Skip to content

Chương 15/3

NHÀ TRẦN
(1225 – 1400)

Đoạn ba

TRẦN NHÂN TÔNG:
CHIẾN TRANH  VIỆT – NGUYÊN LẦN THỨ HAI 1285

 

 

      Khi quân Nguyên diệt xong nhà Nam Tống năm 1279, thì mộng bành trướng lãnh thổ vẫn hừng hực như một đám cháy rừng mùa khô. Với Cao Ly, đương thời đã trở thành phiên thuộc và đương chịu sức ép của Hốt Tất Liệt. Với Nhật Bản, quân Nguyên đã một lần tấn công năm 1274 và thất bại, nhưng chúng chưa hề từ bỏ ý đồ xâm lăng. Óc phiêu lưu biển khơi vẫn nóng bỏng trên đạo quân đồng cỏ nầy. Tuy nhiên, người láng giềng Đại Việt thuận tiện hơn Nhật Bản. Quân Mông cổ đương lăm le. Đó là thời kỳ vua Trần Nhân Tông.

      Vua Trần Nhân Tông tức thái tử Trần Khâm, con trưởng của vua Trần Thánh Tông và hoàng hậu Thiên Cảm. Ông lên ngôi năn 1278 lúc vừa hai mươi tuổi. Bấy giờ thượng phụ Trần Thủ độ đã chết và vua cha Thánh Tông đã là thái thượng hoàng. Tuy nhiên, nhà vua có hai đại thần mưu lược và dũng cảm. Đó là Chiêu Minh vương Trần Quang Khải và Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật. Cả hai đều là chú ruột của nhà vua. Bên cạnh đó còn có Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư, con nuôi của thượng hoàng Thánh Tông, một tài năng văn võ. Trần Bình Trọng cũng là một võ tướng tài ba. Ông là người họ Lê, không rõ chuyển qua họ Trần lúc nào, nhưng là chồng sau của Thụy Bảo công chúa, con gái của vua Trần Thái Tông. Một tài năng nữa cũng phục vụ đắc lực trong thời vua Trần Nhân Tông, dó là Phạm Ngũ Lão. Vị này được Hưng Đạo vương tiến cử. Riêng Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn thì về thực ấp ở Kiếp Bạc, nhưng biến cố trọng đại nào của đất nước đều có sự tham dự tích cực của ông. Ông là bác họ, là nhạc phụ của nhà vua. Quận chúa Trần Thị Trinh, con gái của ông đã được phong làm hoàng hậu Bảo Thánh năm 1279. Ngoài ra, các người con trai của Hưng Đạo vương cũng là tướng lãnh của triều đình. Họ là Trần Quốc Nghiễn, Trần Quốc Hiện, Trần Quốc Tảng, Trần Quốc Uất, và đều là anh của Bảo Thánh hoàng hậu. Đây là thời kỳ vua tôi nhà Trần đồng lòng nhất, họ sẵn sàng chiến đấu cho tổ quốc khi người láng giềng mới đang tỏ ra hung hãn.

      Năm 1280, hoàng đế nhà Nguyên tức Hốt Tất Liệt sai lễ bộ thượng thư Sài Thung sang sứ Đại Việt. Sài Thung vô cùng kiêu ngạo. Không những hắn đòi đi ngựa vào cổng Dương Minh mà còn không trình kiến nhà vua như là một lễ nghi tối thiểu của một sứ giả. Cả đình thần Đại Việt rất tức giận nhưng được lịnh hãy nhường nhịn người sứ giả nầy. Khi nghỉ ngơi ở sứ quán, Sài Thung cho người đưa thư của Hốt Tất Liệt đến vua Trần Nhân Tông. Theo đó thì vua nhà Trần phải gấp rút sang chầu hoàng đế nhà Nguyên vì tự ý xưng vương mà không xin phép. Vua Trần Nhân Tông hội ý với thượng hoàng, với nhạc trượng Trần Hưng Đạo và thượng tướng Trần Quang Khải. Kết quả là phải nhịn nhục thêm một bước nữa, tránh xung đột lúc nầy. Thượng tướng Trần Quang Khải thân hành vào sứ quán để gặp Sài Thung nhưng hắn không tiếp. Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn phải giả làm một nhà sư, Sài Thung mới chịu tiếp. Điều nầy có được vì Hốt Tất Liệt rất sùng đạo Phật nên các vị sư đều được coi trọng. Sau khi trao đổi ngoại giao, Hưng Đạo vương cho Sài Thung biết là vua của Đại Việt vì sinh trưởng trong cung nam, không quen phong thổ xứ bắc nên chưa đi được. Sự trì hoãn nầy, Sài Thung không bằng lòng nhưng cũng trở về để trình lại vua Nguyên.

      Đến hơn một năm sau, năm 1282, Hốt Tất Lìệt vẫn không thấy vua nước Đại Việt sang chầu, vị hoàng đế nầy cử sứ đi một lần nữa. Lần nầy buộc cống nạp vàng ngọc, hiền sĩ, thợ khéo, mỗi loại hai người. Người ông chú của nhà vua là Trần Di Ái, và Lê Tuân, Lê Mục được chọn. Ba người họ ra đi mang theo nỗi buồn của kẻ bị cống nạp chứ không phải lòng hãnh diện của một sứ giả. Điều nầy chạm vào lòng tự ái của hoàng thúc thúc Trần Di Ái. Vua nhà Nguyên lợi dụng lòng tự ái nầy để khai thác. Hốt Tất Liệt lập Trần Di Ái làm An Nam quốc vương, Lê Mục làm hàn lâm học sĩ, Lê Tuân làm thượng thư lệnh. Một chính phủ mới được thành lập và trên đường về nước. Ngoài ba vị nầy và các quân sĩ Việt tùy tùng, các tân quan cai trị châu phủ người  Mông Cổ cũng đi theo. Tất cả cái nhà nước ngoại lập nầy được hộ tống bởi một ngàn binh sĩ Tống – Mông do Sài Thung chỉ huy. Nó là một thăm dò thách đố. Vua Trần Nhân Tông ra lịnh chận đứng “triều đình” nầy ở biên giới bắc. Cuộc chiến xảy ra chóng vánh. Một ngàn quân binh hỗn hợp Tống – Mông tan rã và Sài Thung bị thương phải chạy về. Trần Di Ái, Lê Mục và Lê Tuân đều bị bắt. Đó là cuối năm 1282.

      Tình hình trở nên căng thẳng hơn, nhưng Hốt Tất Liệt vẫn im lặng vì mặt trận biển đông xâm chiếm Nhật Bản đương diễn ra. Trong khi chiến tranh cứ chập chờn, vua Trần Nhân Tông cho triệu tập hàng vương tôn trọng yếu về Bình Than để bàn phương thức đối địch. Ở hội nghị này Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn được cử làm quốc công tiết chế chống Nguyên. Ông chuẩn bị mọi sách lược trong đó gấp rút tăng cường nhiều đơn vị hải quân và bộ binh. Một đạo quân của người trai trẻ Trần Quốc Toản cũng được thành lập sau hội nghị nầy với huyền thọai về trái cam bị bóp nát. Cuối năm 1283 thủy quân Nguyên Mông thất bại ở Nhật Bản vì thời tiết và địa hình, Hốt Tất Liệt chuyển hướng tiến công. Ông ta bổ sung quân số tấn công Chiêm Thành để làm nút chận phía nam của Đại Việt. Dĩ nhiên là quân Chiêm Thành thua dù có sự yểm trợ của quân nhà Trần. Lúc nầy mọi hòa hoãn đã không còn, thượng hoàng Trần Thánh Tông cho triệu tập các bô lão khắp nơi về điện Diên Hồng. Nó khác với hội nghị Bình Than lo bàn về sách lược. Ở đây không còn là sách lược nữa mà chỉ có sự đồng thuận hay không: hàng hay đánh. Mọi cánh tay đều giơ lên; Quyết chiến. Sau hội nghị người ta thấy, hai chữ “Sát Thát” trên cánh tay nhiều người trai trẻ. Nó dấy lên một tinh thần đoàn kết giữ nước.

      Khi nút chận Chiêm Thành vững chắc, Hốt Tất Liệt quyết định tấn công Đại Việt. Tháng giêng năm 1285 vua nhà Nguyên phong con trai thứ chín của mình là Thoát Hoan (Toghan) làm Trấn Nam vương tổng chỉ huy quân đội nam chinh. Dưới quyền vị nguyên soái nầy có các tướng  A Lý Hải Nha (Ariq Qaya), Lý Hằng và Ô Mã Nhi. Họ đều những danh tướng chiến thắng ở mặt trận Lưỡng Hà Tây Á và thành Tương Dương. Không kể cánh quân của Toa Đô từ Chiêm Thành sẽ tiến lên, bốn vị tướng lãnh nầy dẫn năm vạn binh từ biên giới tiến về Thăng Long theo hai cánh. Cánh thứ nhất do A Lý Hải Nha mang 20 ngàn quân đi từ Vân Nam dọc theo hữu ngạn sông Lô về Bạch Hạc. Cánh thứ hai do Thoát Hoan chỉ huy đi từ Quảng Đông dọc theo chân dãy Đông Triều xuống Vạn Kiếp. Dưới trướng vị nguyên soái nầy là hai tướng Lý Hằng và Ô Mã Nhi chia nhau 30 ngàn quân so le nhau tiến tới.

      Để đối đầu với cuộc xâm lăng hung hãn nầy, quốc công tiết chế Hưng Đạo vương chia ra làm bốn vùng chiến đấu. Thứ nhất, vùng tây bắc, từ biên giới về Sơn Dương, Bạch Hạc được tăng cường lên tới hai mươi ngàn quân dưới sự chỉ huy của Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật. Thuộc tướng của ông có tướng quân Trần Bình Trọng và tộc trưởng người Tày Nguyễn Thế Lộc. Dù quân nhà Trần ra sức chiến đấu, nhưng mặt trận nầy diễn tiến càng lúc càng xấu. Trước sức tấn công ồ ạt của quân Nguyên, đến ngày thứ hai Chiêu Văn vương phải rút tuyến phòng ngự về Cổ Phúc – Thu Vật. Chiến trường đẫm máu trên bờ ngã ba sông Chảy và sông Lô. Tướng quân Trần Bình Trọng đã dũng mãnh đẩy lui được quân của A Lý Hải Nha, nhưng cuối cùng không chống nổi đạo quân tinh nhuệ nầy. Thành Thu Vật cầm cự đến ngày thứ bảy thì thất thủ. Chiêu Văn vương một lần nữa lại thu quân về nam. Lần nầy thành Bạch Hạc ở cuối nguồn sông Lô trở thành tuyến đầu của mặt trận tây bắc.

      Vùng thứ hai, mặt đông bắc do tiết chế Hưng Đạo vương chỉ huy. Hai mươi ngàn quân được trải dọc từ Tiên Du, Vạn Kiếp, Phả Lại, Chí Linh, Phượng Sơn tới biên giới. Trần Quốc Nghiễn, Yết Kiêu, Dã Tượng, Trần Quốc Tảng, Phạm Ngũ Lão, đều ở mặt trận nầy. Dưới sự chỉ huy tài ba của Hưng Đạo vương quân Trần chiến đấu không hề yếu, nhưng cũng giống như mặt trận tây bắc họ phải rút lui. Quân Thoát Hoan với sức tấn công thần tốc đã buộc Trần Quốc Nghiễn bỏ căn cứ Bình Xá ngày thứ nhất, Phạm Ngũ Lão bỏ Sơn Động ngày thứ ba, Trần Quốc Tảng bỏ Chí Linh ngày thứ bảy. Tất cả các cánh quân dọc theo chân Đông Triều nầy đều được lịnh rút về Vạn Kiếp.

      Trong khi đó, vùng thứ ba, hoàng thành Thăng Long đang ra sức phòng thủ. Vua Nhân Tông, hoàng thượng Thánh Tông không phải là những ông vua chỉ biết cần được bảo vệ. Họ đã là những tướng quân nên kinh đô vẫn còn yên tĩnh. Bên cạnh nhà vua có hoàng thúc Trần Ích Tắc, nhân huệ vương Trần Khánh Dư, đạo quân cẩm vệ và đạo quân tự nguyện của Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản.

      Vùng thứ tư, mặt nam và đông nam, thượng tướng Trần Quang Khải đang trải quân từ Thiên Trường đến Thanh Hoa. Đi theo ông có Nguyễn Khoái và Trần Kiện, Lê Tắc sẵn sàng chặn đạo quân Toa Đô từ hướng Chiêm Thành. Đến ngày thứ 10, mặt nam vẫn không có chỉ dấu của quân Toa Đô xuất hiện nhưng vòng đai phòng thủ phía bắc dần thu nhỏ lại đến độ không an toàn.

      Bạch Hạc thất thủ, Tiên Du lung lay, Vạn Kiếp rút khẩn cấp. Tiết chế Trần Hưng Đạo cho lịnh lập một phòng tuyến nhỏ hơn nữa. Đông Anh, Từ Sơn, Gia Lâm, Văn Giang trở thành những cứ điểm nối liền mà có nhiều đoạn chỉ cách bờ Nhị Hà chừng vài dặm. Tình hình vô cùng nguy ngập. Giặc bắc phương rầm rộ tiến tới bờ bắc thủ đô. Chúng cất lều trại và đốt đèn đuốc sáng choang vào ban đêm như một sự thách thức khinh thị.

      Lúc nầy vua Trần Nhân Tông khẩn cấp họp tướng sĩ. Quyết định sống còn được đưa ra là bỏ Thăng Long. Thiên Trường được chọn làm cứ điểm tái cấu trúc để phản công. Tuy nhiên, để thực hiện điều này phải cầu hòa với quân Nguyên mới rút lui được. Sợ rằng xin hòa khó thành công, nhà vua quyết định hai việc phải cần đến hai người chưa hề được nhắc đến. Thứ nhất, trưởng công chúa An Tư: Bà phải được gả cho Thoát Hoan. Bà nguyên là em út của thái thượng hoàng Thánh Tông, chưa đầy hai mươi tuổi và đã được hứa hôn với một vị hoàng tử tên Chiêu Thành. Không ai biết số phận của bà sẽ ra sao, nhưng lúc ấy Thoát Hoan bằng lòng với sứ giả Trần Dương để chấp nhận cầu hòa. Thứ hai, Đỗ Khắc Chung sang trại quân Ô Mã Nhi làm thuyết khách. Vị tướng Nguyên nầy rất hung hãn, từ Tây Á sang giúp đại hãn Hốt Tất Liệt nên được Thoát Hoan nể vì. Đỗ khắc Chung ra đi không mấy hy vọng trở về, nhưng ông đã thành công và an toàn. Ông vốn là chi hậu cục thủ trong hàng phục vụ nội cung, một chức quan rất nhỏ. Không ngờ trong con người ấy giấu kín một tài năng ngoại giao và lòng can đảm. Nhờ tài đối đáp khôn khéo của ông, mà Ô Mã Nhi không ngăn cản ý định chịu hòa của chủ tướng Thoát Hoan.

      Cuộc ngưng chiến đang có mặt. Nó chỉ là thời gian bản lề mong manh giữa chiến và hòa. Thoát Hoan tấn công Thăng Long là điều tất yếu. Công chúa An Tư chỉ là chuyện chơi. Nguyên triều hoàng tử Thoát Hoan đương củng cố lực lượng sau các đợt thiệt hại không phải nhỏ. Dĩ nhiên nhà Trần cũng thế. Họ đang cấu trúc lại tất cả. Tiết chế Trần Hưng Đạo cho hộ giá thượng hoàng và nhà vua về Thiên Trường.

      Trong một đêm gần sáng của tháng hai năm 1285, thuyền nhà vua xuôi dòng Nhị Hà về đông. Đi theo nhà vua có Trần Khánh Dư, Phạm Ngũ Lão và Trần Bình Trọng. Khi đoàn thuyền qua khỏi Thăng Long, Văn Giang, Khoái Châu thì bị phục kích bên bờ Đà Mạc. Sương còn lạnh, trời chưa rõ mặt người mà đã có biến. Thuyền quân Nguyên đã xô ngang ra ở hạ nguồn. Cuộc chiến lập tức xảy ra dù thời gian ngưng chiến vẫn còn. Thượng hoàng Thánh Tông ra lịnh nhanh chóng xáp công. Ông cố làm vô hiệu những tay xạ tiễn Mông Cổ. Nhưng, quân phục kích càng lúc càng đông. Đoàn tòng vong lại rơi vào một tình huống khó khăn khác. Lý Hằng cho quân phục kích trong bờ tràn ra cắt khúc, và bao vây từng thuyền quân Đại Việt. Bây giờ mới thấy quân Nguyên đông hơn gấp nhiều lần. Họ nhanh chóng tách quân Đại Việt thành nhiều mảnh.

      Thuyền của Trần Bình Trọng ra sức bảo vệ thuyền của thượng hoàng và nhà vua. Với sức bình sinh của một võ tướng từng chiến đấu ngang ngửa với A Lý Hải Nha ở mặt trận tây bắc, Trần Bình Trọng không hề nhụt chí. Người tướng lãnh 26 tuổi nầy tả xung hữu đột đã đánh bật được vòng vây. Ông ra hiệu cho Phạm Ngũ Lão và Trần Khánh Dư hộ giá hai vị quân chủ xuôi dòng. Cánh quân của ông ở lại chặn đường tiến quân của địch. Khi trời đã sáng, thuyền vua đã đi xa, trên dòng Thiên Mạc chỉ còn Trần Bình Trọng và những binh sĩ chịu áp lực tứ bề. Khúc sông nầy đỏ máu tươi. Cuối cùng quân Đại Việt chỉ còn lại một chiến thuyền duy nhất. Trần Bình Trọng bìết rằng ở đâu đó cũng có nhiều trận đánh như thế nên không chờ đợi một sự tiếp viện. Ông ra sức bình sinh để đưa thuyền vào bờ phía nam, nhưng điều đó không thực hiện được. Một mũi tên từ xa đã ghim vào cánh tay, ông và binh sĩ đều bị bắt. Thoát Hoan biết tài ông qua những thuộc tướng. Vị hoàng tử nhà Nguyên chiêu dụ vị tướng quân họ Trần, nhưng Trần Bình Trọng đã chọn cái chết. Câu nói “Thà làm qủy nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc” là câu nói sau cùng của vị anh hùng nầy ở bến Thiên Mạc.

      Khi vua và thượng hoàng về đến Tức Mặc, nơi cố quận xa xưa của họ Trần, thì tình hình vẫn như mành treo chuông. Quân Thoát Hoan đã hoàn toàn làm chủ Thăng Long. Bọn Phạm Cự Định, Lê Diễn tướng quân ở cửa bắc đã đầu hàng địch. Và, một điều đau lòng hơn nữa là Chiêu Quân vương Trần Ích Tắc không mang quân triệt thoái như người hoàng điệt mong đợi. Ông ta đem gia quyến và binh tướng thân tín ra hàng triều Nguyên.

      Trong lúc đó, hai vạn quân thủy và bộ của Toa Đô đã tiến tới Thanh Hoa. Chúng rầm rộ vượt sông Mã và nhanh chóng ép quân Đại Việt ra biển để tiêu diệt. Đinh Xa, Trần Tất Thống là hai tướng quân địa phương đã hy sinh. Chương Hiến hầu Trần Kiện và bộ tướng Lê Tắc dưới quyền thống lãnh của thượng tướng Trần Quang Khải đã đầu hàng. Với sức tiến công ấy, người ta nghĩ Thanh Hoa và Thăng Long sẽ  bóp dẹp Thiên Trường. Nó giống hình ảnh một con kiến ở giữa  ngón tay trỏ và ngón tay cái.

      Trước tình thế lưỡng đầu thọ địch, quân tướng đã có người chết và người quay lưng, vua Trần Nhân Tông vô cùng mệt mỏi. Tinh thần ông xuống rất thấp. Trong một đêm trăng, nhà vua bơi thuyền đến gặp tiết chế Trần Hưng Đạo bên bờ hồ Hải Đông. Kế sách được bàn rất nhiều, trong đó không loại trừ việc nhà vua chịu đầu hàng để tránh chiến tranh. Tướng Trần Hưng Đạo trọng vua Trần Nhân Tông là người đức độ nhân tài, ông nguyện đem tận sức ra giúp nước. Câu nói “Xin bệ hạ hãy chém đầu tôi rồi hãy hàng” trên con thuyền nhỏ trong đêm trăng vằng vặc hôm ấy làm nhà vua lấy lại tinh thần. Nó là một cương quyết tuyệt đối, một bờ tường vững chắc. Vua tôi cùng phân tích tình hình mà long lanh đâu đó cái tình của người bác họ, của người cha vợ.

      Theo phân tích của tiết chế Hưng Đạo vương,  Đại Việt có lợi thế rất nhiều. Mặt trận Tây Bắc, Đông Bắc và Thăng Long quân Trần không liều chết thí quân trong lúc địch còn hùng hổ. Ngoại trừ trận Thiên Mạc của Trần Bình Trọng và trận sông Mã của Đinh Xa, quân Đại Việt không thiệt hại nặng. Trong lúc đó, quân Thoát Hoan phải trải dài những vùng chiếm đóng rộng lớn khi quân số đã chết một phần. Thủy thổ không đồng, khí hậu không đồng là một bất lợi không nhỏ. Cái bất lợi kế tiếp rất quan trọng là lương thực. Lối đánh tốc thắng thường đi đôi với hạn chế quân lương mang theo. Quân Nguyên đã không tránh khỏi điều đó. Chúng ỷ vào sự thu gom và cướp bóc ở vùng bị chiếm, nhưng chúng thất bại. Khi rút khỏi Thăng Long, dân chúng đã được lịnh phá hủy tất cả nguồn lương thực. Nó đang là nỗi chết đè lên đoàn quân còn lại hơn bốn vạn người của Thoát Hoan. Nhìn chung tình hình Đại Việt không hề bất lợi. Điều phải làm bây giờ là tránh đụng độ lực lượng mạnh của địch ở Thăng Long mà chỉ lấy du kích phá rối ở ven đô để cầm chân. Đồng lúc, lấy đại quân của ta tiêu diệt các lực lượng yếu của địch. Một điều quan trọng nữa là không cần thiết phải bảo vệ Thiên Trường để vùng đất tổ nầy khỏi trở thành một gánh nặng. Riêng nhà vua và thượng hoàng nên được hộ giá về phương nam.

      Vua Nhân Tông vô cùng phấn chấn với sự phân tích của Hưng Đạo vương. Một ngày sau, lịnh phản công được ban ra. Ba mươi ngàn quân của thượng tướng Trần Quang Khải lên đường. Họ dùng thuyền xuôi đến cuối nguồn sông Đáy qua Thần Phù về Thanh Hoa.

      Trong lần xuất chinh nam phương nầy vua Nhân Tông và thượng hoàng Thánh Tông được hộ giá đi theo. Bìển trời Nga Sơn đón đoàn quân chống xâm lăng vào một sớm tinh mơ. Hai tướng tiên phong Khánh Dư và Quốc Tảng lập tức tiến quân về bờ sông Mã. Quân Toa Đô còn say máu chiến thắng nên đến ngày thứ hai, hai bên vẫn cầm chân ở dọc bờ tả ngạn. Cuộc chiến diễn ra ở nhiều nơi. Trà Giang, Bút Sơn, Hậu Lộc đã qua từng giờ tanh máu. Nhưng đến ngày thứ ba tình hình đổi khác. Thượng hoàng và nhà vua thân chinh ra chiến trường. Với khí thế và quân số áp đảo, quân Trần đã dần dần thắng thế. Quân Nguyên chết theo tỷ lệ thuận với thời gian. Đến ngày thứ bảy không còn là giao tranh mà là truy diệt.

      Hai mươi ngàn quân Nguyên chỉ còn lại chưa tới số ngàn và tan ra làm hai. Toa Đô vượt thoát với đám thủy quân ngoài biển. Chúng chạy đến cửa Ba Lạt thì hay tin Ô Mã Nhi đang trấn đóng ở Hàm Tử. Tất cả ngược sông Hồng tập trung về căn cứ nầy chờ lệnh nguyên soái Thoát Hoan ở Thăng Long. Quân bộ binh còn lại chạy ngược dòng sông Đáy với hy vọng gặp được một đạo quân Nguyên triều tiếp cứu. Điều đó không xảy ra, trận chiến ở phủ Trường Yên hầu như hoàn toàn kết liễu đám tàn quân chạy bộ nầy.

      Trong lúc mặt nam đang chiến thắng, ở mặt bắc chưa có một đụng độ nào. Khi trời đã sang mùa hạ, Hưng Đạo vương và Chiêu Văn vương mới tập hợp được ba vạn quân kéo về Vạn Kiếp. Tại đây xóm làng, miếu mộ, bến sông và con người còn nguyên nét điêu tàn. Hưng Đạo vương lập bộ chỉ huy tiền phương và kêu gọi lòng quyết tâm chống giặc. Muôn ngàn cánh tay giơ lên thề sát Thát. Hạo khí Đông A giữa trời Vạn Kiếp như đốt nóng được lớp phù sa bên cuối nguồn sông Đuống. Lúc nầy vị tiết chế họ Trần đã nhận tin toàn thắng từ mặt trận phía nam. Thượng tướng Trần Quang Khải đã đưa thượng hoàng và vua Trần Nhân Tông về lại Thiên Trường. Vị thượng tướng nầy đương chờ đợi bước kế tiếp từ tiết chế Trần Hưng Đạo. Kế hoạch được bàn tới là cắt đứt vây cánh Thoát Hoan: Tấn công Chương Dương và Hàm Tử. Đây là hai căn cứ quan trọng của giặc ở phía đông kinh thành. Hải A Nha Lý với 5 ngàn quân Nguyên đồn trú ở Chương Dương, hữu ngạn sông Hồng. Ô Mã Nhi canh phòng Hàm Tử ở bên kia sông với lượng quân tương tự. Hàm Tử và Chương Dương gần như đối diện nhau trên mặt nước bình yên của những ngày hè.

      Để được chu đáo, Hưng Đạo vương ra lịnh Trần Quốc Uất, Trần Quốc Hiện, Nguyễn Khả Lập dẫn quân ngược dòng sông Đuống về phá rối ở mặt bắc Thăng Long. Họ sẽ không trực diện, chỉ đánh những đơn vỉ lẻ tẻ ngoại thành rồi rút lui. Nguyễn Khoái và Trần Quốc Toản cầm chừng Tây Kết, một đồn phòng thủ của quân Nguyên gần Hàm Tử. Hai mươi ngàn quân do thượng tướng Trần Quang Khải chỉ huy từ Thiên Trường tiến về Chương Dương. Với số quân tương tự, Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật mang quân từ Vạn Kiếp trực chỉ Hàm Tử. đó là một ngày đầu tháng 6 năm 1285.

      Bộ tổng chỉ huy địch ở Thăng Long hay tin, nhưng không cứu được Hàm Tử và Chương Dương. Từ Thăng Long quân Nguyên mang quân đi, nhưng không đến được. Đích thân Hưng Đạo vương chận đánh đoàn quân tiếp viện nầy. Chương Dương và Hàm Tử hai bên bờ sông đều ngút ngàn khói lửa. Lều trại du mục của người Mông Cổ là những thứ dễ bắt mồi cho quân tấn công. Với tỷ lệ ba lần đông hơn, chỉ trong một canh giờ quân Đại Việt đã tràn vào bộ chỉ huy của hai căn cứ nầy. Xạ tiễn Mông Cổ không dùng được. Gươm đã kề sát hông trước khi giương cung. Ngựa và tàu thuyền chỉ xử dụng để chạy. Quân Nguyên chết la liệt giữa cảnh hỗn loạn, nhưng A Lý Hải Nha và Ô Mã Nhi chạy thoát. Một bằng ngựa, một bằng thuyền. Không may cho Toa Đô, ông nầy vừa đến tị nạn nên không rành đường, lại chạy về Tây Kết. Thủ hạ đi theo rất trung thành với vị chủ tướng vừa thất trận ở Thanh Hoa, nhưng không bảo vệ được ông ta. Một cánh quân của Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật bám sát. Toa Đô bị kẹt giữa hai lộ quân nhà Trần. Cuối cùng ông ta đã tử thương dưới cánh quân của Nguyễn Khoái ở đó. Sau hai trận Hàm Tử và Chương Dương, quân Nguyên chỉ còn ba vạn quân. Chúng tập trung về Thăng Long và trở thành cố thủ. Đây là một điều mới lạ đối với Thoát Hoan kể từ ngày theo cha từ đại mạc xuống tới phương nam. Ông ta quyết tái phối trí lực lượng để tấn công. Vị hoàng tử nầy quyết dành thế chủ động, nhưng đã không còn cơ hội.

       Đêm 6 tháng 6 năm 1285 tiết chế Trần Hưng Đạo quyết định tấn công Thăng Long. Bản thân ông: mặt nam. Thượng tướng Trần Quang Khải: mặt đông. Phạm Ngũ Lão, Trần Khánh Dư: mặt bắc. Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật, Trần Tung, Trần Quốc Nghiễn, Trần Quốc Tảng phục kích dọc theo hành lang Thụy Khuê – Yên Phụ. Dù Thoát Hoan thường xuyên canh phòng, nhưng ba mặt giáp công đều bị quân số áp đảo nên quân Nguyên sớm rối loạn. Khả năng kỵ binh và máy bắn đá của họ bị giới hạn tối đa vì nhiều tường vách và đêm tối.  Chỉ trong canh giờ đầu, cửa thành đông bị vỡ. Quân của thượng tướng Trần Quang Khải tiến vào điện Cần Chánh. Mặt bắc, Phạm Ngũ Lão, vị tướng đan giỏ ngày xưa gặp Lý Hằng, người phá thành Tương Dương. Cuộc chiến hai bên ngang ngửa, nhưng không bao lâu Lý Hằng được tiếp viện. Đại quân của Thoát Hoan từ nội thành kéo đến. Khúc sông Nhị Hà vắt qua đây rất rộng là một trở ngại lớn nếu quân Nguyên rút lui, nhưng Thoát Hoan đã chọn lối nầy. Do đó, cánh quân của Chiêu Văn vương nằm bên hồ Tây yên ổn, mà Ngũ Lão và Khánh Dư chịu một áp lực nặng nề. Khi cả Trần Khánh Dư và Phạm Ngũ Lão đều bị thương, Thoát Hoan truyền lịnh cướp thuyền. Lúc nầy tiết chế Trần Hưng Đạo từ mặt nam tiến tới nội cung và bắt tay được với cánh đông, nhưng đã muộn. Họ biết đại quân của Thoát Hoan đang tiếp viện cho Lý Hằng. Hai tướng Nguyên Mông nầy đã đánh liều mạng để vượt qua sông trước khi mọi thứ trở thành quá trễ. Điều thúc bách nầy giúp họ thoát khỏi Thăng Long.

    Đó là rạng sáng ngày 7 tháng 6 năm 1285, thủ đô được giải phóng. Hai vị quân vương và hậu cung từ Thiên Trường hồi loan vào ngày hôm sau. Lúc nầy Bảo Thánh hoàng hậu không thấy cha của mình, mới được biết tiết chế Trần Hưng Đạo đã rời thủ đô từ sáng sớm hôm qua. Có lẽ ông cảm thấy mình tính toán sai lầm sau khi Thoát Hoan vượt thoát. Ông đã dự liệu cho cuộc chống trả nhiều ngày của Thoát Hoan ở nội thành, nên có những bố trí không chuẩn xác . Ông tự thân dẫn 5 ngàn quân đi truy diệt. Phụ giúp ông có người anh ruột Trần Tung và Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản. Ở Tiên Du, Từ Sơn gặp rất nhiều bại binh nhà Nguyên đương lẫn trốn. Hầu hết đều qui hàng và được đưa về Thăng Long.

      Từng đoàn người ngựa tiếp tục truy lùng về hướng bắc. Có nhiều chạm trán nhỏ xảy ra, và ở bến đò Như Nguyệt có một trận chiến lớn. Lịch sử được lặp lại. Lần nầy với sự cầu sinh của kẻ chạy trốn, quân Nguyên đã tận sức chiến đấu. Thoát Hoan và Lý Hằng với gần 5 ngàn quân lính nhiều lần đẩy lui được quân Trần để thoát vòng vây. Bên cạnh tài xạ thủ trên lưng ngựa, lối xử dụng gươm đao của quân Nguyên cũng không tồi. Tuy không băng qua sông Như Nguyệt được, nhưng họ cũng ghi được một thắng lợi trên đường rút quân. Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản đã tử thương dưới đường gươm của Lý Hằng. Cái chết của vị tướng trẻ họ Trần đã đổi lại quân Nguyên đã để lại rất nhiều nhân mạng trên đường chạy về Phả Lại. Tại đây Lý Hằng cướp thuyền ngư dân đưa chủ tướng Thoát Hoan tháo chạy. Họ Lý đã bị thương trong lúc tận tụy nầy. Sau đó người ta đã tìm thấy xác của ông ta bên bờ sông Lục Nam, trước khi hay tin Thoát Hoan chạy được về biên giới.

    Bên cạnh đường rút lui của Thoát Hoan và Lý Hằng, mặt tây bắc có cuộc tháo chạy đông hơn. Phó tướng A Lý Hải Nha dẫn quân về con đường cũ. Dọc đường vẫn gặp sự truy kích nhưng không đáng kể. Trừ số hàng binh, quân Nguyên đã rút hết ra khỏi lãnh thổ Đại Việt. Cuộc kháng chiến chống xâm lăng Nguyên Mông lần thứ hai hoàn toàn chấm dứt. Đó là một ngày cuối tháng 6 năm 1285.

 

Thời kẻ địch lên từng hung hãn
Lúc Nhân Tông tức vị ngôi vương
Đường qua Âu Á ai giẫm nát
Mà phải sa cơ Việt chiến trường

Khởi đầu Nguyên Đế danh thiên tử
Ép Nhân Tông vâng lịnh sang chầu
Nước nhỏ đau lòng cơn quốc sỉ
Nhà vua thức trắng những canh thâu

Chìu sứ giả nỗi đau Quang Khải
Vỏ tăng nhân lừa được Sài Thung
An Nam vương quốc trêu Di Ái
Nguyên Việt can qua lại vô cùng

Tình cứ chảy như vui bằng mặt
Mà trong tâm nam bắc đã thù
Nhân Tông chuẩn bị quân binh mã
Tất Liệt cường hùng định thiên thu

Bình Than vương hội đông khanh tướng
Vua Trần phân cử những về đâu
Quốc Tuấn soái quân từ dạo ấy
Khánh Dư thuyền củi đáo công hầu

Trái cam bóp nát người trai trẻ
Quốc Toản nhà ai gốc họ Trần
Giận chi tuổi nhỏ giam chí lớn
Cờ bay phất phới báo hoàng ân

Đôi năm yên lặng trên lửa lạnh
Chờ đợi bao giờ khởi chiến tranh
Tất Liệt thu quân từ đông hải
Nam chinh quyết định đoạt Nam thành

Mùa đông trời đất dành Mông Cổ
Thời tiết trời nam lạnh dịu hòa
Thiên thời đã chọn mùa thích hợp
Quân bắc lên đường dặm dặm xa

Thoát Hoan hoàng tử con thứ chín
Thống lãnh quân Nguyên tổng chiến trường
Hải Nha danh tướng trời Trung Á
Lý Hằng Tây Hạ trận Tương Dưong

Toa Đô dũng tuớng trên đồng cỏ
Ô Mã Nhi, Tây Á, tướng Nguyên
Bao ngàn quân bắc quân xâm lược
Thăng Long hồ thể mất chủ quyền

Ba đạo quân Nguyên từ ba hướng
Hải A Nha Lý hướng Vân Nam
Thoát Hoan chủ tướng đường xứ Lạng
Bắc tiến Toa Đô tự xứ Chàm

Thế giặc chảy tràn như vũ bão
Mũi gọng kèm hai mặt giáp công
Quân Nguyên vó ngựa giòng Bắc Á
Dân Việt mai đây xả máu hồng

Diên Hồng hội nghị người bô lão
Thánh Tông trưng ý của muôn dân
Thượng hoàng chờ đợi hàng hay đánh
Vầng trán mang mang hạo khí Trần

Trần Hưng Đạo ra tài tiết chế
Cùng Thoát Hoan đấu mặt chiến trường
Nhà Trần nhiều trận như tan vỡ
Thăng Long phải bỏ đến tang thương

Trần Nhật Duật thua thành Thu Vật
Cánh Vân Nam giặc tiến kinh đô
Bên kia xứ Lạng đồn Sơn Động
Nguyên quân giẫm nát đẫm chiến bào

Giặc thế mạnh tràn về Vạn Kiếp
Vàm thủy lưu qua những mấy sông
Ở đây máu đổ không hề ít
Nguyên, Việt hai bên xác chập chồng

Bỏ thành Vạn Kiếp giữ Thăng Long
Tướng sĩ Đông A vẫn một lòng
Một bước qua sông trao thân gái
Ai người gởi lại nỗi tình vong?

Giã nước non giã biệt một người
Sơn hà thôi đổ những máu tươi
Chiều hôm bến sóng đưa công chúa
Hiu hắt bên sông khóc tiếng cười

Chẻ đôi thân phận đưa cho giặc
Nửa nhớ người xưa nửa “lấy chồng”
Chiêu Thành hoàng tử là ai nhỉ
Có xót người yêu bên bến sông?

An Tư gánh nước bóng nhi hồng
Cầm quân soái giặc ở bên sông
Cuộc vui đáy nguyệt mời quân tướng
Mà nước Hồng giang khóc Lạc Hồng

Bến sông còn có người đi nữa
Phận nhỏ tài chi đến lạ lùng
Thế mà Tây Á kia danh tướng
Im lặng mà nghe Đỗ Khắc Chung

Thế giặc mạnh phải cùng như thế
Bỏ Thăng Long để giữ Thăng Long
Chiến trường di tản đêm thanh vắng
Sóng bạc Hồng giang nặng nặng lòng

Bên bờ Thiên Mạc đêm chưa sáng
Trận chiến nào đây cứu giá vua
Ai người chạy thoát ai lâm nạn
Cây cỏ muôn năm khóc gió lùa

Qủy nước Nam thà là như thế
Hơn thân vương đất bắc nhiều lần
Đã sa lưới giặc thì chỉ thác
Nói làm gì ba thứ phù vân

Trần Bình Trọng hồn thiêng Thiên Mạc
Bảo Nghĩa vương phong gọi ngàn sau
Sông Hồng chảy mãi về vô lượng
Có tiếc người đi bến bãi này?

Thế như thể chuông treo sợi tóc
Gánh ngàn cân vẫn cứ rối vò
Thăng Long bỏ ngỏ giao cho giặc
Vua đến Thiên Trường trăm mối lo

Tin rằng ở tại kinh thành loạn
Ích Tắc qui hàng bọn giặc Nguyên
Mang theo thuộc tướng cùng gia quyến
Không nhớ Bình Than sắt dạ nguyền

Tin bờ sông Mã bao trận chiến
Trần Kiện đã hàng rước Nguyên binh
Toa Đô thẳng tiến chiều phương bắc
Tất Thống, Đinh Xa đã bỏ mình

Hải Đông trăng sáng vua tôi gặp
Tin giặc miền nam lớp lớp ngàn
Nhìn quan tiết chế Nhân Tông hỏi
“Hàng thôi, kẻo muộn kéo lầm than?”

Thanh gươm xin nguyện dâng bệ hạ
“Xin chém đầu tôi đã hãy hàng”
Đáy nước trăng soi hồn nhật nguyệt
Tôi Trần cương quyết giữ giang san

Trần Hưng Đạo về thành Vạn Kiếp
Triệu quân binh mà chiếm Thăng Long
Trước ngàn sóng vỗ về sông Đuống
Muôn cánh tay đan một tấm lòng

Mặt nam lấy lại từ tan vỡ
Quang Khải thân chinh đẫm chiến bào
Hồn thiêng sông Mã reo trong gió
Đứng dậy mà đi đuổi Toa Đô

Say chiến thắng quân Nguyên kiêu loạn
Quân nhà Trần lập lại hai nơi
Bắc vàm Vạn Kiếp, nam Thanh Hóa
Ngọn lửa bùng lên giữa đất trời

Trần Hưng Hạo soái quân ra lịnh
Tổng phản công mà trở Thăng Long
Sơn hà lấy lại từ tay giặc
Tướng sĩ Đông A đã một lòng

Từng ngày đất khách qua mùa lạnh
Lương thảo quân Nguyên đã cạn dần
Thời tiết trời nam thôi chìu giặc
Cơn say nào rồi cũng phù vân

Chương Dương độ, quân Trần phản kích
Ngược Nhị hà Quang Khải tiến lên
Hải A Nha Lý, Nguyên danh tướng
Thất trận Chương Duơng máu chảy lềnh

Bên bờ Hàm Tử so thua thắng
Chiêu Văn vương Nhật Duật điều quân
Quân Nguyên lạc lối đường xa lạ
Đi mãi về đâu bỗng ngập ngừng

Bờ Tây Kết không dưng mạt lộ
Dãi lau xanh nghẽn lối đi về
Xa trông cố quốc mờ non nước
Yên hà mây trắng mãi xa quê

Toa Đô bỏ cuộc trên thuyền nhỏ
Ô Mã đường nào thoát được không
Sóng xô đưa đẩy về Đông Hải
Ngoảnh lại sau lưng nước cuộn hồng

Nước chảy mãi sông Hồng sông Đuống
Đưa quân Nam trở lại kinh thành
Tiếng hô “sát Thát” vang thành cổ
Hồn Nguyên Mông còn sức tương tranh?

Cánh mặt bắc Lý Hằng, Ngũ Lão
Tướng Nguyên – Trần hai kẻ khác nhau
Một đàng danh tướng từ Tây Hạ
Một phía đan tre độ nhật ngày

Ngồi lỳ trước cổng không chịu tránh
Ô hay, nhân cách đã phi phàm
Ngũ Lão hàn vi thông binh pháp
Lý Hằng thất trận phải đành cam

Nửa đêm tiếng thét không cài áo
Mặt trận Thăng Long đã vỡ òa
Ở đây quân tướng trời đất Việt
Tái chiếm kinh thành tiếc máu pha

Quân Trần đột kích đôi đôi mặt
Mặt Thụy Khê bỏ trống về tây
Mặt đông thượng tướng Trần Quang Khải
Hưng Đạo thành nam quyết trận nầy

Cửa đông sớm vỡ quân Nguyên loạn
Mà ở thành nam có khác nào
Dấu xưa còn lại bên làng Hạ
Giặc chạy đêm trường quên gươm đao

Bên hồ Lục Thủy trông cửa bắc
Đường sống mong manh tựa chỉ mành
Ở đây tướng soái quân Nguyên thoát
Thoát Hoan không hổ một tài danh

Giữa lòng lưới địch giăng tứ phía
Mà tránh nơi nào không ai hay
Tinh mơ thấy mặt xa mà gọi
Ai chết ai đi ở trận này?

Thăng Long giải phóng trời tháng hạ
Hoa lựu mừng lên đợi gió thu
Vua về trở lại kinh thành cũ
Hưng Đạo qua sông diệt kẻ thù

Trần Tung, Hưng Đạo anh em ruột
Quốc Toản nhà ai ai biết không?
Ba tướng họ Trần đi đuổi giặc
Sông Đuống, Từ Sơn sắc hạ hồng

Bến đò Như Nguyệt xưa phá Tống
Nay đọ Nguyên – Trần cuộc tháo lui
Quân Nguyên thua chạy về tan tác
Quốc Toản hy sinh đến ngậm ngùi

Đổi Quốc Toản, Lý Hằng thọ tử
Đường tháo lui khúc khuỷu Lục Nam
Ống đồng ai vẽ trêu chiến tướng
Một Trấn Nam vương một vết chàm

Sông Lục Nam chạy về biên giới
Quân xâm lăng còn lại tàn quân
Bao người thương tích bao người sống
Chạy mãi về đâu mới kịp dừng


<<  |  >>