Skip to content

Chương 15/4

NHÀ TRẦN
(1225 – 1400)

Đoạn bốn

TRẦN NHÂN TÔNG:
CHIẾN TRANH  VIỆT – NGUYÊN LẦN THỨ BA 1287

 

      Đầu mùa thu năm 1285, hai cánh bại quân của Thoát hoan và A Lý Hải Nha cũng về tới Đại Đô. Tổng số còn lại chưa tới 10 ngàn người. Một thiệt hại rất lớn đối với Hốt Tất Liệt, làm nhà vua nầy nổi giận. So với một lần thất bại với Đại Việt và hai lần với Nhật Bản trước đây thì lần nầy rõ là sỉ nhục. Ông buộc những tướng bại trận phải lập tức lên đường trả thù. Nhưng, lúc chuẩn bị quân tướng và lương thảo thì tình hình bất ổn ở miền nam xảy ra. Sau khi Hốt Tất Liệt thống nhất giang sơn nhà Tống vào năm 1279 đã phân chia dân chúng thành nhiều hạng. Người Mông Cổ được trọng vọng nhất. Các dân tộc miền bắc có phong tục gần giống Mông Cổ cũng được ưu đãi, họ được gọi là Sắc Mục. Sau đó mới tới người Tàu phía bắc, cuối cùng là người Tàu phía nam. Hầu hết sĩ phu phương nam của nhà Nam Tống bị trù dập. Không có ai đủ sức đứng lên chiêu binh phục Tống, nhưng mầm bất ổn lan ra cùng khắp. Xã hội như chưa từng yên, và nó lên cao điểm vào cuối năm 1285. Điều nầy làm hoãn bước xâm lăng và trả thù Đại Việt.

      Mãi đến cuối tháng 12 năm 1287, Hốt Tất Liệt mới ra lịnh tấn công. Lần nầy vẫn hoàng tử Thoát Hoan tổng chỉ huy. A Lỗ Xích làm phó tướng. Ô Mã Nhi đặc trách chỉ huy lực lượng hải quân. Năm vạn quân của họ chia thành 3 mũi tấn công. Thứ nhất, A Lỗ Xích có tùy tướng A Lí dẫn 20 ngàn quân từ biên giới Vân Nam đi dọc theo tả ngạn sông Hồng tiến về Thăng Long. Thứ hai, Thoát Hoan có Trình Bằng Phi, Bát Xích làm tham tá tiến quân từ sông Kỳ Cùng qua huớng sông Lục Nam về Vạn Kiếp. Đạo quân nầy trên 20 ngàn quân, có cả “An Nam Quốc Vương” Trần Ích Tắc và tùy tùng đi theo. Thứ ba, Ô Mã Nhi có phó tướng Tích Lệ Cơ và Phàn Tiếp dẫn 5 ngàn thủy binh trên 150 chiến thuyền xâm nhập cửa biển Nam Triệu. Chúng sẽ qua Bạch Đằng, Kinh Thầy về Vạn Kiếp, đây là điểm hẹn với cánh quân Thoát Hoan. Thủy quân và bộ binh sẽ song song theo sông Đuống tiến về Thăng Long. Riêng Trương Văn Hổ và Phí Củng Thìn vận chuyển lương thực theo sau.

      Để đối lại những mũi tiến công của địch, vua Trần Nhân Tông chia ra làm 5 khu vực chống trả. Dĩ nhiên với sự tham mưu của tiết chế Trần Hưng Đạo. Thứ nhất, Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật có Phạm Ngũ Lão và Trần Quốc Nghiễn trực thuộc bảo vệ mặt tây bắc. Thứ hai, bộ binh đối đầu với Thoát Hoan do thượng tướng Trần Quang Khải tổng chỉ huy. Dưới quyền ông có Trần Quốc Tảng, Nguyễn Thế Lộc và Đỗ Khắc Chung. Thứ ba, hải quân của Ô Mã Nhi do Trần Quốc Uất, con trai thứ của Trần Hưng Đạo làm tướng soái. Có Trần Ngạc, Đỗ Hành, và Trần Quốc Hiện là những võ quan tùy tướng. Riêng Trần Khánh Dư đóng quân ở đảo Vân Đồn ngoài khơi vịnh Bái Tử Long để yểm trợ. Thứ tư, mặt nam hoàn toàn yên tĩnh nhưng nhà vua cũng giao cho lão tướng Lê Phụ Trần sẵn sàng một đạo quân trừ bị. Thứ năm,  thành Thăng Long, đích thân nhà vua tổng chỉ huy. Tiết chế Trần Hưng Đạo và một môn khách của ông là Trương Hán Siêu thường xuyên có mặt để tham mưu và bảo vệ. Không kể quân trừ bị của Lê Phụ Trần, Đại Việt có 6 vạn quân tham chiến.

      Những ngày cuối cùng của tháng 12 năm 1287 tức trước tết âm lịch mậu tý một tháng, quân Thoát Hoan đã qua khỏi sông Kỳ Cùng. Họ theo hướng sông Lục Nam tiến về Sơn Động. Trình Bằng Phi và Bát Xích yểm trợ nhau tiến quân từ đông bắc Lạng Sơn đến đông nam Bắc Giang. Để chặn lực lượng nầy của địch, tướng Nguyễn Thế Lộc tổ chức phục kích nhiều lần. Kết quả chỉ là làm chậm bước tiến của Thoát Hoan, nó không thành công đáng kể. Đồn Sơn Động và Phù Sơn bị quân địch tràn qua, vị tướng người bản địa nầy phải đưa quân chạy vào rừng. Kế tiếp, đồn Hãm Sa của Đỗ Khắc Chung cũng thất bại tương tự, ông phải dẫn quân chạy về căn cứ Tư Trúc của tướng Trần Quốc Tảng để bố trí lại lực lượng. Tướng Tảng xin viện binh từ Vạn Kiếp, tuy nhiên, nó vẫn không là bước cản của đoàn quân xâm lăng. Trải qua 17 lần chạm trán lớn nhỏ kể từ lần đầu với Nguyễn Thế Lộc, quân Thoát Hoan đã tràn qua căn cứ Tư Trúc với rất ít thiệt hại về nhân mạng. Đây là đoàn quân chiến thắng. Bây giờ, sau lưng họ là dãy Đông Triều, trước mặt họ là sông Lục Đầu mênh mông chảy về Vạn Kiếp.

      Sông Lục Đầu là một con sông ngắn tập hợp 4 dòng nước đổ về: Sông Lục Nam, sông Thương từ mạn bắc, sông Cầu từ mạn tây, và sông Đuống từ mạn nam. Bốn nguồn nước đổ dồn về đây và chảy ra biển khơi với hai dòng sông lớn: Thái Bình, và Kinh Thầy. Sáu con sông nầy tạo ra một Phả Lại nối liền với trung du phía bắc, và một Vạn Kiếp nối với phù sa phía nam. Nếu Phả Lại – sông Cầu đã từng phá Tống, thì Vạn Kiếp – Kinh Thầy đang đối mặt với quân Nguyên. Tại cuối nguồn sông Kinh Thầy nầy, 150 chiến thuyền của Ô Mã Nhi đang tiến vào lãnh thổ Đại Việt.

      Sông Kinh Thầy chảy qua nhiều nơi và mang tên sông theo tên địa phương ở đó: Thủy Nguyên, Đá Bạch, Gia Đước, Bạch Đằng, Nam Triệu. Thủy quân nhà Nguyên đã qua khỏi cửa biển. Tiên phong Phàn Tiếp đã vào sâu trong sông Bạch Đằng. Chánh phó tướng Ô Mã Nhi và Tích Lệ Cơ ở phía sau. Qua muôn trùng biến thiên của đất trời, nhưng sông núi nơi đây không chịu nhiều thay đổi. Đã hơn 300 năm từ ngày Ngô Quyền thắng quân Nam Hán, Tràng Kênh có già đi, Nam Triệu có dời ra xa, Bạch Đằng vẫn mang mang như thế. Chi lưu sông Chanh vẫn như núp trong rừng già. Dòng nhật triều ở ngã ba nầy vẫn lên xuống như xưa, vẫn thăm thẳm ở đoạn Tràng Kênh và thênh thang ở thượng nguồn Bạch Đằng. Không biết đến bao giờ khúc sông nầy sẽ bồi lở đổi thay hoặc biến mất, nhưng ở vào thời đương đại vẫn là con đường sông thuận tiện nhất từ vịnh đông bắc đổ về Vạn Kiếp.

      Khi thủy quân của Ô Mã Nhi tiến sâu vào lãnh thổ Đại Việt, đã bỏ Bạch Đằng từ lâu, thì mới gặp chiến thuyền nhà Trần cản lại. Lực Lượng hai bên vô cùng chênh lệch. Tướng Trần Ngạc hy sinh ngay những phút đầu ở đồn Trúc Động. Nam quân sớm tan rã trước khi đại thủy quân của giặc tiến tới. Ô Mã Nhi có cảm tưởng chưa hề có cuộc chiến xảy ra. Vị thủy tướng nhà Nguyên nầy ra lịnh nhanh chóng nuốt đoạn đường thượng nguồn kế tiếp. Căn cứ Sông Giá, và đồn Thủy Nguyên dọc bờ sông không cầm cự nổi. Với năm trăm lính thủy bộ mỗi nơi đã không cản được đường tiến quân của địch. Quân của Ô Mã Nhi tiến về Vạn Kiếp. Chúng đương  bắt tay với quân của Thoát Hoan ở Phả Lại.

      Trong lúc những diễn biến ở mặt bắc và mặt đông như thế thì ở hai nơi khác cũng không hề bình yên: Thứ nhất, ở đảo Vân Đồn, Trần Khánh Dư đã chận đánh đoàn thuyền lương thực của Trương Văn Hổ và Phí Củng Thìn. Họ Phí chạy thoát nhưng Trương Văn Hổ chết ở biển khơi. Mười lăm thuyền lương và 5 thuyền bảo vệ bị đánh đến tan tành. Điều nầy xảy vì Ô Mã Nhi không nhận được lịnh bảo vệ đoàn quân lương của Trương Văn Hổ. Đó là một cánh quân riêng biệt có bảo vệ, mà ai cũng tin rằng đi sau đoàn quân của Ô Mã Nhi là an toàn.

      Thứ hai, ở tây bắc, cánh quân của A Lỗ Xích cuối cùng bị thất bại. Ban đầu, Trần Quốc Nghiễn và Phạm Ngũ Lão lần lược thất trận ở những cứ điểm đóng dọc theo sông Thao. Hai vị tướng quân nầy phải đưa quân về tuyến phòng thủ Bến Gót – Bạch Hạc của Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật. Tại vòng cung nầy khí thế chống Nguyên hừng hực khi được tăng viện. Mười ngàn quân của lão tướng Lê Phụ Trần ở miền nam được gấp rút gởi lên. Từ thế thủ qua thế công quá bất ngờ làm A Lỗ Xích nghi hoặc lối đánh của người phương nam, khiến ông ta không có một phản ứng kịp thời. A lí bị thương và bị bắt khi A Lỗ Xích không yểm trợ kịp lúc. Chiến trường đổi hướng. Quân Đại Việt không những không cho quân Nguyên tiến về hạ nguồn sông Hồng mà còn không cho chạy ngược về sông Thao. Máu trên những cánh đồng phù sa nầy đã chảy ra tới lòng sông Nhị. Quân Nguyên hoàn toàn tan rã. Trong hàng chỉ huy, chỉ một mình A Lỗ Xích trốn được theo đám tàn quân.

      Dẹp được tây bắc, vua Nhân Tông tăng cường quân số cho thượng tướng Trần Quang Khải ở Vạn Kiếp. Ba mươi ngàn bộ binh được tăng viện từ Thăng Long và Tiên Du, hơn 100 chiến thuyền cũng xuất phát từ Hải Dương và Gia Đông do đích thân tiết chế Trần Hưng Đạo chỉ huy. Cờ bay dọc theo sông Đuống và sông Thái Bình. Hứa hẹn một cuộc ác chiến. Đó là tháng hai năm 1288. Đã có những chạm trán nhỏ. Sự giằng co đang kéo dài suốt theo Lục Đầu giang. Thời tiết bây giờ đã sang xuân. Quân Nguyên và quân Việt đều đã qua một cái tết ở chiến trường. Bắt tay được với Ô Mã Nhi, nhưng Thoát Hoan lại thất vọng. Dù quân số tăng lên, nhưng lương thực không có. Chờ nhiều ngày vẫn không thấy đoàn quân lương của Trương Văn Hổ đến, làm vị tướng soái trẻ tuổi vô cùng tức giận. Ông ta trách cứ Ô Mã Nhi và cho người đi tìm đoàn quân lương họ Trương. Thực ra, Ô Mã Nhi không hề nhận lệnh bảo vệ đoàn lương thực nầy. Đó là một sai lầm từ lúc ban lệnh ở Đại Đô.

     Bằng bất cứ nguyên nhân nào, nhưng thiếu lương thực cũng là điều trước mắt. Một mặt, Thoát Hoan gấp rút báo về triều đình, một mặt ông ra lịnh tấn công. Không ngày nào không có chiến trận. Thuyền hai bên đã nhiều lần chạm trán giữa dòng Lục Đầu, nhưng chưa bao giờ thuyền bên nầy qua được bờ bên kia. Bộ binh của hai bên đều đã nhiều lần đưa vòng qua đầu đông hoặc đầu bắc để tấn công nhau nhưng đều phải trở về. Tình trạng giằng co như thế kéo dài đến hơn một tháng sau, khi mà tiết trời bắt đầu trở ấm. Đó cũng là thời điểm những khẩu phần cơm của quân nhà Nguyên bị ít đi. Đó cũng là thời gian Nguyễn Khoái, Đỗ Hành, Yết Kiêu, Dã Tượng miệt mài cắm cọc trên sông Bạch Đằng đã xong.

      Ngày 26 tháng 3 năm 1288 vua Trần Nhân Tông xuống chiếu tấn công. Liên quân Trần Quang Khải – Trần Hưng Đạo dồn hết vào Vạn Kiếp . Quân từ Thị Cầu, Từ Sơn, Gia Lâm đều sẵn sàng. Một nửa số quân ở tây bắc của Phạm Ngũ Lão được tăng phái về Phả Lại. Mười ngàn quân của Lê Phụ Trần ở mặt nam cũng gấp rút di chuyển về Vạn Kiếp. Dĩ nhiên quân Nguyên không thể nào thắng vì lương thực đã cạn tới đáy, và phải chịu một chọi hai. Họ cố cầm cự đến ngày thứ ba thì cả bộ binh và thủy quân đều tan rã. Thoát Hoan, Bát Xích, Trình Bằng Phi, Trần Ích Tắc dẫn quân chạy về đường cũ. Người ngựa không còn hàng lối, trong lúc đại quân Trần ở phía sau và quân biên phòng Nguyễn Thế Lộc phía trước. Quân Nguyên cố đánh mở đường máu chạy về phía bắc. những trận đánh liều mạng từng chặn xảy ra. Dọc theo chân dãy Đông Triều người ta không thể đếm được hết xác quân Nguyên.

      Những ngày kế tiếp cuộc rượt đuổi vẫn tiếp tục, và số hàng binh tăng lên rất nhiều. Điều nầy làm chậm bước tiến của quân Trần nên các tướng lãnh nhà Nguyên có cơ hội chạy thoát. Nhiều lần họ được bảo vệ để rút lui. Bát Xích, Trình Bằng Phi và Thoát Hoan không phải chật vật như lần thoát hiểm hai năm trước. Họ chạy thoát, nhưng Trần Ích Tắc thì không may như thế. Một đêm, ở Nội Bàng, Trần Ích tắc và đoàn tòng vong bị quân Nguyễn Thế Lộc ép sát phải chạy lui. Lúc nầy thượng tướng Trần Quang Khải đang dẫn quân đi tới. Trăng thượng tuần nghiêng nghiêng không soi rõ mặt người, nhưng trong khoảnh khắc vị tướng soái họ Trần biết đó là người em ruột của mình. Phải giết kẻ phản bội. Trần Quang Khải đã nghĩ thế. Nhưng, trong một khắc lòng ông chùng xuống. Thời gian như không phải lúc nầy ở rừng núi Bắc Giang, mà đang thụt lùi về thời hoa niên ở hoàng cung. Ở đó, thằng em trai thua ông 15 tuổi chỉ mới biết bò. Lòng Nam Thiện vương chợt đau buốt. Trong một khắc ngần ngừ, ông cho quân dừng lại không đuổi theo. Rừng Nội Bàng trở lại cũ, vẫn nhập nhòa dưới ánh trăng nghiêng.

      Trong lúc bộ binh của nhà Nguyên chạy tơi bời về bắc, thì thủy quân của họ đang bị phục kích trên đường rút lui. Khi ra khỏi Lục Đầu giang khả năng thủy quân của Ô Mã Nhi đã yếu đi rất nhiều. Những lìều lĩnh tranh thắng ở Vạn Kiếp đã làm họ mất đi hơn 50 chiến thuyền. Họ xuôi dòng Kinh Thầy ra biển. Qua Vạn Kiếp, Kinh Môn, Đá Bạch, Gia Đước, mực thủy triều lên xuống mỗi ngày và đoàn thuyền vẫn yên ổn rút lui. Dòng sông quanh co nhưng nhờ xuôi dòng nên đến ngày thứ ba họ đã đến ngã ba sông Chanh. Bây giờ trời đã quá trưa và dòng nước vẫn thênh thang. Phàn Tiếp vẫn đi đầu và Ô Mã Nhi vẫn ở cánh trung quân. Ông ta đang nghĩ về những lời tấu trình với vua Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt. Một trăm thuyền binh đang sau trước xuôi dòng.

      Bất ngờ. Từ chi lưu sông Chanh vô số quân nhà Trần đổ ra. Đó là những chiến thuyền nhỏ hơn thuyền quân Nguyên, nhưng trang bị đầy đủ khiên mây chống tên và nhiều tướng trẻ. Hưng Hiến vương Trần Quốc Uất, Hưng Trí vương Trần Quốc Hiện, tướng Đỗ Hành, Yết Kiêu, Dã Tượng, Nguyễn Khoái, Phạm Ngũ Lão đều có mặt ở lòng sông. Họ được yểm trợ bằng từng đoàn xạ tiễn ở hai bên bờ. Cuộc ác chiến lập tức ập đến. Với nhà Trần, bằng giá nào cũng phải cầm chân quân Ô Mã Nhi đến giờ thủy triều rút xuống. Ô Mã Nhi đã biết mình bị phục kích, ông ta ra lịnh tập trung về phía trước để tiêu diệt địch, nhưng lòng sông có giới hạn. Thuyền chiến và quân lính phía sau trở thành vô dụng, chỉ lo chống đỡ những trận mưa tên từ trên bờ. Giờ phải đến đã đến. Cửa Nam Triệu đang hút nước dòng sông. Lòng Bạch Đằng thu nhỏ lại. Thuyền Đại Việt chạy vào hai bên bờ. Thuyền của quân Nguyên bắt đầu khó di chuyển. Đáy thuyền chưa chạm đáy sông nên quân Ô Mã Nhi cố chạy về Nam Triệu. Sự cố gắng đó đang nằm trên bãi cọc. Rất nhanh tất cả chiến thuyền thấy vướng víu lạc mất đội hình. Sự hỗn loạn xảy ra. Những chiến binh trên những thuyền đi trước đã thoát qua vùng cọc nhưng không thể nào bình yên đi qua Tràng Kênh.  Mưa tên từ ghềnh Cốc và Yên Giang ở hai bên bờ đổ xuống trên từng mục tiêu. Có một số chạy được về Nam Triệu nhưng rất ít. Ô Mã Nhi đang ở trung quân, ông ta nhìn mặt nước đã biết rõ hết mọi việc.

      Không hổ là một danh tướng can trường, vị tướng có gốc Ả Rập nầy ra lịnh tất cả tấn công lên ngã ba sông Chanh trước khi sa lầy ở bãi cọc. Đây là một quyết định liều lĩnh nhưng khôn ngoan. Tuy nhiên, những chiến thuyền đã vượt qua như không muốn nghe lịnh của vị tướng soái của họ. Số ít nầy thoát được ra biển. Số quân thực sự còn lại cố gắng chiến đấu để lên bờ chưa tới ba ngàn. Họ ráng mang tinh thần bất bại của đại mạc để xông lên. Dưới mưa tên, họ vẫn chồng lên nhau để bước tới. Có người đã bị thương nhưng không chịu buông gươm. Quân Nguyên chết trên bờ và dưới nước thành một dãy như một chiếc cầu người. Bây giờ thì cọc gỗ đã nhô lên và những chiến thuyền như những con cá đồng mắc cạn. Dù tướng nhà Nguyên có tài giỏi và sức mạnh nhiều lần hơn nữa thì cũng đành khuất phục. Tướng và quân đều buộc phải hàng. Tổng số hàng binh chỉ còn lại chưa tới một ngàn người. Tất cả đều bị thương hoặc bị chết dưới lòng sông. Tích Lệ Cơ, Phàn Tiếp, Ô Mã Nhi đều bị đưa về Vạn Kiếp cùng một lượt với những binh sĩ hai bên bị thương.

      Trận Bạch Đằng kết thúc vào một ngày đầu tháng 5 năm 1288. Hưng Đạo vương rút quân về Thăng Long trước lúc thượng tướng Trần Quang Khải vài ngày. Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật từ tây bắc thì đã về trước đó. Ba vị đại thần cột trụ của nhà Trần diện kiến thượng hoàng và nhà vua. Một buổi thắp tạ trời đất trước Chiêu lăng của vua Thái Tông và sau đó khoản đãi các vương gia và tùy tướng. Lúc nầy Hưng Đạo Vương được phong làm Hưng Đạo Đại vương. Đỗ Khắc Chung được mang quốc tích họ Trần và được giữ chức quan hành khiển. Tên gọi “Ả Trần” được thay cho tên gọi của Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc. Đặc biệt hoàng thượng Trần Thánh Tông cho đốt tráp đồng chứa tên những người làm tay sai cho giặc đã tịch thu được. Dĩ nhiên là đã coi xong rồi, nhưng điều này vẫn nói lên lòng khoan dung của vua Trần.

      Đại Việt từ đó yên ổn. Một năm sau nhà vua cho thả tất cả tù binh về nước, nhưng trên đường về, thuyền của Ô Mã Nhi bị đắm. Lúc ấy vào lúc nửa đêm không thể cứu được, nên vị tướng đã từng phá tông miếu nhà Trần nầy phải chết. Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt nghi ngờ rằng vua An Nam Trần Nhân Tông và đệ nhất tướng soái Hưng Đạo đại vương đã giết Ô Mã Nhi, nhưng không có bằng chứng. Sự việc ấy đi vào quên lãng, và hai nước trong thời hậu chiến tranh trở lại giao hảo bình thường.

      Đến năm 1290, có loạn ở biên giới Ai Lao nhà vua thân hành đi dẹp. Đến năm 1293 nhà vua truyền ngôi cho con trưởng để về Thiên Trường. Giống như tiền lệ, ông trở thành thái thượng hoàng. Thời gian nầy ông để tâm nghiên cứu phật điển với sự hướng dẫn của người bác họ: Tuệ Trung Thượng Sĩ Trần Tung. Ông rất say mê thiền học, nhưng vẫn để tâm đến hưng thịnh của đất nước. Ông cố tạo một giao hảo tốt với liên minh phương nam để chống lại bọn bành trướng phương bắc. Việc hứa gả Huyền Trân công chúa cho vua Chiêm Thành để nối kết hai đàng Chiêm Việt trong năm 1301 là một ví dụ. Lúc đó Huyền Trân mới 13 tuổi,  số phận của cô công chúa nầy sẽ về đâu? và tình Việt – Chiêm có khắng khít như mong đợi hay không? Tất cả phải đi qua thời đại vua Trần Anh Tông mới biết được.

 

Hốt Tất Liệt dửng dưng mà giận
Đã chinh nam sao lại về không
Hỏi đâu tướng sĩ đâu binh mã
Máu hãn Mông quyết dậy sóng hồng

Ngay lập tức truyền đi tái chiếm
Điểm binh quân mà diệt Nhân Tông
Nửa chừng lúc đó quân hoài Tống
Thức dậy trời nam loạn chập chồng

Hốt Tất Liệt thu hờn năm tháng
Mấy đông sau mới quyết điểm quân
Chinh nam quyết định thêm lần nữa
Người chết bao lâu mới được dừng

Nào Phàn Tiếp, Củng Thìn, Trương Hổ
Nào Lệ Cơ, Lỗ Xích, Mã Nhi
Thoát Hoan chủ soái chia ba ngả
Một biển hai sông hạ biên thùy

Từ Ngạc Châu, Thoát Hoan quân bộ
Qua Kỳ Cùng sông nối biên cương
Đi qua Sơn Động hồn linh cũ
Tiến thẳng nam phương mấy chặn đường

Đồn Phù Sơn, Hãm Sa, Tư Trúc
Trình Bằng Phi thắng trận liên miên
Quân Trần thế yếu đành bỏ ngỏ
Vạn Kiếp từ đây hóa mặt tiền

Trên mặt biển, Mã Nhi, Phàn Tiếp
Cánh hải quân ồ ạt cửa đông
Bên thềm Trúc Động ai cản giặc
Mà nước sông pha nước hóa hồng

Nước sông Giá xanh xao Kinh Thủy
Thuyền Mã Nhi lướt sóng mà lên
Xa xa mây thấp chiều Phả Lại
Lục sóng đầu giang nước bập bềnh

Thoát Hoan mừng gặp người tùy tướng
Tưởng quân lương sóng sánh cỡ nào
Ô hay, Trương Hổ đâu rồi nhỉ?
Lịnh không đồng, điểm chết Lục Thao

Vân Đồn ở đó ai canh giữ
Khánh Dư chặn đánh đốt thuyền lương
Thoát Hoan chờ mãi không tin tức
Hạ lịnh tìm Trương khắp nẻo đường

Trương Văn Hổ thuyền lương lâm nạn
Đâu đảo Vân đâu vịnh Hạ Long
Từng là tướng biển sao không thắng
Lương không còn tướng cũng tử vong

Thời đã điểm hai bên lâm trận
Giữa ngày đông nguyên đán nơi nao
Sóng xanh xô dập hồn trai trẻ
Nguyên Việt hai bên đẫm chiến bào

Hưng Đạo lần nầy không bỏ ngỏ
Cuộc diện bày như trước bàn tay
Thăng Long thế mạnh hơn lần trước
Đuổi giặc ra biên quyết trận này

Gia Đông sông Đuống về Vạn Kiếp
Kịp lúc Bạch Đằng cắm cọc sâu
Yết Kiêu, Dã Tượng cùng Nguyễn Khoái
Lặp lại sông xưa mấy dãi dầu

Quân Trần từng bước theo Hưng Đạo
Nhật Duật giữ thành Bạch Hạc xưa
Chưa từng đụng độ cùng Xích Lỗ
Phó tướng nhà Nguyên tướng chẳng vừa

Hai bên công tấn không khoan nhượng
Máu chảy đầy sông sông với sông
Sông Lô nước chảy về sông Nhị
Xa mấy là xa nước vẫn hồng

A Lí thọ thương đành thúc thủ
Chỉ còn Xích Lỗ giữa chơi vơi
Quân Trần Sát Thát, thề sát Thát
Hoảng sợ Nguyên Mông khóc giữa trời

Mặt nam yên tĩnh mặt tây yên
Đông bắc còn đây một gọng kiền
Hưng Đạo tung quân về Vạn Kiếp
Lục Đầu sóng dậy phủ giặc Nguyên

Trần Quang Khải chủ quân đường bộ
Tướng tùy tùng Thế Lộc, Khắc Chung
Đông Triều trăng khuyết không soi rõ
Cũng thấy nhân gian lắm bão bùng

Gươm vẫn bén nhưng hồn chợt mỏi
Vó ngựa xưa không cất được lòng
Quân Nguyên vỡ toán theo từng toán
Một đoạn sa trường mấy đoạn vong?

Vòng đông bắc chạy về phương bắc
Trình Bằng Phi, A Lí, Thoát Hoan
Trêu chi một ả Trần Ích Tắc
Chạy miết bên sông lặng gió ngàn

Huynh đệ gặp nhau lòng chợt buốt
Đứa em thơ khác mẹ ngày xưa
Thương em mà giận em làm giặc
Phải đành thôi, xuống kiếm mới vừa

Ân tình ngày cũ chưa phai lãng
Huyết thống còn đây giọt máu đào
Thu gươm mà lặng hồn non nước
Nội Bàng ai hỏi ánh trăng sao?

Chiêu Quốc chạy bươn về phía trước
Đường quê hương sao bỗng mịt mờ
Đông Triều một dãy hồn cố quốc
Soi mặt mà đi vỗ vết nhơ

Lục quân bị diệt già đi nửa
Quân thủy đường về cũng tả tơi
Mã Nhi gặp mặt Trần Hưng Đạo
Một Bạch Đằng giang để lại đời

Từ Vạn Kiếp, Kinh Môn sông rộng
Nước thênh thang nước chẻ làm đôi
đường qua Gia Đước, đường sông Giá
Hai ngả miên man cát lở bồi

Đâu sông Giá đâu rừng Sông Giá
Sông về đâu nước lại về đâu
Quanh co ai hỏi rừng Đá Bạch
Xanh thẳm đông tây lạnh một màu

Cũng một đường đi một lối ra
Loanh quanh rừng thấp bóng chiều tà
Làm sao ai biết đâu số phận
Đâu sinh đâu tử giữa mù sa

Giá mà biết được treo tử lộ
Mã Nhi có thắng được Việt binh
Thảo nguyên đại mạc hồn đồng cỏ
Tử sĩ xưa nay có hận mình?

Phàn Tiếp, Mã Nhi cùng họ Tích
Quên hẳn đường xưa chẳng trở về
Thênh thang con nước đôi lần hẹp
Cứ ngỡ qua rồi bước sơn khê

Không ngờ trước mặt Tràng Kênh thấp
Núi đứng lưng chừng gọi Yên Giang
Gềnh Cốc hong khô bờ sông Rút
Nước sông Chanh lả ngọn sóng ngàn

Giờ đã điểm Yên Giang sóng nước
Gọi sông Kênh, Gia Đước, Thủy Nguyên
Tiếng hô vang dậy mưa tên bắn
Rừng lá hai bên thế gọng kiền

Trên sóng thấp thuyền Nguyên cờ xí
Hồn Nguyên Mông bất bại còn đây
Tháo cung mà bắn thù quân Việt
Hồ dễ mà thua ở trận nầy

Giựt mình thấy nước đà pha máu
Máu ai rơi mà sóng rõ hồng
Ba trăm năm trước quân Nam Hán
Chết đoạn sông nầy có phải không?

Mã Nhi truyền lịnh mau mau rút
Rất tiếc như hồ đã muộn đi
Cọc gỗ đang phơi lòng tận tụy
Kịp nước Đằng Giang cạn đúng thì

Trần Hưng Đạo nhìn trong lòng địch
Dễ quân Nguyên nhụt chí mà buông
Chút kiêu hãnh còn chìu hạo khí
Bước cầu sinh sẽ thí máu cuồng

Thuyền chưa vỡ chưa về tan tác
Mấy lung lay mấy giữ tâm can
Nửa theo tướng lệnh tràn lên đất
Nửa thả thuyền trôi trước gió ngàn

Xế tà bóng nước lay kiếm ảnh
Thủy bộ hai đàng Việt Nguyên tranh
Thời cơ địa thế đà phụ rẩy
Quân tướng xâm lăng mạng treo mành

Người chết bên sông không thể đếm
Cọc gỗ nghiêng mình chứng can qua
Một người chạy được về bắc xứ
Trăm kẻ chinh nam chết xa nhà

Mã Nhi thúc thủ trên thuyền lớn
Tich Lệ qui hàng dưới bến sông
Nước kia ai trút trôi về biển
Mà để Đằng Giang biến máu hồng

Thủy tướng nhà Nguyên khóc hận mình
Tưởng rằng thỏa chí mộng bình sinh
Đã từng vùng vẫy Đông Âu Á
Sao lại sa lầy giữa Việt binh

Trần Hưng Đạo thu quân điểm tướng
Vua Nhân Tông mừng khúc khải hoàn
Tăng hàm phẩm trật bao quân tướng
Thượng hoàng đốt bỏ tráp Việt gian

Bại binh được trả về phương bắc
Đổi lại hòa bình với Mông Nguyên
Tiếc thay số phận người tướng giặc
Ngậm sóng mà đi bước cửu tuyền

Vua nhà Nguyên ba lần thất bại
Mộng chinh nam dẹp bỏ từ đây
Vua Trần vốn tự yêu phật điển
Gác bỏ ngôi cao khúc bước nầy


<<  |  >>