Skip to content

Chương 15/2

NHÀ TRẦN
(1225 – 1400)

Đoạn hai

TRẦN THÁNH TÔNG, THỜI BÌNH YÊN

 

      Làm sao ai biết được giấc chiêm bao của vua Trần Thái Tông là thật. Theo đó thì trong một đêm đầu năm 1240, nhà vua thấy thượng đế trao gươm báu cho mình. Sau giấc mơ ấy, Thuận Thiên hoàng hậu có thai để đến ngày 25 tháng 9 năm 1240 sinh ra Trần Hoảng. Trần Hoảng lập tức được làm đông cung thái tử thay vì Trần Quốc Khang. Khang là đứa con dự trù sẽ làm vua nhà Trần theo sự lo xa của Trần Thủ Độ. Tất cả đã là quá khứ. Chỉ biết càng ngày càng thấy Trần Hoảng thông minh và có bản lĩnh làm vua nên Thái Tông xoa dịu cái ray rứt của mình. Sau khi thắng Mông Cổ năm 1258 thái tử Trần Hoảng lên ngôi tức vua Trần Thánh Tông.

      Ngôi thứ gia đình họ tộc nhà Trần bắt đầu rối rắm từ lúc Trần Thủ Độ thành vợ chồng với bà chị họ của mình. Đó là bà hoàng hậu Thuận Trinh Trần Thị Dung, vợ vua Lý Huệ Tông. Nếu mối tình sử nầy làm đau lòng vong linh vua Lý Huệ Tông, thì cũng để cho hậu duệ nhà Trần rất nhiều hệ lụy. Bên cạnh việc giết và bắt buộc con cháu dòng họ Lý đổi qua họ Nguyễn, thì Trần Thủ Độ cũng bắt buộc con cháu vương tộc nhà họ Trần trai gái lấy lẫn nhau, chỉ trừ anh chị em ruột. Không có chỉ dụ nào về việc nầy, nhưng đây là một bắt buộc không thành văn để bảo vệ ngôi đế vương của nhà Trần. Rất tiếc các vua nhà Trần đời sau vẫn cho điều đó là hợp lý. Mới đến đời vua thứ hai những liên hệ không hợp đạo đức nầy đã trở thành một ràng buộc tơ vò. Vua Trần Thánh Tông đã có liên hệ ngược xuôi ít ra là 5 vị sau đây:

      Thứ nhất: Trần Liễu. Sau khi lên ngôi tháng 2 năm 1258, đến tháng 8 cùng năm, vua Trần Thánh Tông lấy người con gái út của An Sinh vương Trần Liễu làm vợ. Bà tên Trần Thị Thiều và được sinh ra khi người cha bị lưu đày. Bà đẹp dịu hiền thanh nhã như một bông hoa qúi của rừng Yên Phụ. Hương sắc ấy đã bay về tới cung triều làm vua Trần Thánh Tông mê người chị họ nầy. Sau khi rước về triều không bao lâu, bà được phong làm hoàng hậu, Thiên Cảm hoàng hậu. Do đó đối với vua Trần Thánh Tông, Trần Liễu vừa là bác ruột vừa là cha vợ. Người bác ruột đau khổ nầy vẫn âm thầm sống ở đất thực ấp và đồng ý gả đứa con gái duy nhất của mình về hoàng cung để nó trở thành hoàng hậu.

      Thứ hai: Trần Tung. Vừa là anh em chú bác ruột vừa là anh vợ. Ông nầy sinh năm 1230 và lúc nhỏ đã theo cha đến thực ấp Yên Sinh. Khi lớn lên ông có tham gia trong hai lần chống quân Nguyên năm 1285 và 1287. Ông là người có phong thái nhàn nhã, và sớm thấy được lẽ vô thường sinh diệt. Ông nghiên cứu kinh Phật rất sâu, nhưng không câu nệ hình thức. Người đời thường gọi ông là Tuệ Trung Thượng Sĩ. Ông là người thầy hướng dẫn cho vua Trần Nhân Tông vào đất thiền sau nầy.

      Thứ ba: Trần Quốc Tuấn sinh năm 1232. Bên cạnh những liên hệ giống người anh Trần Tung, Trần Quốc Tuấn còn là chú dượng của nhà vua. Khi người cha Trần Liễu bị đi đày, Tuấn may mắn được người cô ruột là trưởng công chúa Thụy Bà xin với Trần Thủ Độ cho ở lại hoàng thành. Bà nhận Trần Quốc Tuấn làm con nuôi và lo cho đứa cháu nầy được học hành đầy đủ cả văn lẫn võ. Năm 1241 để định chế tước vương và hầu về sau, vua Trần Thái Tông ra một chỉ dụ. Theo đó, ngoài thái tử, các con trai khác của vua đều được tước vương. Ngoài ra, những người có thành tích, có điều kiện được nhận làm con nuôi, hoặc được xem như con nuôi cũng được tước vương. Nhân chỉ dụ nầy Thụy Bà công chúa xin cho Trần Quốc Tuấn có tước vương. Người con trai 9 tuổi Trần Quốc Tuấn có tên hiệu Hưng Đạo vương từ đó, và ông chuyên tâm học hành. Trong thời gian miệt mài với sách vở qua nhiều năm tháng, Trần Quốc Tuấn chơi thân với một người cô ruột nhỏ tuổi hơn mình: Thiên Thành trưởng công chúa. Họ lớn dần theo năm tháng để sinh ra một mối quyến luyến mà ngỡ như không. Nhưng, trong cái không đó, tự nó có tình yêu. Họ thấy nhớ nhau khi vắng mặt, và thấy thời gian đi nhanh khi ở bên nhau. Bất ngờ Thiên Thành công chúa được vua anh Thái Tông gả cho Trung Thành vương. Trong đêm Thiên Thành chờ đợi  vu quy, tình yêu trai trẻ trong lòng Quốc Tuấn thức dậy mãnh liệt. Người con trai 20 tuổi nầy quyết định cướp người yêu. Sau hành động táo bạo nầy, thái sư Trần Thủ Độ không phản đối. Ông thấy cậu bé nầy giống mình ở chỗ quyết liệt nên ông làm thinh. Vua Trần Thái Tông vì thương em gái út nên cũng tìm cách sắp xếp. Thiên Thành trở thành vợ của Quốc Tuấn. Do đó, người anh tên Tuấn thêm một chức nữa là chú dượng của vua Trần Thánh Tông. Lúc này thì người ta đã quen gọi Trần Quốc Tuấn là Trần Hưng Đạo hay Hưng Đạo vương. Từ đó hiển lộ cốt cách phi thường của ông. Ông là người nhận lời trăng trối của cha mình trước khi mất vào năm 1251 để trả thù. Rất may, Trần Hưng Đạo đã đặt nợ nước trên tình nhà để không có điều gì đáng tiếc xảy ra. Sau nầy ông bỏ hẳn lòng thù hận giữa hai chi họ mà đại diện là chính ông và Trần Quang Khải. Trần Hưng Đạo quả là một bậc phi thường.

      Thứ tư: Trần Quốc Doãn. Người nầy có liên hệ tròng tréo với nhà vua một cách khó diễn tả. Ông là con thứ ba của vương thân Trần Liễu nhưng không cùng mẹ với Trần Quốc Tuấn và Trần Tung. Mẹ ông là Thuận Thiên hoàng hậu trước khi bị ép về với vua Trần Thái Tông năm 1237. Như vậy, Trần Quốc Doãn vừa là anh em chú bác ruột vừa là anh vợ vừa là anh ruột cùng mẹ với vua Trần Thánh Tông. Trần Quốc Doãn theo cha Trần Liễu lúc mới 3 tuổi về đất trích Yên Sinh. Lớn lên ông được người mẹ là hoàng hậu Thuận Thiên bảo bọc, nhưng đến khi hoàng hậu mất năm 1248 thì ông mất chỗ dựa. Người em nầy không có cái trí dũng của người anh Trần Quốc Tuấn, nên đã sai lầm. Ông Doãn tìm cách chạy qua đất Tống và bị bắt trở lại dưới triều vua Trần Thái Tông. Không rõ số phận về sau của ông như thế nào.

      Thứ năm: Trần Quốc Khang. Ông nầy thì tròng tréo hơn ông Trần Quốc Doãn một bậc nữa. Ông còn được coi là anh ruột của vua Trần Thánh Tông. Ông nhỏ hơn Trần Doãn 3 tuổi. Khi Trần Thủ Độ bức Thuận Thiên công chúa ra khỏi Trần Liễu, thì Trần Quốc Khang chỉ là một thai nhi 3 tháng. Khi vua Trần Thái Tông chọn Trần Hoảng làm thái tử năm 1240, lúc ấy Trần Quốc Khang mới 3 tuổi chưa biết gì. Dần dần đến tuổi thiếu niên, ông biết được nhân thân của mình. Ông biết ông là đứa con hờ để làm vua. Ông biết buồn và ông không bao giờ tranh giành bất cứ một điều gì với đứa em thái tử. Ngay cả với những đứa em còn lại, ông cũng nhường nhịn. Người ta nói ông không đủ tư chất  “lãnh đạo” mỗi khi chơi đùa với các em. Lâu dần cái ý nghĩ đó trở thành quen, và ông cũng nghĩ như thế. Ông sống âm thầm đến khi ông được cử đi Diễn Châu năm 1267. Lúc nầy vua Trần Thánh Tông  phong ông là phiêu kỵ đại tướng quân.

      Vua Trần Thánh Tông chỉ có duy nhất có một người em cùng mẹ cùng cha, đó là Trần Quang Khải. Vị hoàng tử nầy là người tài ba cả văn lẫn võ. Khi mới được sinh ra năm 1241 đã được vua cha phong là Chiêu Minh vương. Ông cũng có điều kiện học hành như người anh thái tử và cũng cưới vợ trong dòng họ như thái tử. Ông cưới bà cô Phụng Dương công chúa là con ruột của Trần Thủ Độ và được nhận là con nuôi của vua Trần Thái Tông. Ông có thể nói được tiếng của nhiều dân tộc thiểu số và tiếng Tàu. Khi Trần Thánh Tông lên ngôi, ông được phong tước Chiêu Minh đại vương. Năm 1261 ông giữ chức thái úy, chính thức tham gia triều chính. Năm 1271 ông trở thành tướng quốc thái úy, một chức quan cao nhất của triều đình. Dĩ nhiên là trên cả Trần Hưng Đạo, người đương nắm binh quyền lúc bấy giờ. Họ là hai người đại diện hai chi họ anh em, tưởng đã gây ra xung đột, nhưng cả hai đều là những bậc hiền kiệt nên không có điều đáng tiếc xảy ra.

      Sau Trần Quang Khải, vua Trần Thánh Tông có nhiều người em trai, nhưng đều chết lúc nhỏ chỉ còn lại hai người. Đó là Trần Nhật Duật và Trần Ích Tắc. Ông Duật thua nhà vua tới 15 tuổi và là em khác mẹ. Khi mới sinh ra năm 1255 được vua cha phong là Chiêu Văn vương. Ông cũng là một bậc kỳ tài về văn học và cầm quân, đặc biệt hiểu sâu xa về phong tục tập quán và phương ngữ của từng xứ. Có một giai thoại của ông về việc nầy. Năm 1280 khi quân Nguyên chuẩn bị tấn công Đại Việt, thì Trịnh Giác Mật là thủ lĩnh người Tày ở Đà Giang tây bắc khởi loạn. Thượng hoàng Thánh Tông sai Trần Nhật Duật đi dẹp. Lúc hạ trại ở Đà Giang, ông đã một mình một ngựa vào trại giặc khi được thách thức. Đến nơi ông nói tiếng Tày và dùng phương ngữ Đà Giang để tiếp chuyện với người Tày. Ông ngửa mặt uống rượu bằng mũi lúc đang ăn như mọi huynh đệ của trại chủ. Từ ấy họ gọi ông là huynh đệ và không còn chiến tranh.

      Trần Ích Tắc là em út. Ích Tắc có cùng mẹ với Trần Nhật Duật và thua người anh nầy một tuổi. Ông cũng tài ba như các anh, nhưng không tham chính hoặc cầm quân. Ông mở trường dạy học và nghiên cứu lịch sử đông tây. Rất tiếc ông phản bội lại nước nhà. Trong cuộc chiến chống Nguyên Mông lần thứ hai năm 1285 ông đưa cả gia đình đi hàng Hốt Tất Liệt.

       Ở triều đại Trần Thánh Tông chưa mở được những trường lớp lớn về văn chương cũng như về võ nghệ, nhưng cũng để lại cho đời những chuẩn bị của ông. Ông khuyến khích hoàng đệ Trần Ích Tắc mở nhiều trường đào tạo nhân tài. Hàng sĩ phu giúp các vua Trần sau nầy nhiều người được đào tạo trong thời vua Trần Thánh Tông. Tiến sĩ Nguyễn Thuyên, người có công trong việc hình thành chữ nôm, danh sĩ kỳ tài Trương Hán Siêu đều được đào tạo trong thời gian này. Bộ sử ký đầu tiên của Việt Nam cũng hoàn thành năm 1272 dưới thời vua Trần Thánh Tông. Đó là bộ Đại Việt Sử Ký do hàn lâm viện học sĩ Lê Văn Hưu soạn từ thời vua Trần Thái Tông. Bộ sử nầy viết từ thời Triệu Đà đến vua Lý Chiêu Hoàng. Về quân sự, vua Trần Thánh Tông cho chế tạo vũ khí và đúc thuyền, bộ binh và thủy quân được tập luyện thường xuyên. Suốt thời gian vị vua thứ hai của nhà Trần trị vì, chiến tranh không xảy ra ở Đại Việt. Ngọn lửa điêu tàn ấy đã được Mông Cổ đốt ở Nam Tống:

      Năm 1258, khi Ngột Lương Hợp Thai từ Đại Việt chạy về, thì chiến trường Mông Cổ và Nam Tống vẫn tiếp diễn. Lúc bấy giờ quân của Hốt Tất Liệt từ mặt tây trên đường đông tiến tấn công Vũ Hán (Wuhan). Ngột Lương Hợp Thai được lịnh yểm trợ cho Hốt Tất Liệt trong khi đại quân của đại hãn Mông Kha đang uy hiếp thành Điếu Ngư ở Trùng Khánh (Chongqing). Với một lực lượng vô cùng hùng hậu tưởng rằng quân Mông Cổ sẽ chiếm được Điếu Ngư, nhưng đại hãn Mông Kha lại bị thương rồi bị chết dưới một mũi tên rất bình thường. Cái chết của vị đại hãn nầy không làm lùi bước quân xâm lăng Mông Cổ, nhưng nó đã ngưng lại vì sự tranh giành quyền đại hãn ở chính quốc đương xảy ra. Hốt Tất Liệt phải trở về Thượng Đô (Shangdu) để giành quyền đại hãn với em trai là A Lý Bất Ca mà các đại thần ở đó đang tiến hành bầu lên.

      Cuộc nội chiến nổ ra, và kéo dài 5 năm từ 1259 đến 1264 mới chấm dứt. Hốt Tất Liệt thắng người em, củng cố lại chính quyền và xác lập lãnh thổ. Nó gồm cả thảo nguyên phía bắc, lãnh thổ nước Kim (trong đó có bắc Tống, kéo dài đến Trường Giang), một phần lãnh thổ phía tây của Nam Tống và nước Đại Lý. Tưởng rằng trong thời gian tranh giành quyền lực của anh em Mông Cổ, nhà Nam Tống sẽ vựt dậy nhưng không phải như thế.

      Hốt Tất Liệt là một người phi thường. Trong thời gian tranh hùng với người em ruột, ông vẫn cho duy trì quân đội ở biên cương Nam Tống. Ông ta còn có tài hơn cả người anh Mông Kha, nên các vua nhà Tống vẫn giữ ở tình trạng yếu thế. Năm 1267, ông không tấn công Nam Tống từ mặt tây và mặt nam như đại hãn Mông Kha lúc trước. Ông cử A Lý Hải Nha làm tổng tư lệnh tấn công trực diện vào thành Tương Dương. Thành Tương Dương nằm trên bờ Hán Thuỷ, một chi lưu của Trường Giang. Nó là thành trì huyết mạch, cửa ngõ miền bắc của Nam Tống. Nếu mất thành nầy, Nam Tống sẽ khó chận đứng quân Mông Cổ tiến về miền nam và thủ đô Lâm An. Tướng thủ thành Lã Văn Hoán là người cẩn thận và nhiều kinh nghiệm phòng thủ. Ông đã xin hoàng đế Nam Tống lúc bấy giờ là Tống Độ Tông tăng cường quân sự bên kia bờ Hán Thủy để bảo vệ Tương Dương. Yêu cầu nầy được chấp thuận, lập tức nhiều đơn vị biên phòng được gởi tới Phàn Thành . Với sự củng cố nầy Tống Độ Tông tin tưởng sẽ cầm chân được quân Mông Cổ, nhưng điều đó không được kéo dài.

      Những trận đánh qua nhiều năm không chọc thủng được Tương Dương đã làm Hốt Tất Liệt thay đổi chiến thuật. Năm 1271 khi các hãn huynh đệ ở mặt tây trên đà chiến thắng, Hốt Tất Liệt xưng đế ở mặt đông. Ông lập nên triều đại nhà Nguyên, đặt Đại Đô (Bắc Kinh) làm thủ đô và một điều trên hết phải làm: tấn công Tương Dương. Bằng một lực lượng chưa từng có từ trước, ở mặt nam ông dùng thủy bộ xen giữa thành Tương Dương và Trường Giang. Lực lượng nầy có nhiệm vụ chặn đường tiếp tế từ thủ đô Lâm An (Hàng Châu) hoặc quân phía nam của Nam Tống. Ở mặt bắc, ông dùng súng bắn đá lớn do người Ngô Duy Nhĩ phát minh rất thành công. Chúng đã phá những bờ tường dày để bộ binh tràn vào. Đầu tiên, quân Mông Cổ diệt được Phàn Thành, cán cân trận chiến không còn như cũ. Tường thành Tương Dương chưa bị phá vỡ, nhưng áp lực càng lúc càng đè nặng. Người chết chồng lên người chết đến hàng trăm mỗi ngày, nhưng lương thực vẫn không cung cấp đủ cho người còn lại. Tiếp viện từ Lâm An không hề đến được.

      Đầu năm 1272 tướng Lã Văn Hoán tuyên bố tình hình nguy ngập. Ông kêu gọi dân trong thành buộc bụng cùng quân đội chống xâm lăng. Lương thực và thuốc men thiếu hụt được báo động ở mức cao nhất. Đầu năm 1273, khi mùa đông còn kéo dài giá rét, người ta không cần đánh nhau mà trong thành đã chết vì đói. Tình hình vô cùng tuyệt vọng. Khi đạo quân đầu tiên của tướng Nguyên là A Truật (Aju) tràn được vào thành, quân Tống không kháng cự nổi. Dân và lính chết trong hai ngày chiến đấu mà lên tới một phần ba tổng số. Tướng Lã Văn Hoán đầu hàng. Có hàng loạt người tự sát vì sĩ khí, nhưng tình hình không thay đổi. Quân Nguyên Mông ồ ạt trên Hán Thủy, trên Trường Giang và trên bộ. Họ qua sông chinh phục từng vùng đất phía nam. Tống Độ Tông không chịu nổi sức ép của một viễn ảnh mất nước trong tay mình. Nhà vua nầy sinh bịnh và qua đời vào tháng 8 năm 1274.

      Thái tử Triệu Hiển lên thay tức Tống Cung Tông. Ông cố sức cầm chân quân xâm lăng nhưng phần đất của mình càng ngày càng nhỏ lại. Đến đầu năm 1276 các đạo quân Mông Cổ đã chiếm Hà Nam, Hồ Bắc, An Huy và Giang Tây. Họ như muốn đẩy thủ đô Lâm An ra biển. Khi chưa xong mùa hạ, bộ binh Nguyên vào thành Lâm An hầu như không gặp sự kháng cự. Vua Tống Cung Tông bị bắt, thừa tướng Lục Tú Phu và tướng cẩm vệ Trương Thế Kiệt cố gắng chạy thoát. Họ qui tụ được những binh đoàn chiến bại phía ngoài, và lên thuyền ra khơi. Họ chạy về Phúc Kiến với khoảng trên 100.000 quân thủy, bộ, dân thường và hoàng tộc. Họ lập Triệu Thị, em của Cung Tông, lên làm vua tức Đoan Tông. Ông nầy làm vua lưu vong từ Phúc Kiến xuống tận miền nam Quảng Đông rồi vòng lên Nhai Sơn năm 1278. Tại đây, ông qua đời vì những chuyến hải hành xa xôi và cực nhọc lúc mười hai tuổi. Người em mới 4 tuổi được tôn lên làm vua tức Tống Đế Bính, lúc nầy quân Nguyên đã đuổi theo ráo riết.

    Quân nhà Tống mất dần đi một số lớn vì bệnh và đào ngũ. Số còn lại cố gắng chiến đấu giữ núi Nhai Sơn để tồn sinh, nhưng họ bị đánh bật ra biển. Quân Nguyên đã ùa tới bao vây Nhai Sơn. Cái cố gắng cuối cùng là trận thủy chiến Nhai Môn giữa trời nước mênh mông và lòng người rối loạn. Trước mặt họ là những ngọn sóng đồng lõa với sự hăm dọa, sau lưng họ là ngọn Nhai Sơn không trở lại được. Trận thủy chiến trong tuyệt vọng. Dù thủy quân và cả bộ binh cố gắng chiến đấu trên thuyền nhưng không đủ sức bảo vệ một số lượng lớn đàn bà và trẻ con. Chưa đầy một ngày chiến đấu, máu của quân Tống đã làm đỏ những ngọn sóng đang trồi lên. Những chiếc thuyền cuối cùng đã chạy được mang theo người tướng kháng chiến Trương Thế Kiệt không biết về đâu. Riêng thừa tướng Lục Tú Phu không muốn rơi vào tay giặc đã ôm nhà vua 4 tuổi trầm mình xuống biển. Đó là ngày 19 tháng 3 năm 1279. Nhà Tống diệt vong. Nhà Nguyên chiếm toàn lãnh thổ nước Tàu. Lòng tham của Hốt Tất Liệt chưa dừng lại. Mộng xâm lăng Đại Việt bắt đầu.

Trần Hoảng lên ngôi tức Thánh Tông
Đại Việt qua cơn loạn máu hồng
Từ đây thịnh trị không chinh chiến
Trải mấy mùa qua mấy thu đông

Vua có hai người anh cùng mẹ
Chịu thiệt thòi tên gọi Doãn, Khang
Họ là con bác, người bác ruột
Mẹ phải sang ngang giữa bẽ bàng

Người bác ruột còn hai con lớn
Đem đau thương mà đổi thành hiền
Tuệ Trung Thượng Sĩ tâm như Phật
Quốc Tuấn sơn hà bỏ nỗi riêng

Vua còn có người em trai kế
Cách một năm cùng mẹ cùng cha
Trần Quang Khải đại thần cột trụ
Phò hoàng huynh văn võ nước nhà

Vua còn có đôi người em nữa
Mẹ không cùng mà vẫn tương thân
Trần Nhật Duật tài cao uyên bác
Lại tiếc thay Ích Tắc “ả Trần”

Tưởng rằng có loạn thù huynh đệ
Mà nhà Trần gặp phước thênh thang
Anh em nhường bước không tranh thắng
Một chén nước thơm, một áo choàng

Nhà vua lúc ấy là dòng chính
Theo gương nội thiếp giống ông cha
Chọn người nội tộc làm hoàng hậu
Người chị bên sông hóa vợ nhà

Húy Thiều người chị từ Yên xứ
Thánh Tông lại chọn lập phu nhân
Vốn người con gái con Trần Liễu
Có trách thuần bôn ở họ Trần?

Trần Thánh Tông ngoại giao khôn khéo
Nhờ anh em chí khí tài ba
Ngoài thì hòa thuận quân phương bắc
Trong vẫn tinh chuyên chuyện nước nhà

Khoa thi được mở thêm nhiều nữa
Sử viết thành trang những tập dày
Nhà vua có sử từ Vũ Đế
Viết đến Chiêu Hoàng theo gió bay

Lê Văn Hưu sử gia thứ nhất
Đỗ khoa thi tam cấp đầu tiên
Thái Tông vời lại trao viết sử
Mà đến Thánh Tông mới phổ truyền

Đại Việt Sử về sau mất dấu
Tiếc từng trang đã lạc về đâu
Văn Hưu soạn sử thời Trần thịnh
Ghi lại ngàn xưa mấy dãi dầu

Thánh Tông trị nước bao năm tháng
Hai mươi thu xuân hạ qua đông
Nước nhà yên ổn không chinh chiến
Mà ở bắc phương nhuộm máu hồng

Đôi dòng trở lại về phương bắc
Lúc Mông Kha tranh thắng Tống triều
Điếu Ngư chiến cuộc mùa thu ấy
Ai chết bên thành ai bắn phi tiêu

Mông Kha chết, tranh quyền đại hãn
Giữa đệ huynh con của Đà Lôi
A Lý Bất thua anh Tất Liệt
Thành Thượng Đô muôn việc đã rồi

Hốt Tất Liệt tiếp hành diệt Tống
Thành Tương Dương, Hán Thủy tuyến đầu
Bao thu lá rụng bao người chết
Mông về đâu Tống lại về đâu

Quân Nam Tống mất dần đất sống
Mất Tương giang mất cả Trường giang
Nhai Môn thủy chiến hồn thiên cổ
Gợn sóng buồn hiu mảnh áo vàng

Cả vùng lục địa từ Bắc Á
Tây tận Âu, nam tận Châu Giang
Quân Nguyên vó ngựa không hề bại
Lãnh thổ mênh mông suốt gió ngàn

Diệt nhà Tống, nhà Nguyên thống nhất
Mộng xâm lăng còn kéo thênh thang
Đông ngàn Nhật Bản, nam Đại Việt
Non nước về đâu trước bạo tàn?


<<  |  >>