Skip to content

Chương 15/5

NHÀ TRẦN
(1225 – 1400)

Đoạn năm

TRẦN ANH TÔNG
VÀ NỖI BUỒN CHIÊM VIỆT CỦA HUYỀN TRÂN

 

      Năm 1293, chiến tranh chống Nguyên Mông lần thứ 3 chấm dứt đã 5 năm. Lúc này đất nước thái bình. Hưng Đạo đại vương đã trọng tuổi về trí sĩ hẳn ở Kiếp Bạc. Chiêu Minh đại vương Trần Quang Khải cũng lui về phủ đệ. Vua Trần Nhân Tông quyết định rút lui về Thiên Trường, truyền ngôi cho thái tử Trần Thuyên. Đó là vua Trần Anh Tông, 17 tuổi. Ông là một nhà vua may mắn được nhiều người có tài giúp sức. Ngoài đại thần cựu trào Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật còn có các vị: Trương Hán Siêu, Mạc Đĩnh Chi, Đoàn Nhữ Hài, Trần Quốc Tảng, Phạm Ngũ Lão, Trần Khánh Dư, Trần Khắc Chung. Họ đều là những kỳ tài về văn hoặc võ học.

      Trương Hán Siêu là học trò xuất sắc của Trần Ích Tắc và cũng là một môn khách trẻ của Trần Hưng Đạo. Ông là người đứng sau lưng vị quan tiết chế nầy trong kế hoạch chống quân Nguyên năm 1285 và 1287. Bên cạnh Trương Hán Siêu, Mạc Đĩnh Chi cũng là người xuất sắc về văn học. Năm 1304, lúc 24 tuổi, ông đỗ đầu khóa thi thái học sinh. Ông được nhà vua cho giữ chức tả bộc xạ. Đây là một chức vụ lo về chính trị, nhưng ông là một người uyên bác và có tài ứng xử nên thường được cử đi sứ. Khi đi sứ phương bắc, ông đã dùng tài năng của mình để ứng đối với các quan sứ và cả vua Nguyên làm họ phải nể vì. Tương truyền Nguyên Thành Tông (cháu nội của Hốt Tất Liệt, và là vị vua thứ hai của nhà Nguyên), sau một lần đối đáp đã phong ông là Nguyên triều quan trạng. Đoàn Nhữ Hài thì không thấy ghi trường lớp ông đã trải qua, nhưng vua Anh Tông đã tìm thấy tài năng của ông trong cơn “khốn khó” với thượng hoàng Nhân Tông. Tri khu mật viện là một chức quan văn ưu tiên cho những người tài giỏi trong hoàng tộc, nhưng vua Anh Tông đã giao cho Đoàn Nhữ Hài.

      Về sau, Huệ Vũ vương Trần Quốc Chẩn cũng là người văn võ kiêm toàn tận sức với triều đình. Nhà vua phong người hoàng đệ nầy làm nhập nội bình chương khi mới 21 tuổi vào năm 1302. Chức vụ nầy rất lớn, chỉ nhường chức thái úy quốc công của đại thần Trần Nhật Duật mà thôi.

      Riêng bản thân nhà vua là một người thông minh và có nhiều cá tính. Lúc mới làm vua đã muốn thoát ra ngoài cái quá đỗi nghiêm túc của một vị quân vương. Ông cũng có lần đi rong chơi và “đàn đúm” uống rượu. Một lần bị thượng hoàng Nhân Tông trách phạt vì tội nầy, nhưng may gặp được Đoàn Nhữ Hài viết tờ biểu hối lỗi nên rồi cũng được tha. Nhà vua trẻ nhận ra tài năng của họ Đoàn từ đó. Vua Trần Anh Tông cũng dám bỏ tục lệ xâm hình đầu rồng vào bắp chân, điều để nhớ về nguồn gốc sông biển của họ Trần Hải Ấp.

      Bên cạnh đó, ông còn bỏ luôn một tục lệ có từ thời vua Trần Thái Tông. Theo đó, từ nay vua và các vương tử nhà Trần không bắt buộc phải chọn thê thiếp ở những thiếu nữ cùng họ tộc. Tuy nhiên điều đổi mới nầy chưa được áp dụng đối với việc chọn hoàng hậu. Có nghĩa hoàng hậu vẫn phải là người hoàng tộc. Nhìn chung  nhà vua có những cải cách rất mới so với thời điểm lúc bấy giờ, nhưng khi nhắc tới vua Trần Anh Tông thì người ta lại nhớ đến một việc khác: Gả chồng cho cô em gái Huyền Trân.

      Gả chồng cho em là nhiệm vụ của vua Anh Tông, nhưng gả cho ai đã được định đoạt từ vua cha Nhân Tông. Năm 1301, nhân quốc vương Chiêm Thành Chế Mân có lời mời, thượng hoàng Nhân Tông đã đến thăm kinh thành Vijaya tức Đồ Bàn. Thượng hoàng ở đây nhiều tháng, và hai vị quốc vương tỏ ra tâm đắc trong việc cần phải hổ tương yểm trợ cho nhau. Mối thắt chặt nầy sinh ra một lời hứa: công chúa Huyền Trân sẽ được gả cho vua Chiêm khi lớn khôn, và cô sẽ là hoàng hậu. Lời hứa định đoạt số phận của cô bé mười ba tuổi đương ở Thăng Long. Thượng hoàng Nhân Tông được có tiếng là đức độ, nhưng hình như ông không để ý gì đến tâm trạng của đứa con gái của mình. Ông cho Huyền Trân qua làm hoàng hậu Chiêm Thành như là sứ mạng vinh dự chứ không có điều gì đáng tiếc. Huyền Trân phải vĩnh viễn rời bỏ quê hương để đến một nơi mà đã từng là thù địch và có thể sẽ là thù địch. Ông bổ quan nhập nội hành khiển Trần Khắc Chung, người thông thạo tiếng Chiêm Thành, để dạy công chúa.

      Vốn từ nhỏ ở Giáp Sơn, Khắc Chung đã có bạn bè người gốc Chiêm nên ông nầy rành cả văn hóa của họ nữa. Trần Khắc Chung cũng đã gặp công chúa đôi lần, và công chúa cũng đã nghe tài ba của vị quan nầy từ khi có người kể về hai cuộc chiến lịch sử dưới thời phụ hoàng. Do đó tình thầy trò rất sớm tự nhiên. Trần Khắc Chung thấy đây là một cô công chúa thông minh, và sở hữu một nhan sắc tinh khôi. Lúc bấy giờ trong dân gian đã có những dư luận xôn xao thương tiếc về việc công chúa sẽ lấy chồng. Trần Khắc Chung cố dấu điều nầy nhưng Huyền Trân cũng biết. Ông thấy cô buồn nên cố không gợi đến. Ông tế nhị giảng về văn hóa Việt, văn hoá Tàu, văn hóa Chiêm với sự giống nhau nhiều hơn là khác nhau. Quả thật ông có lối giảng dạy rất thu hút làm công chúa say mê học hỏi. Dần dần thời gian cứ đi, và hai người đều thấy những giờ học là những giờ cần thiết. Qua một ngày nghỉ họ đều muốn gặp lại. Từ đó công chúa cũng bớt đi nỗi buồn, và thầy trò trở nên gần gủi hơn. Ông thấy Huyền Trân không phải chỉ qúi như là cây quế giữa rừng, không phải chỉ đẹp như nàng Vương Tường mà thiên hạ đang ví von. Công chúa đẹp hơn như thế nữa. Nhưng, trách nhiệm của ông là phải dạy cho công chúa tìm thấy tình yêu trong một sứ mạng cao cả. Tình yêu đó do quốc vương Chiêm Thành sẽ đem lại cho cô, và sứ mạng cao cả đó là tình thân hữu của hai xứ. Trong niềm an ủi hằng ngày, công chúa dần dần lớn khôn. Nàng bây giờ không còn như một nụ hồng hàm tiếu mà đã có những cánh mỏng thập thò mở ra.

      Thời gian cứ trôi, một năm, hai năm, ba năm. Năm 1305, vua chiêm Jaya Sinhavarman đệ tam (Chế Mân) sai sứ Chế Bồ Đài mang lễ vật qua xin định ngày cưới. Lời hứa cũ chưa hề được viết ra, nhưng nó đủ mạnh để xác định là có nó, dù lúc nầy thượng hoàng đã xuất gia ở chùa Hoa Yên trên núi Bạch Vân. Vua Anh Tông không thể nuốt đi như tự trong lòng nhà vua mong muốn. Ông vẫn biết từ lâu đã có lệ gả công chúa cho các thủ lãnh người thiểu số để tìm sự trung thành, nhưng đều xảy ra trong lãnh thổ Đại Việt. Lần nầy đứa em gái thân yêu của ông phải đi tới một nước khác, thì thật là một điều không nên làm. Số phận của An Tư công chúa còn mịt mờ ở phương bắc, liệu rằng Huyền Trân có yên ổn ở phương nam? Em gái ông mới mười sáu mà người chồng tương lai đã trên 40, và hiện tại đã có hai hoàng hậu và rất nhiều phi tần. Sự tranh giành quyền lực ở hậu cung xa xôi ấy làm sao đứa em thơ ngây nầy chống đỡ. Nhưng, đây là lời hứa của phụ hoàng, một điều bất khả thay đổi. Nhà vua triệu triều thần tìm một giải pháp thích hợp.

      Hầu hết các quan văn võ đều thương tiếc công chúa. Họ đồng lòng ủng hộ nhà vua. Hoặc tự ý hủy lời hứa hoặc cùng đứng lên xin thượng hoàng làm điều này. Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng là một công thần, là người bác họ, là cha vợ của nhà vua, và cũng là người nóng nảy nhất đứng đầu phe đa số tuyệt đối nầy. Chỉ duy có Văn Túc vương Trần Đạo Tái (con của thượng tướng Trần Quang Khải) và quan hành khiển Trần Khắc Chung ủng hộ công chúa theo chồng về Chiêm. Theo hai vị này, đây là lời hứa có kế hoạch ích lợi lâu dài của thượng hoàng. Trần Khắc Chung nêu lên một giả dụ nếu quân Nguyên tấn công phía trước mà phía sau là kẻ thù địch Chiêm Thành thì nước nhà sẽ lâm nguy, xin nhà vua nghĩ lại. Mọi người đều im lặng, nhưng Trần Quốc Tảng thì không. Vị Hưng Nhượng vương nầy vốn đã ghét Trần Khắc Chung từ khi được đổi qua họ Trần mà theo ông là không xứng đáng.  Ông càng ghét hơn vì đã mấy năm nay cứ ngày hai buổi “giả vờ” qua cung công chúa làm thầy. Bây giờ thì ông không nhịn được nữa. Ông cho rằng gã họ “Trần ăn theo” nầy coi thường vua và quân binh nhà Trần. Ví dầu có lưỡng đầu thọ địch như Trần Khắc Chung vừa nói thì quân nhà Trần há sợ hay sao? Ông cho Trần Khắc Chung là kẻ sùng ngoại, và yêu cầu nhà vua xử tội. Vua Anh Tông biết tính người nhạc phụ của mình, nhà vua khéo léo cho bãi trào chờ đến lần phục triều kế tiếp. Trong đêm đó, vua Anh Tông triệu Trương Hán Siêu, Mạc Đĩnh Chi và Đoàn Nhữ Hài để hỏi ý kiến. Kết qủa thì ba vị nầy đồng ý vẫn giữ lời hứa của thượng hoàng, nhưng nêu lên cái giá sính lễ rất cao để vị vua đa tình phương nam bỏ cuộc. Hai châu Ô và Lý ở miền bắc Chiêm Thành được đề ra.

      Chế Bố Đài trở về Chiêm mang theo một đòi hỏi quá lớn, làm vua tôi nhà Trần tin rằng mọi chuyện sẽ không được nhắc tới nữa. Trần Khắc Chung không còn ngày hai buổi đến cung của công chúa Huyền Trân. Ông cũng tránh mặt Hưng Nhượng vương trong mỗi lần triều phục, nên nhà vua ít khi gặp mặt ông. Bẵng đi một thời gian, bỗng một hôm, Khắc Chung được lịnh diện kiến nhà vua gấp. Đến nơi mới biết là có một khế ước bằng tiếng Chiêm, phải cần đến ông dịch cho rõ nghĩa. Trước mặt ông là một trung niên cương nghị, và đoàn tùy tùng chưa tới hai mươi người được vua Trần Anh Tông và Kim Ngô đại tướng quân Phạm Ngũ Lão tiếp đón. Nhà vua cho biết đó là vua Jaya Shinavarman đệ tam của Chiêm Thành.

      Vua Chiêm Thành thân hành đến Thăng Long yết kiến vua Đại Việt với bản đồ và tập khế ước trao hai châu Ô và Lý. Mục đích duy nhất: xin cưới công chúa Huyền Trân. Đây quả là ngoài dự liệu của vua Anh Tông và triều thần. Nội cung trở nên xôn xao, và dĩ nhiên là công chúa Huyền Trân đang hồi hộp. Trong khuê phòng nhìn ra, nàng lo sợ nhiều hơn vui mừng. Người đàn ông tráng kiện có nước da ngăm ngăm kia sẽ là chồng mình? Sẽ là người nói với mình những lời yêu đương bằng thứ ngôn ngữ mình chưa quen?  Ông ta sẽ là người ôm ấp mình? Nàng còn ngờ ngợ với tâm trạng đó, thì trong vô thức hình bóng người thầy Trần Khắc Chung hiện ra.

      Huyền Trân chỉ cảm thấy như vậy rồi thôi. Điều phải đến đã đến. Những chiếc đinh cuối cùng phải đóng vào ván thuyền. Bản dịch tập khế ước từ chữ Chiêm ra chữ nôm đã xong. Quà tặng gởi lại thượng hoàng Nhân Tông đã đủ. Một đám cưới vương giả đã qua. Một lời hứa chăm sóc Huyền Trân của vua Chế Mân trước mặt vua Anh Tông đã nói. Những giọt nước mắt thương yêu đã đầy. Đó là thời khắc công chúa và những thị nữ phải giã từ quê hương. Dọc bờ Nhị Hà có rất nhiều bàn tay đưa lên, có rất nhiều giọt nước mắt đang chảy xuống. Bên sông và trong lòng. Thăng Long buồn rười rượi.

      Cùng thời gian đó, thì đoàn quân nam trấn cũng lên đường đến vùng đất mới. Hai châu Ô và Lý đang biến dạng. La Thủy, Tác Hồng, Đà Biền là ba trong nhiều địa danh nhỏ nhoi trong lòng Ô – Lý ấy phản đối, nhưng sớm được dẹp yên. Vua Anh Tông không muốn máu người dân Chàm phải chảy. Nhà vua phái Đoàn Nhữ Hài là vị quan trẻ tuổi nhưng điềm đạm nhất vào trấn thủ vùng nhượng địa nầy. Qua hơn mười ngày xuôi nam, một trăm thuyền binh cập bến cửa Eo, nơi sông Kim Trà đổ về biển. Nó là điểm giữa của hai châu sính lễ. Lý: phía bắc, Ô: phía nam.

      Đoàn Nhữ Hài cho neo thuyền dọc theo dòng sông và chia quân làm hai hướng mang theo chỉ dụ của hai nhà vua Chiêm, Việt. Ba ngày sau vị quan trấn nhiệm nầy đã có mặt trên đỉnh đèo cao nhất ở châu Ô, mà trong bản đồ phiên ra tiếng Việt gọi là đèo Mây. Lòng Đoàn Nhữ Hài dâng lên một niềm cảm khái của kẻ đi khai phá. Trước mặt là biển rộng mênh mông, sau lưng là rừng ngàn trùng điệp. Ở đó rất nhiều cụm mây gần đến nỗi như chúng đương phà hơi vào mặt người. Nhìn cảnh yên hà của trời đất, Đoàn Nhữ Hài nghĩ đến kẻ si tình Chế Mân. Đây là một khuyết điểm đồng nghĩa với tội lỗi của vị đế vương đương kim vương quốc Chàm. Chế Mân đã từng được coi là anh hùng giữ từng tấc đất trong chiến tranh chống quân Nguyên và chiến tranh chống đế quốc Khmer của Chiêm Thành. Tự cổ, sắc đẹp đàn bà vẫn làm nghiêng thành quách!

      Đèo Mây là tên được dịch ra từ ngôn ngữ Chàm, và được đổi thành Hải Vân từ đó. Đoàn Nhữ Hài lần lượt Việt hóa các địa danh cấp nhỏ, nhưng con sông ranh giới Cu Đê dưới chân nam đèo Hải Vân thì vẫn giữ như cũ. Nó mang chữ Việt và âm Chàm giống như nhiều địa danh khác còn tồn tại: Tà Lang, Cha Nay, Đa Rông, Hong Chăn, Đê Bay…Theo lịnh của vua Anh Tông thì người dân tự chọn lấy nơi cư trú. Họ tự do qua bên kia sông Cu Đê về với vương quốc Chàm hoặc ở lại bên này. Nếu chọn ở lại thì ngôn ngữ địa phương vẫn được duy trì, các chức hương ấp vẫn được người Chàm nắm giữ và không phải đóng thuế trong ba năm.

      Dân tộc Chàm vốn coi hương làng là nơi gắng liền với tổ tiên nên cũng không mấy người rời bỏ để ra đi. Bấy giờ hai châu Ô và Lý còn rất hoang sơ, dân cư thưa thớt. Mùa lúa gặt tháng năm Chàm lịch là nguồn lợi chính. Họ cấy trên những cánh đồng nhỏ rời rạc. Nguồn nước để nuôi sống mùa lúa nầy được lấy từ các khe suối ở núi đồi gần đó. Thông thường những trận mưa giông tháng ba giúp lúa dậy thì nẩy nở, để có những cánh đồng vàng ươm vào mùa gặt tháng 5. Lúa tháng 10 ít thu hoạch hơn, nó chỉ cần gieo trên rẫy khô và không cần nhiều nước. Nghề nông chỉ có thế.  Các con sông lớn nhỏ như Bến Hải, Thạch Hãn, Ô Lâu, Bồ Giang, Kim Trà (sông Hương), sông Truồi và sông Cu Đê chưa được khai thác. Việc đắp đập để lấy nước đưa lên nhiều vùng đất cạnh bờ sông là điều cần làm. Nó sẽ nâng diện tích canh tác lên rất nhiều lần, và tỷ lệ thu hoạch dĩ nhiên cũng cao hơn. Đoàn Nhữ Hài cho người về trình những dự án xây dựng lên vua Trần Anh Tông để có những chỉ dụ khai phá. Mọi việc được chuẩn thuận một cách mau chóng. Tháng 3 năm 1307 vua Anh Tông chính thức đổi tên châu Lý thành châu Thuận, và châu Ô thành châu Hóa. Có một đợt di dân lớn vào vùng đất mới. Đây là đợt di dân lớn thứ hai vào phương nam, sau lần vào Tân Bình (Địa Lý, Ma Linh, Bố Chính) năm 1069 dưới triều vua Lý Thánh Tông.

      Trong lúc Đoàn Nhữ Hài từng bước xây dựng Thuận Hóa, thì ở thành Đồ Bàn có những biến chuyển rất xấu. Vua Chế Mân đã có một hoàng hậu là mẫu thân của hoàng thái tử Chế Chí và hoàng tử Chế A Nan. Bà mẹ nầy sớm qua đời và nhà vua phong phi tần Tapasi người gốc Java làm hoàng hậu. Theo tục lệ Chiêm Thành nhà vua có thể có nhiều bà hoàng cùng một lúc, và người được lập trước sẽ là chánh cung. Dĩ nhiên chánh cung Tapasi luôn ganh ghét hoàng hậu Paramecvari  tức Huyền Trân công chúa. Bà Tapasi cố tình đào sâu nỗi hận thù Chiêm Việt trong lòng quan quân và thị dân ở trong hoàng thành. Điều nầy tô điểm lòng ái quốc của dân Chàm. Nhà vua càng sủng ái hoàng hậu Paramecvari, thì người ta càng thấy nỗi mất mát hai châu Ô và Lý lớn ra. Thêm nhiều người ghét bà. Công chúa Huyền Trân luôn luôn sống trong nỗi oan ức. Trong thâm tâm, dân Chàm không khi nào coi bà có thể là mẫu nghi của họ. Họ nghĩ bà là món hàng để trao đổi. Bà chỉ biết dựa vào nhà vua để tìm sự an ủi và che chở.

      Nhưng, chỗ dựa duy nhất đó bất thần sụp đổ đến mức kinh hoàng. Tháng 5 năm 1307 khi Huyền Trân đang mang thai được 6 tháng, thì vua Chế Mân đột ngột băng hà. Ông đột tử trên đường đi săn trở về. Cái chết của nhà vua hoàn toàn không dính gì tới hoàng hậu gốc Việt, nhưng người ta vẫn đổ thừa đó là tại bà. Người ta đinh ninh rằng bà đã mang tới điều bất tường cho dân tộc Chàm. Bà phải chịu cảnh bất công sâu nặng hơn sau cái chết của chồng. Có những tiếng la ó đòi giết bà mà bà nghe được. Một cuộc trả thù vô cớ có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Tình trạng nầy kéo dài từng ngày làm bà khủng hoảng. Bà chỉ còn những thị nữ người Việt lo lắng nhưng không che chở được. Họ rất đau lòng khi nhìn bà vận tang chế đứng hầu quan tài suốt ngày đêm. Bà mệt lã với thai nhi đang co đạp trong bụng làm nhiều lần phải ngất xỉu. Dân tộc Chàm đương hành hạ bà để trả thù, và bà cũng không biết bao giờ họ đem mình đi hỏa thiêu như bà đã từng nghe. Lòng thương yêu chồng không thể nào phủ được cái cảm giác đau đớn khi bị đốt sống.

      Tình trạng của Huyền Trân như thế, nhưng triều đình Đại Việt không hề hay. Lâu nay họ chỉ biết Huyền Trân đang có thai và rất được vua Chế Mân cưng chiều. Bất ngờ hôm nay được hung tin nhà vua Chiêm nầy băng hà, vua Anh Tông vô cùng lo lắng cho đứa em gái của mình. Trong lúc nói những lời chia buồn với vị hoàng thân Chiêm đi sứ, vua Anh Tông không thể nào không nghĩ đến chuyện hỏa táng đi theo của những hoàng hậu Chàm. Khi gả Huyền Trân, vua Anh Tông đã nghe nói tục lệ nầy nhưng không nghĩ nó xảy ra tức thì như vậy. Chưa tới hai năm, đứa em gái chưa đầy hai mươi tuổi. Nếu phải chết thì đó là cái chết đau đớn tức tưởi chứ chẳng vinh dự gì. Phải bằng mọi giá cứu Huyền Trân, nhà vua nghĩ như thế.

      Tự thân vua Trần Anh Tông tìm gặp quan hành khiển Trần Khắc Chung. Ông biết vị quan nầy có tài ngoại giao, biết phong tục và thông thạo tiếng Chàm. Đó là những yếu tố cần thiết để cứu Huyền Trân. Trần Khắc Chung nhận lãnh sứ mạng với tư cách là trưởng đoàn đi điếu tang để đến nơi mà tùy cơ ứng biến. Trần Khắc Chung hy vọng người ta hoãn hỏa thiêu Huyền Trân vì có thai, và ông nhanh chóng lên đường. Một trăm người, có an phủ sứ Đặng Vân đi theo. Họ ra khơi trên 3 chiếc thuyền buồm tiến về Đồ Bàn. Xa cách đã gần hai năm, người thầy Trần Khắc Chung rất nóng lòng muốn gặp lại đứa học trò. Bao nhiêu dấu kín trong lòng chỉ có thể âm thầm trải ra đại dương. Ở tuổi tri thiên mệnh của ông, mà nghĩ về một người con gái chưa đầy hai mươi tuổi không phải là điều xấu hổ lắm sao? Bên con tim còn có con mắt của lương tri. Nó thấy một tình yêu đang hiện hữu, và nó đang chặn lại. Trần Khắc Chung đang dìm tình yêu đó xuống chứ không phải nó không hề có. Nó đã có từ lúc còn là thầy giảng quan. Ông đã cố đoạn tuyệt nó. Ông đã lấy lưỡi dao đạo đức chém khối tình nầy bằng cách ủng hộ Văn Túc vuơng Trần Đạo Tái để công chúa ra đi. Bên cạnh sự hy sinh vì lợi ích quốc gia của công chúa, ông hy sinh mối tình thầm lặng nầy có đáng là bao. Bây giờ do đâu công chúa lại chết chồng? do đâu ông thông thạo tiếng Chàm để lại gặp nàng? Ôi, một chuỗi nhân duyên kéo dài mà con người có muốn đoạn tuyệt cũng không hề dứt. Sóng đại dương cứ xô, và sóng trong lòng Trần Khắc Chung cứ dồn dập.

      Thuyền đi nhanh, nhưng phải hơn 10 ngày sau thì mới tới cửa Thị Nại. Không cập bến, họ gấp rút ngược dòng sông Côn về Đồ Bàn. Dọc hai bên bờ sông vẫn êm ả của một thời thái bình. Những khối đá ong vẫn nằm rải rác trên những đoạn đường đất đi đến bến sông. Ở đó những thiếu nữ quấn khăn, mặc váy đang cười nói líu lo. Họ vô tư như không hề biết có một quân vương đã chết. Đến Đồ Bàn trời đã ngả chiều. Thành quách vẫn một màu gạch nung. Không còn một dấu tích chiến tranh của thời Chế Củ, nhưng trong lòng vẫn thấy đâu đó những trận chiến của Lý Thường Kiệt đã cách đây từ 200 năm.

      Trong nội thành thì màu tang chế còn lại rất rõ: khăn tang, quế, liễn, hoa, bài vị, trầm, rượu và những bếp lửa ở khắp mọi nơi. Vua Chế Mân đã được hỏa táng từ nhiều ngày trước. Người ta đã đốt cháy thi thể của ông và một người còn đương sống: chánh hậu Tapasi. Bà quằn quại trong nỗi đau đớn cực kỳ giữa những lời cầu nguyện. Giàn hỏa ở trên rừng đã cháy hết. Thần dân tự ý đốt củi ở nhiều nơi sau đám tang chỉ là phong tục. Đó là sự tưởng nhớ.

      Rất sớm, phái đoàn điếu tang Đại Việt được vua Chế Chí và các cận thần tiếp đón. Họ cho biết vương phi Paramecivari vắng mặt vì bà không được khoẻ, bà đương chờ đợi mọi người ở cung Tây Hiên. Đây là câu nói duy nhất mà Trần Khắc Chung chờ đợi. Nàng chưa bị hỏa thiêu là một điều may mắn đã đạt được. Mọi việc khác đều trở thành thứ yếu. Sau những nghi thức ngoại giao với lời chia buồn thì trời đã tối. Phái đoàn Đại Việt xin phép nhà vua đi thăm công chúa của mình trước khi về dịch quán.

      Cung Tây Hiên không phải là một cung điện nguy nga. Nó chỉ là ba ngôi nhà gỗ riêng biệt, và nối với nhau bằng một hành lang ngắn. Quần tụ nầy nằm trong một khuôn viên rộng có tường gạch bao quanh. Trong đó có vườn hoa, cây cảnh và cây ăn trái. Từ ngày về Chiêm, công chúa ở đây với 12 thị nữ người Việt. Nó riêng lẻ như  một ốc đảo. Nó chưa hòa hợp được với cộng đồng Chàm vì sự ganh tị và thù ghét. Vua Chế Mân muốn không đến đây thường xuyên để có sự công bằng với hoàng hậu Tapasi, nhưng ông không cưỡng lại được. Điều nầy làm những cố gắng hóa giải mối thù thầm lặng Chiêm Việt không hề giảm. Mỗi lần vua Chế Mân đến Tây Hiên là mỗi lần nhét thêm một lưỡi dao trong lòng hoàng hậu Tapasi và những thị dân của hoàng thành. Bỗng chúng đâm ra tua tủa khi cái chết của  nhà vua ập đến.

      Phòng khách Tây Hiên đủ rộng để hơn một trăm người cùng ngồi, nhưng nhiều người muốn đứng lên để nhìn công chúa của mình. Nàng vô cùng tiều tụy. Nàng ngồi lọt thỏm trong chiếc ghế bành như một con sâu con trong chiếc lá. Mọi người đều khóc. Người ta không ngờ cô công chúa thanh xuân của hai năm trước ra nông nỗi nầy. Sau khi hỏi han nhiều người, công chúa nói đại lược hoàn cảnh của mình. Rằng: sự thù hằn là có thật nhưng dân Chàm không đáng trách. Nó đã tồn tại lâu đời từ sự xâm lăng thời Đại Cồ Việt của nhà Tiền Lê. Từ thời phải mất ba châu Địa Lý, Ma Linh và Bố Chính dưới thời nhà Lý. Từ cái chết oan khuất của bà vương phi họ Mỵ. Tất cả thù hằn, đề phòng lẫn nhau vẫn ẩn núp trong những lần liên minh. Và, ngay cả trong lần gần nhất lúc phụ hoàng định đọat đời nàng. Rằng: nàng chưa bị hỏa thiêu, nhưng không biết số phận về đâu. Rằng: nàng vẫn thương người chồng đoản mệnh và đất nước Chàm nhưng người Chàm không chấp nhận. Giọng nàng yếu hẳn. Mọi người đều nghĩ phải làm một cái gì đó chứ không thể làm thinh. Những ánh mắt đều đổ dồn về quan hành khiển Trần Khắc Chung. Ngồi đối diện công chúa, Trần Khắc Chung nhìn làn da trắng hồng của người con gái năm xưa đã quá đỗi xanh xao. Nếu có thể khóc được như mọi người thì ông cảm thấy dễ chịu hơn. Ông nuốt nước mắt vào lòng và yên lặng nhìn nàng. Dưới những ngọn đèn dầu làm lung linh bóng hình trên vách, Trần Khắc Chung không có một lời nào để đáp lại sự chờ đợi của mọi người. Đêm đã khuya, đường về dịch quán thênh thang mà lòng thắt lại.

      Ngày hôm sau, Trần Khắc Chung và an phủ sứ Đặng Vân tới Tây Hiên. Hai người trình bày với công chúa là lịnh vua Anh Tông phải tìm cách đưa nàng về. Nghe chuyện ra đi, nàng yên lặng nhìn xuống phần bụng dưới của mình. Ánh mắt Trần Khắc Chung hướng về chỗ khác, và hiểu rằng đó là kết tinh của một tình yêu mà nàng đã có. Một lòng ghen tị lướt qua, nhưng Trần Khắc Chung trở về thực tại. Ông muốn biết được hai điều:

     Thứ nhất, những biến chuyển tâm lý trong lòng công chúa hiện tại. Theo cách nói chuyện khi hôm thì có vẻ nàng hờn trách thượng hoàng Nhân Tông và cam phận sống tại Chiêm Thành. Nàng chấp nhận sự trả thù của dân tộc Chàm lên tâm trí và thân thể nàng. Nàng cho đó là sự đền bù trong muôn một mà sự xâm lăng của Đại Việt đã gây ra. Nàng có vẻ hoài nghi những liên minh hòa bình kể cả sự hứa gả đặt lên bản thân nàng. Tất cả những điều nầy nàng man mán thấy từ trước, nhưng với cái nhìn của một người Đại Việt. Hiện nay nàng đương nhìn với cái mất mát của người Chàm. Nếu tâm trạng nầy còn tồn tại trong lòng, chưa chắc nàng bỏ nơi nầy để ra đi. Tuổi của công chúa Huyền Trân còn quá trẻ để chấp nhận mọi thứ đều tương đối.

      Trần Khắc Chung muốn đưa công chúa Huyền Trân về thực tế, nàng phải có một ý muốn trở về. Chuyện lịch sử thì ngàn năm trước đến ngàn năm sau vẫn là lịch sử như thế: Nếu có dịp con cá lớn vẫn tìm cách nuốt con cá bé. Bằng cách nói chuyện tự nhiên của hai thầy trò, cung Tây Hiên trở nên vui vẻ hơn mọi ngày. Công chuá có dịp để nghe lại vị thầy của mình nói về sự liên hệ của đạo đức và chính trị. Cả hai thứ đó đều tác động đồng đều lên lòng yêu nước và lòng yêu công bằng, nhưng kết qủa bao giờ cũng thấy mất biệt đi một thứ. Hai thầy trò lần lược đi qua những phân tích, lập luận, suy đoán đầy tính nhân văn và lịch sử. Đồng ý hay không đồng ý trong lý luận hình như có những tiếng cười của nhiều năm về trước. Đó là những giờ phút vui quí báu, mà Trần Khắc Chung có thể biết được công chúa không đến nỗi cố chấp tự hủy lấy mình.

      Điều thứ hai mà Trần Khắc Chung muốn biết là triều đình Chiêm Thành sẽ định đoạt số phận của nàng như thế nào? Ai là người trong triều đình không ủng hộ hoàng hậu Tapasi và có cảm tình với nàng? Về điều nầy thì công chúa Huyền Trân lại mù tịt. Nàng chỉ cho Trần Khắc Chung biết những nhận xét rất con nít của nàng: Đương kim hoàng đế và trưởng lão Chế Toàn là hai người không thù ghét nàng. Khi người ta bắt nàng đứng hầu quan tài suốt ngày đêm thì hai vị nầy đã cho nàng nghỉ nhiều lần. Trong người công chúa đang có cái già dặn của một người chịu đựng, mà vẫn còn một tâm hồn rất trẻ thơ. Trần Khắc Chung nghĩ như thế, và đêm đó ông lại không ngủ.

      Vài ngày sau, Trần Khắc Chung tìm đến nhà trưởng lão Chế Toàn. Ông nầy là chú của vua Chế Mân và là người trông nom thái tử Chế Chí từ nhỏ. Ông là một trong 5 vị của hội đồng trưởng lão có nhiệm vụ giúp nhà vua sửa đổi, hoặc tạo ra những sách lược quốc gia. Hiện nay, ông là ông chú của đương kim hoàng đế và được mọi người kính nể. Với tuổi tác là chú của vua Chế Mân mà lại còn là trưởng lão nữa, Trần Khắc Chung nghĩ vị nầy cao tuổi và giữ rất nhiều nguyên tắc. Mọi ước đoán của họ Trần đều sai. Chế  Toàn chỉ cở tuổi họ Trần và đã gặp nhau trong lần điếu tang. Trần Khắc Chung đại diện sứ thần Đại Việt cảm tạ ơn người đã giúp đỡ công chúa. Ông nói bằng tiếng Chiêm không cần người thông dịch, khác với lúc ở hoàng cung mấy ngày trước. Vị hoàng thân họ Chế không ngờ sứ giả Việt thông thạo tiếng Chàm như người Đồ Bàn. Cuộc nói chuyện không lâu, nhưng nhờ đó họ có sự tương kính và gặp gỡ nhiều lần sau với một tình thân hữu.

      Một lần, Trần Khắc Chung xa gần nói về số phận của những vương phi qua các triều đại Chàm.  Chế Toàn lắng nghe, và ông biết vị sứ giả Đại Việt muốn nhắc đến vương phi Paramecvari. Ông thành thật cho biết: Với tín ngưỡng Chiêm Thành, hoàng hậu và phi tần không được các đấng thần linh khuyến khích chết theo vua như người ta tưởng. Chỉ có những người tình nguyện và những vị đó phải đủ hai điều kiện căn bản: Thứ nhất, phải có xuất thân là người cùng tín ngưỡng với tiên đế. Thứ hai, phải hiểu việc tuẫn tang là việc phụng sự có lợi lạc cho chính bản thân mình. Nhưng về sau số người tình nguyện ít dần đi hoặc hoàn toàn không có. Do đó hỏa thiêu theo nhà vua trở thành một việc chọn lựa và do hội đồng trưởng lão phụ trách. Họ vẫn duy trì hai yếu tố căn bản nêu trên, nhưng phần nào mất niềm tin thần thánh ban đầu. So ra hoàng hậu Paramecvari không đủ tiêu chuẩn để vinh dự được hỏa táng theo vua Chế Mân, nhưng nàng lại rơi vào một tình huống khác. Theo luật vương triều Chiêm, hoàng hậu và phi tần của tiên đế nếu không có con sẽ bị trả về nguyên quán. Những người có con sẽ được ở lại kinh thành và được triều đình chăm sóc. Hoàng hậu Paramecvari đương nhiên được hiểu là có con, nhưng lại bị thần dân coi là kẻ thù. Sau cái chết của vua Chế Mân, người ta còn nghĩ nàng là hiện thân của tai ương và xui xẻo. Cho nàng về quê thì không hợp với truyền thống, mà giữ nàng lại thì không hợp với lòng thần dân. Những kẻ cuồng tín và quá khích có rất nhiều trong xã hội và triều đình Chàm. Chế Toàn không nói ra nhưng Trần Khắc Chung biết tính mạng của công chúa rất nguy hiểm.

      Một lần duới ánh nắng chiều không còn oi bức, một Việt một Chàm ở hiên sau nhà vị trưởng lão. Chế  Toàn 55, Trần Khắc Chung 50. Họ vẫn giữ lằn ranh Chiêm Việt nhưng họ rất thành thật nhờ sự tương kính. Trần Khắc Chung nói đến tâm trạng và nỗi đau khổ của Huyền Trân, và rất muốn đưa nàng về Đại Việt. Vị trưởng lão họ Chế trầm ngâm nghĩ về người đàn bà trẻ nầy như một kẻ đáng thương hơn là một kẻ thù. Ông cũng thành thật cho biết Huyền Trân bị đối xử thù hằn không phải tự nhiên mà có. Nguyên khi thượng hoàng Nhân Tông của Đại Việt sang thăm Đồ Bàn, mà ở lại quá lâu làm triều thần Chiêm nghi ngờ. Ông đã ở lại hơn 3 tháng và đi thăm nhiều nơi. Đến khi thượng hoàng Nhân Tông hứa gả công chúa để lập thế liên minh chống quân Nguyên thì hội đồng trưởng lão khuyên nhà vua nên thận trọng. Nguyên ở xa mà Việt ở gần. Nguyên có xâm lăng nhưng không chiếm đất. Việt thì có đủ hai thứ. Nhà vua làm thinh, nhưng lòng mê cái đẹp và cái lạ đã làm nhà vua coi thường lời nhắc nhở. Chế Bồ Đài mang sứ mạng qua Thăng Long rồi trở về mang theo một đòi hỏi như một khối đá đè trên lưng, làm nhà vua nổi giận. Thiên hạ mừng. Nào ngờ, một năm sau nhà vua Chiêm đã đem ái dục và lòng hào sảng cá nhân mà dâng hai châu địa đầu đất nước. Ông đổi lấy một người con gái chỉ đáng tuổi con mình. Không những ông mất đất mà mất cả lòng thần dân.

      Chế Toàn ngừng lại nhìn xa xăm. Ánh mắt của vị hoàng thân trên 50 tuổi như nhớ về một dĩ vãng. Nhớ về thăng trầm của vận nước. Nó đang kéo dài đến thực tại mà dân tộc ông phải bước qua. Nhà vua Chế Mân đã từng là anh hùng dân tộc khi còn là thái tử, mà khi làm vua lại làm một điều sai lầm. Dâng hai châu Ô và Lý như người ta đưa hai con xe vào miệng pháo. Mất đất là điều đã rồi và lấy lại đất đang là một điều được đặt ra. Nó sẽ trực tiếp ở trên vai đương kim hoàng đế và hội đồng trưởng lão. Vua Chế Chí can trường, và trong thâm tâm luôn coi Đại Việt là kẻ thù. Ước vọng của ông vua trai trẻ nầy được thần dân ủng hộ. Chiến tranh chắc chắn sẽ xảy ra, và cựu vương phi Paramecvari sẽ ở vào vị thế nào của cuộc chiến nầy? Nàng không thể là một gạch nối hòa bình. Nàng chỉ có thể là một con tin để buộc Đại Việt phải trả lại hai châu Ô và Lý. Nhưng cái quân tử Chiêm Thành, cái liêm sỉ của những đứa con của nữ thần Poh Yang inu Nagar không cho phép đem một người đàn bà để làm áp lực chiến tranh. Có lẽ nên đưa nàng về Đại Việt trước mọi chuyện xảy ra. Ít ra nó chứng minh được hoàng đế Chiêm Thành xứng đáng là một hoàng đế con của một vị nữ thần cao cả. Hoàng đế phải mang tính liêm sĩ và lòng khoan dung.

      Ta từng là một vị thiếu bảo đã dạy cho thái tử Chế Chí phải lấy dân làm trọng để trị quốc kia mà. Trả Paramecvari về cố quốc tuy không theo truyền thống, nhưng khuất mắt người dân. Và, một lý do chính đáng khác: Paramecvari là người đàn bà đáng thương, nàng chưa bao giờ tranh thắng. Chế Toàn đã nghĩ thế. Ông ta bằng lòng giúp vị sứ giả họ Trần mà ít nhiều ông đã coi như một người bạn sơ giao.

      Với sự giúp đỡ của vị trưởng lão họ Chế, mọi việc đều suôn sẻ. Hoàng hậu Paramecvari đang mang thai được hiểu là người chưa có con để được trở về nguyên quán. Hoàng đế Chế Chí ra lịnh cấp một hải thuyền với đầy đủ lương thực để vị hoàng hậu đời trước ra đi. Sau khi bái kiến nhà vua và tạ từ trưởng lão Chế Toàn, Trần Khắc Chung mau chóng đưa Huyền Trân và phái đoàn Đại Việt lên đường. Lúc này thai nhi đã ở tháng thứ 8.

      Ra tới biển Thị Nại thì sóng nước vẫn im. Gió cấp thấp xuôi chiều đưa mọi người về bắc. Thuyền đi rất nhẹ, nhưng sóng biển vẫn làm công chúa khó chịu. Nước da nàng tái xanh và mồ hôi cứ tiếp tục đổ ra. Nàng bắt đầu ói mửa và đến ngày thứ ba thì mệt lã. Sự cố gắng chịu đựng đến năm bảy ngày sau thì thị nữ cho biết dường như công chúa có triệu chứng lâm bồn. Ở thuyền bên cạnh Trần Khắc Chung hay được, nhưng ông không có cách gì giải quyết. Thai nhi đang ở tháng thứ 8 mà đoàn thuyền không có ai có kinh nghiệm hộ sinh. Các thị nữ thì còn quá trẻ, kinh nghiệm hải hành của thủy thủ thì không giúp được gì trong việc nầy.

      Trần Khắc Chung cho đoàn thuyền đi gần vào bờ. Ông hy vọng nhìn thấy một khu dân chài nào đó, nhưng bờ biển vẫn cheo leo vắng vẻ không một dấu tích có làng mạc. Thuyền vẫn đi mà lòng vẫn nóng. Hết ngày rồi lại đêm tất cả những trai tráng thay nhau chèo. Họ cố thu ngắn lại khoảng đường. Trời đang chớm vào thu, ngày không nóng và đêm mát dịu, nhưng Trần Khắc Chung vẫn không tìm được một giấc ngủ dài. Ông thức rất khuya và tỉnh dậy vào lúc tinh mơ. Ông đếm từng ngày.

      Hôm nay trên nền trời đông, sao mai hình như sáng hơn. Những vì sao xa lắc cũng hình như thế. Trời trong hay lòng Trần Khắc Chung vui? Tính ngày đi, ông biết đoàn thuyền đang sắp tới Đại Việt. Ông lắng nghe âm thanh du dương của biển cả mà cảm tạ đất trời. Ông nhìn màng đêm loãng dần mà lòng rộn ràng theo tiếng nhiều người trai trẻ đang thức dậy. Ông cho đoàn thuyền đi xa ra bờ để vòng qua một bán đảo. Với kinh nghiệm đi ngược chiều lần trước thì thuyền sắp tới một bán đảo có ba nhánh nhô hẳn ra đại dương. Theo địa lý Chàm thì từ xa xưa bán đảo nầy là một hòn đảo. Qua nhiều thiên niên kỷ bồi lấp, nó dính liền với đất liền. Nó nằm phía nam sông Cu Đê không xa.

      Trời sáng rõ. Người bên thuyền nầy thấy được người bên thuyền kia, và người ta cũng thấy được những đỉnh núi thấp trên bán đảo ấy. Thuyền đang ở ngoài khơi và mọi người đang thức dậy. Mặt trời đương lên như nửa quả cầu đỏ. Một vùng hào quang lấp lánh, tạo thành một con đường thủy tinh kéo dài từ chân trời đến bán đảo. Ở đó sóng nước trùng trùng đập lên bờ đá lồi lõm. Bình minh đẹp đến  mênh mang. Lúc mặt trời lên cao hơn họ đã qua khỏi bán đảo. Đỉnh đèo Mây hiện ra, phần đất châu Ô đã thuộc về lãnh thổ Đại Việt. Đoàn Nhữ Hài đương ở đó. (bán đảo nầy không tìm thấy tên trong ngôn ngữ Chàm, đến gần 100 năm sau dưới thời Hồ Hán Thương được đặt tên bán đảo Sơn Trà)

      Thuyền từ từ chạy qua chân đèo Mây và cập vào vịnh Lăng Cô. Người ta đã thấy được thuyền chài và cờ Đại Việt. Trời gần trưa và Trần Khắc Chung mau chóng gặp Đoàn Nhữ Hài. Hai vị đại quan nhà Trần gấp rút lo cho công chúa. Một bà mụ địa phương người Chàm được mời tới. Một hài nhi trai không đủ ngày tháng chào đời trong lúc người mẹ còn mệt lã. Cả mười ngày sau công chúa Huyền Trân mới dần dần khoẻ lại, nhưng còn rất yếu. Nằm bên con thơ mà đan xen những buồn vui, nàng không ngờ mình sinh con ở làng quê nhỏ bé nầy. Nó lọt thỏm giữa biển và rừng. Ở đây người ta có thể nghe được tiếng rống của những con voi cái và tiếng sóng biển cùng một lúc.

      Trời bắt đầu lạnh, và đã có những ngày mưa ầm ầm dội trên mái tranh. Nước từ rừng Bạch Mã, từ đèo Hải Vân đổ xuống tưởng chừng như xé rách Lăng Cô. Người ta nói có nhiều nơi đã bị lụt, và họ đương chờ đợi những ngày nắng. Những thúng lúa tháng mười cắt vội còn chưa kịp phơi. Vị thầy thuốc người Chàm bảo “ở cữ” không được ra ngoài và không được dính nước. Huyền Trân suốt ngày ở trong phòng kín. Nàng được các thị nữ hơ cái khăn tay trên bếp lửa than và ắp nhẹ lên phần bụng dưới.

      Huyền Trân cố không nghĩ ngợi, nhưng những bóng dáng cũ cứ hiện về. Đâu rồi công chúa, đâu rồi hoàng hậu, đâu rồi Chế Mân, đâu rồi Đồ Bàn, đâu rồi những ngày tháng hồn nhiên bên người dì ở Đại Việt. Con ta là hoàng tử Chiêm Thành được sinh ra trên mảnh đất Chiêm Thành vừa bị mất. Đất của cha nó mất về tay của mẹ nó.  Nó có hiểu được mối oan khiên nầy không? Mối dây Chiêm Việt mà ta không kết nối được như mong muốn của phụ hoàng có phải là lỗi của ta không? Ta nghĩ phụ hoàng đã sai lầm có đúng không? Đâu rồi hoàng huynh, đâu rồi thầy Khắc Chung? Ta đã thực sự yêu Chế Mân chưa? Nếu đem một đứa con gái mà đổi lấy bất cứ điều gì đó thì rất tội tình. Còn con ta. Đứa con nầy có phải là kết qủa của tình yêu không? Con ta sẽ tội nghiệp biết bao. Nó sẽ lạc loài. Nó mồ côi cha. Nó chỉ còn có người mẹ nhiều thương tích nầy. Con ơi, ta đặt tên con là Đa Đa nhé.

      Hoàng tử Chế Đa Đa được các thị nữ chăm sóc nhưng cậu bé cứ khóc hoài. Nó èo uột tong teo đến nỗi không dám ra khơi để về Thăng Long. Người ta chờ đợi nó cứng cáp hơn nhưng dường như không thể. Bằng các phương thuốc Chàm cổ truyền chỉ trị được những cơn sốt, cậu bé vẫn xanh xao. Thỉnh Thoảng lắm cậu bé mới nhìn lên với ánh mắt trong trong. Những lúc ấy người ta “hỏi” và cậu “trả lời” bằng những âm thanh a a ơ ơ của một hài tử. Đó là tiếng nói của một con người, nhưng chưa phân biệt chủng tộc. Ôi, những lúc ấy đẹp biết bao! Đến khi được 4 tháng tuổi thì Đa Đa bỗng tệ hẳn đi, sau những cơn ho tội nghiệp, cậu bé thiêm thiếp rồi tắt thở. Người ta thấy bàn tay nhỏ bé của Đa Đa nằm trong bàn tay của mẹ nó suốt qua lằn ranh tử sinh. Trần Khắc Chung và nhiều người xung quanh đều im lặng, không ai cản người mẹ trẻ ôm thi thể của đứa con với nước mắt đầm đìa. Đa Đa chết khi hai châu Ô và Lý ăn cái tết đầu tiên của Đại Việt. đó là tết mậu thân năm 1308. Trong những ngày nắng ráo đầu năm âm lịch ấy, người ta đem chôn vị hoàng tử ấu nhi dưới chân đèo Hải Vân. Đầu cậu bé quay vào núi, và người ta nghĩ cậu sẽ nhìn thấy biển cả thêng thang. Công chúa Huyền Trân hiểu thế nào là nỗi đau của người mẹ mất con, và trở về kinh đô vào những ngày cuối tháng hai năm 1308. Trời Thăng Long lạnh buốt.

    Đối với vua Trần Anh Tông thì chuyến đi của Trần Khắc Chung là một thành công lớn. Đưa được đứa em tưởng phải bị tuẫn tang trở về là điều quan trọng nhất. Ông trọng thưởng cho Trần Khắc Chung, dù quanh chuyến trở về của Huyền Trân có nhiều tai tiếng. Người ta hoài nghi Trần Khắc Chung tư thông với công chúa. Ông ra đi tháng 5 năm 1307 và trở về tháng 2 năm 1308. Đó là thời gian quá dài để từ Thăng Long đến Đồ Bàn và trở về. Mặc cho thiên hạ nghĩ thế nào, công chúa Huyền Trân và Trần Khắc Chung vẫn im lặng. Họ nghĩ giải thích chỉ là chà lên nỗi đau chứ không ích lợi gì. Những điều tiếng sau lưng rồi sẽ qua.

      Mấy tháng sau Huyền Trân lên thăm phụ hoàng ở núi Bạch Vân. Lúc nầy thượng hoàng đã đổi tên núi thành Yên Tử, mang ý nghĩa cội nguồn của tĩnh lặng. Đứa con gái muốn đi tu. Người cha không trả lời. Vị đạo sư biết đứa con gái tội nghiệp của mình chưa rủ bỏ hết được lòng trần. Ông từ tốn khuyên Huyền Trân hãy đi thăm nhiều nơi, nếu có duyên rồi hãy quyết định. Đó là lần gặp gỡ cuối cùng của Huyền Trân với vua cha. Mùa đông, người cha mất. Một năm sau, năm 1309 Huyền Trân gieo duyên bồ tát giới ở chùa Nộm duới chân núi Trâu Sơn. Qua hai năm thử thách nàng được xuống tóc với pháp danh Hương Tràng. Đó là lúc Huyền Trân hay tin chiến tranh Việt Chiêm xảy ra ở hai châu Ô và Lý. Nàng có cảm tưởng như ai đó đang cứa lại vết thương. Chính thức xuất gia ở thời điểm tâm mình vô cùng rối loạn, Huyền Trân cầu xin chư Phật cho nàng có đủ dũng lực để tu trì. Lúc ấy Huyền Trân hay ni cô Hương Tràng mới vừa 24.

      Vua Chiêm Chế Chí không bận tâm đến chuyện vị hoàng hậu của cha mình đang làm gì, đang nghĩ gì. Vị vua trẻ nầy cũng không coi nàng là kẻ thù nữa, nhưng phần đất đã mất nhất định phải lấy lại. Tháng 4 năm 1311 khi mùa lạnh đã qua, quốc vương Chiêm cất quân đòi lại hai châu Ô và Lý. Vua Chế Chí cử trưởng lão Chế Toàn làm phó tướng dẫn 5 ngàn quân vượt qua sông Cu Đê. 10 ngàn quân binh khác đích thân nhà vua chỉ huy tiến vào cửa Eo vào lúc mờ sáng. Họ cùng một lúc tấn công. Cứ ngỡ với binh lực được tôi luyện và tấn công bất ngờ sẽ đè bẹp đám dân quân của Đoàn Nhữ Hài, nhưng vua Chiêm đã sai lầm.

      Từ lâu, với sự tham mưu của Trương Hán Siêu, vua Anh Tông đã cho những đội quân tinh nhuệ vào hai châu Thuận và Hóa. Họ chính là những nông dân trong những đợt di dân ba năm liền. Trên 10 ngàn dân quân dưới sự chỉ huy tài ba của các đội trưởng, Đoàn Nhữ Hài đã cầm cự ngang bằng với mười lăm ngàn quân Chiêm được nhiều ngày. Yếu tố bất ngờ chạm phải sự cảnh giác thường trực nên ban đầu quân Chiêm không có lợi thế. Tuy nhiên, vì quân số ít hơn nên tướng Đoàn Nhữ Hài dần dần không cầm cự nổi với quân Chàm. Sự cố gắng đến tuần lễ thứ ba thì quân Đại Việt phải co cụm lại ở rừng Bạch Mã. Toàn châu Lý và miền duyên hải châu Ô đều bị quân Chiêm Thành kiểm soát.

      Trong lúc vua Chế Chí ra lịnh bình định vùng tái chiếm, thì quân tiếp viện từ Thăng Long đã kịp đến. Thân chinh hoàng thượng Trần Anh Tông dẫn 15 ngàn quân trên 100 chiến thuyền ra khơi. Trần Quốc Chẩn, Trần Khánh Dư, Trần Khắc Chung là ba thuộc tướng đi theo. Khi đi qua mũi Si ngoài khơi cửa Tùng thuộc Ma Linh cũ, thì Trần Khắc Chung cho biết đã tới phần lãnh hải thuộc nhượng. Vua Anh Tông chia quân làm hai cùng một lúc đổ vào đất liền. Trần Quốc Chẩn, Trần Khắc Chung tiến vào cửa Việt. Đạo quân nầy phải tìm cách bắt tay với Đoàn Nhữ Hài để tạo thành cánh cung tây bắc. Nhà vua và Trần Khánh Dư đi xa hơn tiến vào cửa Eo. Hai đạo quân sẽ đánh dồn địch quân về hướng nam. Vua Anh Tông muốn cuộc chiến phải thật nhanh để tránh quân tiếp viện Chàm từ Đồ Bàn kéo ra. Một cuộc tàn sát Việt – Chiêm chưa từng có xảy ra trên vùng địa đầu nầy. Người bị thương và người chết nằm chồng lên nhau. Có nhiều người cố bò xuống suối uống nước và chết tại đó. Chỉ trong ba ngày quân Đại Việt hao hụt hết một phần ba, và đối phương hoàn toàn tê liệt. Quân Chiêm đã bị quân Đại Việt đánh thốc về phía nam. Người chết không thể đếm và đến ngày thứ tư thì quân Chiêm chỉ còn hai nhóm rất nhỏ chạy lạc đi hai nơi:

      Chế Chí và đám tàn quân chưa tới hai trăm người bị vây ở Lăng Cô. Quân của vua Anh Tông và Trần Khánh Dư từ Phước Tượng tiến vào. Quân của Trần Quốc Chẩn từ rừng Bạch Mã tiến xuống đang chận ngang ở phía bắc chân đèo Hải Vân. Thế đã cạn cùng, hoàng đế Chiêm Thành và tàn quân đành thúc thủ. Tất cả đều buông gươm và không ai bị giết. Quốc vương Chế Chí được vua Anh Tông đối xử như một ông vua tại vị. Sau đó Chế Chí được đưa về Gia Lâm, và vua Anh Tông phong ông làm Thuận Trung vương. Tuy nhiên, nỗi thất chí của kẻ bại vong đã làm ông buồn rầu và qua đời chỉ sau một năm ở xứ người.

     Toán tàn quân thứ hai do Chế Toàn dẫn đi bị thất lạc vua Chiêm ở làng Truồi. Chưa tới hai trăm người chạy loạn trong rừng Bạch Mã. Họ bị cánh quân đông của Đoàn Nhữ Hài và cánh quân tây của Trần Khắc Chung truy lùng. Đuổi và chạy không biết tới ngày và đêm. Bất cứ lúc nào quân Chiêm cũng cố chạy về hướng nam và quân Việt cũng tìm cách đuổi theo. Ít ra họ đã trải qua ba ngày giữa rừng ngàn mênh mông có rất nhiều voi nầy. Cho đến một chiều Trần Khắc Chung và các thuộc hạ đã ra khỏi bờ nam của rừng Bạch Mã. Trước mặt họ là con đường mòn dẫn tới bờ sông Cu Đê. Nắng chiều thoi thóp trên những ngọn cỏ lau chạy dài xuống dòng sông. Ngồi trên một thân cây đổ, Trần Khắc Chung nghĩ ngợi rất nhiều. Đối với dân Chàm, cuộc chiến do vua Chế Chí khởi động có đáng trách hay không?  Dù giết được một số quân Đại Việt, nhưng quân Chiêm chết lên tới hàng vạn người mà phần đất đã mất cũng không lấy lại được. Trên đường truy lùng, Trần Khắc Chung thấy dân chúng Chiêm dắt díu nhau chạy loạn. Ở đó có những bé thơ vừa chết trong cái gùi của người mẹ đã qua đời. Hình ảnh nầy làm Trần Khắc Chung nhớ tới Chế Đa Đa trước giờ bỏ mẹ nó.

      Công chúa Huyền Trân có biết cuộc chiến nầy không? Nàng đang đứng chỗ nào ở bãi chiến trường nầy? Trần Khắc Chung đang đuổi theo những ý nghĩ riêng tư, thì có người dẫn tới một tên lính Chàm vừa bị bắt. Mặt tên lính xanh mét vì sợ hãi. Trong lúc anh cúi lạy xin tha mạng thì anh nghe được một phương ngữ Đồ Bàn bảo anh đứng dậy. Anh mừng vô cùng. Niềm hy vọng được van xin để sống sót được nhen nhúm. Anh thuật lại rằng anh là một tiền sát viên đi thám thính trong cánh quân đang tháo chạy. Qua đó, Trần Khắc Chung ngỡ ngàng biết rằng, người tướng địch đang bị đuổi bắt là Chế Toàn. Những ngày cũ hiện ra rất rõ. Ánh mắt xa xăm của một người ân, một người bạn khác xứ sở hiện ra. Mênh mang một nỗi buồn, mênh mang một tình tri ngộ không gặp mặt. Ông quyết định tha người lính Chàm và không đi truy lùng nữa. Buổi chiều. Phía nam châu Ô chỉ còn những ngọn lau hiu hắt.

      Sau đó Chiêm Thành có vua mới là Chế Năng. Ông là một vị hoàng thân do hội đồng trưởng lão đưa lên. Hai nước Chiêm – Việt dưới thời Chế Năng và Trần Anh Tông trở lại bình thường. Ở phương bắc, Nguyên Nhân Tông vẫn tiếp tục lo dung hòa hai tộc Hán Nguyên  nên Đại Việt yên ổn.

      Năm 1314 vua Trần Anh Tông lui về Thiên Trường làm thái thượng hoàng. Ông nhường ngôi lại cho đứa con trai thứ tư đã trở thành con trưởng. Nguyên vua Anh Tông có nhiều thê thiếp, nhưng chỉ có 3 vị sinh được con trai. Chánh cung Thuận Thánh hoàng hậu, con của Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng, có với vua Anh Tông hai đứa con trai nhưng đều bị chết từ lúc còn rất nhỏ. Tĩnh Huệ hoàng phi, con của Hữu Kim Ngô đại tướng quân Phạm Ngũ Lão, sinh được một trai nhưng vị hoàng nam nầy cũng chết lúc chưa đầy một tuổi. Chiêu Hiến hoàng phi, con của Bảo Nghĩa vương Trần Bình Trọng sinh được một hoàng nam và vua Anh Tông đặt tên là Trần Mạnh. Sợ Trần Mạnh khó nuôi như ba đứa anh của nó, nên vua Anh Tông gởi cho ông chú Trần Nhật Duật chăm sóc. Trần Nhật Duật đổi tên Trần Mạnh thành Trần Thánh Sinh và nuôi nấng dạy dỗ từ lúc vừa thôi nôi. Đó là đứa con trai thứ 4 của vua Trần Anh Tông với người thứ thiếp, và được truyền ngôi.

 

Rồi từ ấy Trần Thuyên kế nghiệp
Tức Anh Tông nối tiếp vua cha
Cựu thần đến lúc không tham chính
Thế hệ đi sau gánh sơn hà

Mười bảy tuổi cũng đà khôn lớn
Một thanh bình sau buổi binh đao
Nhà vua nhân dáng người đỉnh ngộ
Bỏ mê say cuộc rượu xương bồ

Anh Tông trị nước giàu cá tính
Bỏ tục xâm mình gốc thủy dân
Bỏ luôn thê thiếp duy nội tộc
Lệ ấy từ đây bớt bớt dần

Triều thần văn võ nhiều người giỏi
Danh sĩ năm triều bia đá ghi
Hán Siêu môn khách từ Quốc Tuấn
Một cõi nhân gian ít kẻ bì

Nhữ Hài không thấy ghi khoa bảng
Mà được Trần vương trọng mấy trào
Châu Ô châu Lý đi khai phá
Mà chết bên trời tận Ai Lao
Đĩnh Chi tài trí vang danh tiếng
Mấy lần đối sứ trước triều Nguyên
Quá Quan, Nhật Hỏa, Thiên Thanh đối
Ứng khẩu, vua Nguyên trọng thượng hiền

Một thời bình trị không chinh chiến
Chỉ nợ Chiêm Thành nỗi giang san
Nợ người em gái hai nhà nước
Mượn núi Trâu Sơn bước Hương Tràng

Đâu cảnh, đâu tâm, đâu phụ tử
Đâu Chế Mân hài tử Đa Đa
Đâu Việt, đâu Chiêm, đâu Ô Lý
Đâu nhân gian đâu nước đâu nhà

Ra khơi mà giã Chiêm Thành quốc
Hồ dễ như là một cánh mây
Thuyền đi theo nước về theo nước
Ai biết cho ai cuộc lệ nầy

Hỏi quan hành khiển ân sư cũ
Chiêm Việt từ đâu hóa hận thù
Phụ hoàng có ngỡ tình như thế
Nữ Việt hậu Chàm lệ thiên thu

Ai về ta gởi về Ô Lý
Nửa mảnh hồn xưa bóng phù trần
Hỏi nay sóng nước bờ Đông Hải
Còn vỗ mây trời đỉnh Hải Vân?

Anh Tông cắt cử quan quân trấn
Ô Lý Chàm ơi hóa thuận rồi
Trăng treo trên đỉnh rừng Bạch Mã
Rọi xuống nhân gian khúc lũng đồi

Chiêm Thành mất đất, đất còn đau
Thu sau đất sính chửa phai màu
Vua Chiêm Chế Chí đi đòi lại
Trả mối thù đau, đau cứ đau

Ai nam tiến ai là bắc tiến
Đỉnh đèo Mây hò hẹn thắng thua
Quân Trần thủy bộ thênh thang quá
Ngọn gió nam chinh tốc tốc lùa

Lăng Cô thúc thủ chiều quan tái
Chế Chí sa lầy giữa nước mây
Ráng hồng xuống thấp ngoài xa thẳm
Biển vẫn vô tâm sóng nước đầy

Nhà vua Chế Chí sẽ về đâu
Việt Chiêm đôi ngả đã đôi đầu
Gia Lâm nghe nỗi hờn vong quốc
Tiếng vọng về đâu thâu canh thâu

Mất Chế Chí, Chế Năng vua mới
Tình Việt Chiêm bỏ giận mà thương
Nước non yên ổn không chinh chiến
Anh Tông trở gót đến Thiên Trường


<<  |  >>