, và có vai vế cao nhất trong hoàng thất hiện thời. Nhưng phải làm sao? Đối với triều đình đương đại bấy giờ, chức Nhập nội quốc phụ thượng tể là một chức bao trùm tất cả. Văn Hiến hầu nghĩ phải liên kết với một thế lực nào đó mới hạ được Huệ Vũ vương.

      Nhập nội tư đồ Trần Quang Triệu cũng ưu tư như ta, nhưng đôi khi cũng nóng nảy như cha là Trần Quốc Tảng sợ làm hư việc. Còn đám quan văn Trương Hán Siêu, Mạc Đỉnh Chi, Nguyễn Trung Ngạn, Chu An thì chả nhờ cậy được gì. Văn Hiến hầu nghĩ tới quan hành khiển Trần Khắc Chung. Ông nầy cũng không ưa gì Trần Quốc Chẩn. Không phải cái chức hành khiển của ông ta đã bị lu mờ từ lâu bởi quyền hạn của Huệ Vũ vương đó sao?

      Hành khiển là một chức vụ có từ thời nhà Lý. Người giữ chức vụ nầy điều hành tất cả mọi việc như là tể tướng. Đến thời Trần Thánh Tông lại đặt một chức tể tướng và giao cho thượng tướng Trần Quang Khải đảm trách. Trần Quang Khải băn khoăn không biết chức vụ nầy có giẫm chân lên chức hành khiển hay không, ông tâu trình vua Trần Thánh Tông và được xác định: tể tướng cao hơn hành khiển. Hành khiển lúc nầy được gọi là Trung thư môn hạ bình chương sự hoặc gọi tắt là Bình chương sự. Đến thời vua Trần Anh Tông thì không có chức tể tướng, nhưng nâng quyền hạn của Bình chương sự lên hàng cao nhất. Năm 1302 vua Anh Tông phong cho Trần Quốc Chẩn làm Bình chương sự trong lúc vẫn duy trì chức hành khiển của Trần Khắc Chung.

      Trần Khắc Chung không có đủ thân thế và quyền hạn giống như Trần Quang Khải năm xưa, nên vẫn im lặng giữ chức hành khiển mà biết có một ông quan uy quyền trên mình. Dần dần quan hành khiển chỉ có quyền hạn trong một phạm vi nào đó mà thôi. Hiện thời hành khiển Trần Khắc Chung chỉ làm nhiệm vụ thiếu bảo dạy học cho ba hoàng tử Vượng , Trác và Phủ. Những suy nghĩ nầy giúp Văn Hiến hầu nghĩ mình có thể lôi kéo Trần Khắc Chung về phía mình.

      Đúng như Văn Hiến hầu nghĩ, sau những thăm dò, Trần Khắc Chung đã đồng tình. Nhưng làm thế nào để hạ Huệ Vũ vương mới là điều nan giải. Là chú, là cha vợ, là vị quan cố mệnh từ tiên đế nên không dễ gì hạ được ông ta. Nhiều ngày suy nghĩ, Văn Hiến hầu đưa ra sáng kiến dùng vàng  mua chuộc đám gia nô của Huệ Vũ vương để tố cáo ông ta thành tội mưu phản.

      Trần Khắc Chung suy nghĩ nhiều ngày vẫn không tỏ ý đồng tình với Văn Hiến hầu về điều này. Ví dầu tạo ra được án tích, nhưng chắc gì nhà vua đã tin. Vì đây là vị quốc phụ triều đình, nhà vua không thể nào giao liền cho bọn kiểm phán Nguyễn Dũ, Lê Duy để xử tội. Chắc chắn sẽ được hội ý của bọn quan văn xung quanh. Trương Hán Siêu, Mạc Đỉnh Chi, Chu An là những người không thể qua mặt được. Tài Trương Hán Siêu đã rõ từ lúc còn là môn khách trẻ của tướng Trần Hưng Đạo. Hiện thời ông đang là một lão học sĩ mà nhà vua rất nể trọng. Mạc Đỉnh Chi là người vô cùng nhạy bén với mọi việc. Ông giữ nhiệm vụ ngoại giao nhưng khi cần điều tra một quốc phụ đại thần, nhà vua chắc chắn nhờ vào cái nhìn tinh tế ông. Chu  An một nho sĩ trẻ chính trực, có thực tài và hiện đương giữ chức Tư nghiệp quốc tử giám. Nếu được hỏi, vị thầy giáo trẻ tuổi nầy sẽ tìm ra những kẽ hở của sự việc.

      Qua ba ngưỡng cửa nầy thật là khó. Một chút sơ hở là họ thấy ngay, không chừng lại sinh ra phản ứng ngược. Và, trong thâm tâm Trần Khắc Chung vẫn cảm thấy có cái gì đó tà đạo trong kế sách dùng vàng để vu oan cho người khác. Hai người đã bàn lại nhiều lần và cuối cùng Trần Khắc Chung đưa ra một ý kiến rất tầm thường. Theo ý Trần Khắc Chung, thì vua Minh Tông đã không bằng lòng với Trần Quốc Chẩn trong việc trì hoãn lập thái tử. Nếu lòng hoàng thượng đã như vậy thì chúng ta cần gì phải đi quanh. Cứ mời người có uy tín nhất cùng chúng ta diện kiến hoàng thượng trình bày hơn thiệt. Điều nầy chắc phải nhờ đến Tá thánh chứ không thể một ai khác.

      Văn Hiến hầu tỏ ra thất vọng với ý kiến vô cùng “vô duyên” của Trần Khắc Chung. Ông không ngờ người được mang tiếng là tài ba nầy đã nói một điều như chưa nói gì. Tuy thế, mấy hôm sau Văn Hiến hầu cũng đem ý kiến của Trần Khắc Chung trình bày với cha mình. Tá thánh Trần Nhật Duật đã 69 tuổi, vốn là người điềm đạm và nhân từ từ lúc còn trẻ. Ông trầm ngâm và cuối cùng khen Trần Khắc Chung là một người sáng suốt.

      Đã hơn một tháng nay mọi lần thiết triều vẫn trôi qua bình thường, không còn ai nhắc đến việc lập thái tử. Bỗng một ngày nhà vua được tin có Tá thánh Trần Nhật Duật xin yết kiến. Nhà vua mau mắn ra thềm điện đón vị tằng thúc tổ mà ông vô cùng kính mến. Từ ngày lên làm vua đã có đôi lần ông về nhà Tá thánh để thăm lại một nơi có nhiều kỷ niệm ấu thơ, chứ chưa bao giờ Tá thánh đến diện kiến như thế nầy. Đi sau Tá thánh là Văn Hiến hầu, Trần Quang Triệu và Trần khắc Chung, cả bốn người sụp lạy nhưng vua Minh Tông đã mau chóng đỡ dậy và mời vào trong điện. Nhà vua nghĩ chắc có việc quan trọng, nên ông hỏi ngay và được Tá thánh Trần Nhật Duật nhắc đến việc lập thái tử.

      Vị tằng thúc tổ không nói gì nhiều, ông chỉ nói hoàng thượng bây giờ đã tự mình quyết định được mọi việc hết rồi. Hoàng thượng thấy lòng mình thế nào, thì làm y thế ấy miễn sao không hại cho quốc dân thì được. Nhà vua lắng nghe lời ông cố chú với một lòng kính mến chân thành. Hình ảnh lúc trẻ thơ hiện về. Ở đó có một thằng bé ngỗ nghịch trong lúc Tá thánh đang giảng về kinh Lễ hoặc giảng về cách nấu ăn của người Nùng. Nhà vua trầm ngâm một lát rồi xoay qua hỏi thiếu bảo Trần Khắc Chung về việc học và tính nết của các hoàng tử. Ông đặc biệt hỏi về hoàng tử Vượng, thì mọi người đoán rằng nhà vua đã chọn cho mình một quyết định.

      Buổi thiết triều ngày hôm sau, vua Trần Minh Tông thông báo chọn hoàng tử Trần Vượng làm thái tử. Ông ra lịnh cho thiêm tri Nguyễn Trung Ngạn chọn ngày đăng quang cho vị trừ quân. Mọi người trong triều đều chúc mừng nhà vua, riêng Huệ Vũ vương phản đối. Hơn một tháng nay ông ngỡ rằng nhà vua thấy được lòng ông. Trong thâm tâm, ông lo cho nhà Trần, lo cho đứa cháu đương kim hoàng đế của mình. Ông quyết duy trì ngôi thái tử cho dòng chánh là bảo vệ nhà Trần, chứ không phải ông chờ đợi đứa cháu ngoại chưa chào đời của ông lên làm vua.

      Huệ Vũ vương phản đối Văn Hiến hầu nêu lên trường hợp chính thống hay không chính thống của đương kim hoàng đế làm ví dụ. Ông đã không kìm được nóng nảy. Ông đã miệt thị Văn Hiến hầu không phân biệt vàng thau. Chiêu Hiến hoàng thái hậu, mẹ vua Minh Tông tuy là thứ thiếp, nhưng bà là người tộc Trần. Bà là con của Bảo Nghĩa vương Trần Bình Trọng. Từ sự tranh luận ôn hòa, Huệ Vũ vương đã biến sang sự tranh cãi kịch liệt. Ông đã có những lời xúc phạm Tá thánh Trần Nhật Duật, xúc phạm nhà vua và xúc phạm cả tiên đế Anh Tông. (vua Anh Tông băng hà tháng 12 năm 1320). Ông trách vua Anh Tông đã cải đổi qui tắc tuyển phi thành rộng rãi hơn mới sinh ra cớ sự nầy.

      Với thái độ của Huệ Vũ vương, dĩ nhiên vua Minh Tông phải có biện pháp. Trước triều thần nhà vua phải tỏ ra uy quyền, nhưng Huệ Vũ vương là chú ruột là cha vợ, là đại thần nên ông khó thể bắt giam. Ông ra lịnh đưa Huệ Vũ vương về chùa Tư Phúc để sám hối. Ông còn bảo Văn Hiến hầu và Trần Khắc Chung giám sát quan thượng tể quốc phụ nầy trong lúc ở chùa.

      Chùa Tư Phúc ở trong nội thành. Chùa không qui định dành riêng cho ai, nhưng các hoàng tử, công chúa và quận chúa thường hay tới lễ Phật cầu phúc nên lâu ngày chùa như là riêng tư cho giới quí tộc. Nhà vua và các đại thần cũng có khi lui tới, nên hòa thượng trụ trì được biết mặt. Thông thường thì họ đến trong phong thái nhàn nhã, bỗng hôm nay họ tới với cả lính tráng và giáo gươm làm sư trụ trì lo sợ. Vị sư ông chưa biết mình phạm tội gì thì Huệ Vũ vương đã sớm cho ông ta biết ý định của nhà vua. Sư trụ trì từ ngỡ ngàng nầy đến ngỡ ngàng khác. Ông chuẩn bị thời khóa sám hối cho quan thượng tể, nhưng Huệ Vũ vương bảo không cần như thế. Vị quan đầu triều chỉ xin lễ Phật rồi sau đó sẽ tuyệt thực để phản đối nhà vua. Ta có tội gì mà phải sám hối? Văn Hiến hầu và thái bảo Khắc Chung không có ý kiến. Vị sư bèn sắp xếp một phòng ở hậu điện để vị vương gia nầy tùy nghi. Chỉ một mình gia nhân Trần Phẫu được ở bên Huệ Vũ vương. Nhà sư và hai đại thần sau đó thì chia tay. Ai cũng nghĩ chú cháu, nhạc tế họ giận nhau thế thôi, chắc ít ngày rồi cũng yên.

      Khách và sư cụ chùa Tư Phúc đều nghĩ như thế, nhưng quan thượng tể thì lại không. Ông quyết tuyệt thực để chờ nhà vua thay đổi quyết định. Cơm nước Trần Phẫu mang đến ông đều từ chối. Trời tháng ba mát mẻ và không ai canh gác, nhưng ông không ra ngoài. Ông không ăn uống, và ngồi bán già như một vị thiền sư làm Trần Phẫu không dám kinh động. Thời ấy đạo Phật rất thịnh hành, và Trần Phẫu cũng là người mộ đạo theo kiểu mê tín. Anh đã từng nghe có những vị thiền sư Ấn Độ nhịn ăn nhịn uống nhiều ngày ở trên rừng rồi trở thành những vị Phật sống. Trần Phẫu nghe thế, tin thế nhưng không hề nghĩ chủ nhân mình muốn thành Phật. Anh nghĩ ông đương “nằm vạ” để yêu cầu hoàng thượng làm một điều gì. Anh nhớ đến những người đàn bà ở quê anh đã từng nằm vạ mà được việc. Đó là hình ảnh thoáng qua, nhưng anh không bao giờ dám so sánh một cách phạm thượng như thế.

      Sang đến ngày thứ năm thì mọi việc đều đổi khác. Khi Trần Phẫu đi vào thăm chừng, thì Huệ Vũ vương đã ngã nghiêng. Mắt ông mờ đục và môi bọng khô. Hơi thở chỉ còn thoi thóp. Trần Phẫu hoảng sợ vội đi tìm sư cụ. Tin được khấp báo cho hoàng hậu, nhà vua, và thượng tể phu nhân. Lúc mọi người đến thì sư cụ đang đưa ly nước lên miệng Huệ Vũ vương, nhưng ông không nhấp được. Hoàng hậu Lệ Thánh khóc đầm đìa. Bà phải dùng khăn tay của mình nhúng nước nhỏ từng giọt vào miệng của cha. Nước thấm trên bờ môi khô khốc của Huệ Vũ vương nhưng không chảy được vào trong. Những giọt nước muộn màng đã không cứu được người cha, vị quan đầu triều của triều đại Minh Tông Khai Thái.

      Cái chết của Huệ Vũ vương trong tháng 6 năm 1328 đã gây ra những oan khiên khác. Đầu tiên, Trần Phẫu bị xử chết. Người nô bộc suốt đời trung thành với chủ nầy, bị khép tội trực tiếp bỏ thuốc độc vào thức ăn của mệnh quan đại thần. Người kế tiếp là Văn Hiến hầu bị đuổi ra khỏi hoàng thành. Từ nay ông không được mang họ Trần, và vĩnh viễn bị giáng xuống làm thứ dân. Ông mang tội chủ mưu giết Huệ Vũ vương. Trần Khắc Chung cũng mang tội đồng chủ mưu với Văn Hiến hầu, nhưng ông nầy may mắn hơn. Nhị vị nguyên phi Anh Tư và Sung Viên đã hết lòng van xin nhà vua, do vậy Trần Khắc Chung được miễn tội. Vua Minh Tông ân hận đã gián tiếp gây ra cái chết cho Huệ Vũ vương. Bên cạnh đó, ông cũng thấy ra rằng chưa chắc người chú nầy đã chết vì thuốc độc. Ông ta có thể đã chết vì thiếu nước, vì tức bực, vì tình trạng cơ thể đột biến trong lúc tuyệt thực. Thêm một lần ân hận nữa, là đã giết lầm người nô bộc tội nghiệp và xử oan cho Văn Hiến hầu. Nhưng, mọi việc đã qua. Lịnh vua là lịnh trời, nên những ban bố của nhà vua không được gọi là sai lầm. Ông luôn luôn thấy ray rứt, nhưng ông chỉ tự phạt mình bằng cách nhường ngôi cho con. Hơn 6 tháng sau tính từ ngày Huệ Vũ vương và Trần Phẫu chết, ông quyết định rút lui, và sự dày vò được lấp lại. Ngày 7 tháng 2 năm 1329 nhà vua đưa hoàng tử Trần Vượng lên làm thái tử, và chỉ một tuần sau, ngày 15 tháng 2, lên làm vua. Từ đó vua Trần Minh Tông thành thái thượng hoàng.

Từ buổi ấy người con đích trưởng
Trần Thánh Sinh nối tiếp ngôi vương
Tuổi đà mười bốn ơn thúc tổ
Mọi việc binh thư đã tỏ tường

Minh Tông trị nước thời thịnh trị
Sĩ tử thêm nhiều mỗi khoa thi
Chu An, Trung Ngạn đều tài giỏi
Rạng đức nho môn ở một thì

Khi khôn lớn những mùa xuân tới
Đã đôi lần lạc bước rong chơi
Xuân thì con gái ai hương sắc
Mà khéo se duyên nợ giữa trời

Giáp Sơn tây đôi người con gái
Cùng mẹ cha đôi tuổi gần nhau
Chị đà mười sáu em mười bốn
Chị lấy chồng em cũng có hay

Hoàng tử Vượng con đầu người chị
Con nguyên phi không thể trừ quân
Nhà vua còn đợi ngôi chánh thất
Sinh một hoàng nam mẹ họ Trần

Mẹ họ Trần con quan Trần Chẩn
Ngôi chánh cung tuổi nhỏ đoan trang
Thơ ngây sống giữa đời ân oán
Từ độ chưa yêu đã hậu hoàng

Duyên cớ ấy sinh trong sinh đục
Mà tự thân nào biết gì đâu
Thiết triều bao nỗi hờn lên mắt
Từ những thân vương những công hầu

Chùa Từ Phúc nơi đâu trong nội
Chốn vô tâm có việc vô tâm
Phải đây trú xứ tìm thanh thản
Sao lại oan khiên cuộn sóng ngầm

Thinh không một buổi trời chưa sáng
Tin nào phật tự lại đưa sang
Đố ai viết hết lòng đau xót
Giọt nước trong veo lúc muộn màng

Sang xuân mà ngỡ như đông tới
Cột trụ Trần triều quốc phụ đâu
Sóng ngầm xô giạt về ai đó
Phải Khắc Chung hay lại Văn Hầu?

Chuyện chưa rõ bao sâu bao cạn
Mà ai gom oan khuất bao giờ
Ai là Trần Ngẫu làm thân tế
Ai để Văn Hầu gánh vết nhơ

Người đã chết về đâu có hiểu
Vực oan khiên mấy nẻo mấy tầng
Cán cân đã lệch chùa Tư Phúc
Truyền ngôi cửu ngũ trách tự thân


<<  |  >>