Skip to content

Chương 15/12

NHÀ TRẦN
(1225 – 1400)

Đoạn mười hai

TRẦN NGHỆ TÔNG, TRẦN THUẬN TÔNG, TRẦN THIẾU ĐẾ,
VÀ BÀN TAY HỌ HỒ

 

      Trần Ngung là con út của thượng hoàng Nghệ Tông lên ngôi tức vua Trần Thuận Tông. Tính đến lúc bắt đầu cầm giữ ngai vàng ngày 27 tháng 12 năm 1388, thì nhà vua mới có 10 tuổi. Ông có 3 người anh: Ngự Câu vương Trần Húc đã đầu hàng Chế Bồng Nga khi thất trận Đồ Bàn năm 1377. Trang Định vương Trần Ngạc vẫn còn giữ chức thái úy, nhưng chỉ như là một người tù giữa triều đình sau khi vua Đế Hiện bị diệt. Giản Định vương Trần Ngỗi không được chọn vì ông thiếu vẻ nho nhã giống như vua cha. Không ai giải thích có một lý do nào khác, nhưng đó là cái may cho vị Giản Định vương nầy.

      Nếu gọi “khởi loạn” của thái úy Trần Ngạc và Đế Hiện là cái sốc đối với Quý Ly, thì từ cái sốc nầy họ Lê đã coi triều đình nhà Trần như một đối thủ. Đối với ông từ chỗ muốn làm một kẻ tôi trung qua chỗ quyền thần chỉ bước qua một đường tơ. Và, Lê Qúy Ly như một bóng ma vờn trên đường tơ ấy. Ông xin thượng hoàng Nghệ Tông lập đứa con gái của ông lên làm hoàng hậu. Tiểu thư Lê Thị Thánh Ngâu trở thành hoàng hậu Khâm Thánh trong tháng giêng năm 1389. Cả vua và hoàng hậu đều 11 tuổi. Điều nầy na ná giống cảnh Trần Thái Tông và Lý Chiêu Hoàng hoàng hậu lúc đầu nhà Trần. Cả hai vị cha mẹ của dân nầy không hề biết một việc gì kể cả chuyện phòng the.

      Sau khi làm nhạc trượng của nhà vua, Lê Quý Ly xin thượng hoàng Nghệ Tông tiểu trừ những kẻ âm mưu khởi loạn “Đế Hiện”. Bọn Lê Á Phu, Nguyễn Văn Nhi, Lê Lặc, Nguyễn Bát Sách và nhiều người liên hệ đều bị giết. Lê Quý Ly khôn ngoan để không ra tay giết hết. Trang Định vương Trần Ngạc chỉ bị giáng xuống thành Mẫn Vương, Tả ty hành khiển Lê Dữ Nghị xét thấy bị xúi dục đưọc giữ nguyên chức. Không ai biết lòng dân nghĩ gì về cái chết của Đế Hiện, nhưng sau đó có nhiều cuộc khởi nghĩa dấy lên. Nguyễn Thanh ở Lương Giang, Nguyễn Kỵ ở Nông Cống, Vương Nhữ Cái ở Đà Giang được nhiều người ủng hộ, nhưng đều bị cho là loạn cướp và mau chóng bị dập tắt. Nguyễn Thanh và Nguyễn Kỵ đều bị giết, riêng Vương Nhữ Cái chạy thoát. Ông nầy dẫn một số nghĩa quân lưu lạc ở một nơi nào đó cũng chẳng còn vang vọng gì. Nhưng, cùng thời gian ấy có một dấu ấn lớn để lại trong lòng Lê Quý Ly.

      Tháng 10 năm 1389 quân Chiêm Thành đem quân qua cửa Lạch Trường vào sông Mã. Họ tiến vào làng Cổ Vò, qua sông Ngu Giang và đóng quân ở hai bên bờ sông Bản Nha. Hai sông nầy đều là chi lưu của sông Mã mà phù sa mỗi năm tạo ra một đồng bằng thóc lúa. Lê Qúy Ly được thượng hoàng Nghệ Tông cử cầm quân đi tiêu diệt. Dưới trướng họ Lê có hai tỳ tướng Phạm Khả Vĩnh và  Nguyễn Đa Phương. Với trận chiến nầy, Lê Quý Ly tin rằng quân Đại Việt chắc thắng. Ông nghĩ quân Chiêm Thành chọn vùng địa lý Bản Nha chỉ để cướp bóc lương thực, chứ không phải đi chiếm một cứ điểm chiến lược. Họ chỉ là đạo quân cướp vặt. Mới nhìn tưởng đúng như Lê Quý Ly nghĩ, quân của Chế Bồng Nga bỏ chạy dài khi quân Trần đến. Nhưng, một điều mà họ Lê không ngờ, đây là cách phục kích của họ Chế. Lấy một địa thế tầm thường, lấy một mục đích tầm thường để lừa địch. Quân Trần bị bao vây và vô số quân Chàm ẩn núp nổi lên phản công.

      Nếu so với lần bị phục kích của vua Trần Duệ Tông năm xưa, thì sự thiệt hại lần nầy không đáng kể. Tuy nhiên, cũng là một số quân khá lớn. Trên 500 người bị chết sau hai ngày giao tranh. Còn lại gần 3 ngàn quân, Lê Qúy Ly ra lịnh rút về hạ nguồn Ngu Giang để cố thủ. Tại đây, họ Lê giao quyền lại cho Nguyễn Đa Phương và lên thuyền về Thăng Long. Ở Ngu Giang áp lực địch càng lúc càng mạnh. Trong một đêm Nguyễn Đa Phương bàn với Phạm Khả Vĩnh cho rút quân. Về đến Thăng Long an toàn, nhưng Nguyễn Đa Phương bị thượng hoàng gọi đến trách tội. Theo vị thượng quân vương nầy thì tướng họ Nguyễn có hai tội: thứ nhất, đi tiên phong mà để đoàn quân sa lầy vào phục kích. thứ hai, không tuân lệnh thượng cấp ở lại chiến trường đợi quân tiếp viện mà tự ý thoái binh. Hai tội này đều đáng tội chết, nhưng vì lòng nhân từ của vua Thuận Tông và thượng hoàng nên mới được tha. Tướng Nguyễn Đa Phương cúi đầu nhận tội, nhưng trong lòng vô cùng bực tức. Ông tin rằng Lê Qúy Ly về trước đã có lời tâu trình xuyên tạc. Ông không hề đưa quân vào ổ phục kích, và ông không hề nghe Lê Qúy Ly nói ở lại Ngu Giang để chờ quân tiếp viện.

      Từ điện cần chánh trở về doanh trại, tướng Nguyễn Đa Phương nghĩ đến con người của Lê Quý Ly. Ông nghĩ đến những ngày đầu tiên Lê Quý Ly đến võ đường của thân phụ ông. Nghĩ đến những bạn đồng môn đi gặp Trần Ngô Lang. Nghĩ đến Quý Ly tiến cử ông với hoàng đế. Nghĩ đến sự chia sẻ của Quý Ly về dự mưu của Đế Hiện. Nghĩ đến sự tiêu diệt nhóm Lê Á Phu, Nguyễn Bát Sách. Bao nhiêu ân tình cứ mãi đan xen nhau mà mang mang ở đó ông nhìn thấy một Lê Quý Ly chẳng đủ nhân tình.

      Việc rút quân trở về đã làm thượng hoàng Nghệ Tông đổ hết sự thất bại lên mình ông. Đây là điều bất công mà họ Nguyễn phải gánh chịu. Ông có thể chịu thay được lỗi lầm cho người anh em, nhưng tại sao Lê Quý Ly lại đổ hết lên người ông. Lê Quý Ly không dám gánh lấy trách nhiệm. Lê Qúy Ly đã không cùng quân sĩ ở lại chiến trường lúc đương tiếp diễn. Đó là thái độ của một kẻ hèn. Nguyễn Đa Phương vô cùng tức giận. Người con trai duy nhất của lão võ sư Nguyễn Sư Tề không cần minh oan trước thượng hoàng Nghệ Tông, mà tìm Lê Quý Ly để trút nỗi bực tức. Ông phải sỉ vả người huynh đệ tồi một trận mới hả lòng.

      Nếu thượng hoàng Trần Nghệ Tông nặng lời với mình thế nào, thì Nguyễn Đa Phương bình phương nó lên và trút hết lên người Lê Qúy Ly. Những lời xúc phạm nặng nề quá đáng đến quan Đồng bình chương sự không đúng lúc đã làm Nguyễn Đa Phương mất hết quyền bính. Tính võ biền của Nguyễn Đa Phương đã quên đi người anh em của mình đang làm việc lớn. Họ Nguyễn vừa đã cơn thịnh nộ, cũng là lúc bị thượng hoàng Nghệ Tông cách chức Kim ngô đại tướng quân. Bỗng chốc trở thành vị tướng không quân ở triều đình, Nguyễn Đa Phương nổi cuồng. Đó là lúc ông không thể nào kháng cự khi bị âm thầm xử chết. Không biết lúc Lê Quý Ly ra lịnh nầy ông có nghĩ kỹ không? Ông tỉnh táo để biết đây là người đáng tội chết hay không? Có lẽ ông nghĩ người huynh đệ dám nhục mạ ông trước quân lính, thì người huynh đệ sẽ làm loạn, nên ông cần phải răn đe. Nhưng, với tính cương cường của Nguyễn Đa Phương không có sự răn đe nào phù hợp hơn là sự chết. Lê Quý Ly tin rằng mình đã diệt đi một mầm loạn từ trong thân mà ra. Có thể đau, nhưng mà yên lòng.

      Lê Quý Ly cảm thấy bần thần. Ông du mình vào cảm giác thầy bạn xa xưa. Ông thấy nỗi buồn tràn ngập, và nghĩ ngợi miên man. Trước mặt ông ngổn ngang nhiều việc. Chống quân Minh, chống quân Chiêm Thành đều trên vai ông. Việc ông bỏ Ngu Giang để trở về không phải là bỏ trốn đơn vị. Ông nghĩ vai vế của mình không phải ở lại để làm vị tướng cầm vài ba ngàn quân lính. Ông trở về để tìm lực lượng tiếp viện. Việc chưa xong đã nghe Nguyễn Đa Phương rút quân về. Ông không hề đổ tội cho người em nầy. Thượng hoàng Nghệ Tông không muốn trách cứ ông, nên dồn hết cho họ Nguyễn. Vị thượng hoàng nầy là như thế. Con người thư sinh nho nhã Cung Định vương Trần Phủ mà ông hàm ân, không thể là một người lãnh đạo đất nước trong một thời kỳ đen tối được. Và, vua Thuận Tông Trần Ngung chỉ một đứa bé chẳng biết gì. Một đất nước điêu đứng ngay trước mặt, mà Nguyễn Đa Phương không chịu hiểu, Nếu việc lỗ mãng của hắn không trừng trị mạnh sẽ sinh lọan.  Thiện, ác, bội, trung, làm Lê Quý Ly cứ mãi dằn vặt. Nó để lại trong lòng ông một dấu ấn như một hố sâu khó lấp đầy.

      Dù làm tôi thần cho nhà Trần hay diệt nhà Trần, Lê Quý Ly cũng phải trở về thực tế. Ông rà soát lại tình hình đang có trước mặt.

      Thứ nhất: Về quân sự ông chỉnh đốn lại 4 đơn vị tổng trừ bị. Đạo quân Kim Ngô của Nguyễn Đa Phương được Trần Thế Đăng lên thay. Ông thuyên chuyển một số quân của đơn vị nầy đến những lộ quân khác mà ông thấy cần thiết. Đạo quân Long Tiệp giao cho Trần Khát Chân. Khát Chân, một tướng trẻ có tài cầm quân mà họ Lê biết được. Bên cạnh đó ông cũng muốn nâng đỡ người họ Trần nầy vì cùng quê Thanh Hoa. Vương Khả Tuân giữ nguyên lộ quân Thần Dực. Dương Chương giữ nguyên lộ quân Thần Dũng. Hai tướng họ Vương và họ Dương đều là người thân tín. Đây là 4 lộ quân thiện chiến tổng trừ bị trong 12 lộ quân của Đại Việt dưới triều Thuận Tông. Bên cạnh đó, ông rút Đỗ Dã Ca, cũng là một người thân tín, về coi cấm quân thị vệ.

      Thứ hai: Về an ninh ông thăng chức Phạm Cự Luận từ Thiêm thư khu mật viện lên Đại sứ. Lúc nầy họ Phạm đã đặt tay chân khắp nơi kể cả những nơi xa xôi như Tân Bình và Thuận Hóa. Ở đó có Đặng Tất làm châu phán, Hoàng Hối Khanh làm Chính hình đại phu và Nguyễn Cảnh Chân là An phủ sứ. Tất cả tin tức khắp nơi đều được đưa về Phạm Cự Luận. Nguyễn Cẩn giúp sức đắc lực cho họ Phạm. Lê Hán Thương, con trai thứ của Lê Quý Ly cũng có mặt. Người cháu ngoại của vua Trần Minh Tông nầy vừa đúng 19 tuổi. Cả ba người Luận, Cẩn, Thương là đầu não của cơ quan an ninh đầu tiên của Lê Qúy Ly.

      Thứ ba: Nhìn lại tôn thất họ Trần. Chương Túc thượng hầu Trần Nguyên Đán, người có một thời được coi là uy tín nhất đang trí sĩ ở Côn Sơn, Chí Linh. Trần Sư Hiền vai em thượng hoàng Nghệ Tông đã là một ông già điếc lác. Trần Nhật Chương, người nầy cứng rắn hơn Trần Nguyên Đán, hiện nay ông có một chỗ đứng trong lòng người hoàng tộc. Trần Nguyên Uyên, Chưởng quốc phủ quân ty, nhưng chỉ là gã thân vương say ruợu. Trần Nguyên Dận, con của Trần Sư Hiền, đỗ thái học sĩ, nhưng cũng là gã mê Lưu Linh. Trần Nguyên Hàng là thái bảo của đương kim hoàng đế chỉ là một con mọt chữ. Mẫn Vương Trần Ngạc chưa lại hồn sau lần thoát chết. Giản Định vương Trần Ngỗi, anh kế Thuận Tông, chỉ hơn nhà vua một tuổi. Họ Trần chỉ có thế. Nhà Trần sẽ không chống nổi quân Tàu và sẽ không chống nổi quân Chiêm.

      Trong lúc Lê Quý Ly còn đương toan tính thì hai sự việc trọng đại xảy ra cùng một lúc: Chế Bồng Nga trên đường mang thủy quân bắc tiến, và nhà sư Phạm Sư Ôn khởi nghĩa bên hông hoàng thành Thăng Long.

      Thượng hoàng Trần Nghệ Tông triệu Lê Quý Ly. Theo tin quân báo, quân Chiêm Thành sẽ tiến vào cửa sông Hồng, và nhà sư họ Phạm đương tập trung một đạo quân lên tới hai ngàn người ở Quảng Oai. Trước tình thế lưỡng đầu thọ địch thì vua Thuận Tông 11 tuổi và thượng hoàng Nghệ Tông đều hoảng sợ. Qúy Ly tỏ rõ là người đảm lược. Ông bình tĩnh nhìn sự việc để tìm cách đối phó.

      Lê Quý Ly đã từng nghe về người họ Phạm. Đó là một vị sư hoàn tục có võ nghệ, và có người nhà bị quan lại ức hiếp. Ông nầy thường tập trung những nông dân có lòng nghĩa hiệp thành một đạo quân để trừng trị bọn cường hào ở nhiều nơi. Lấy của người giàu giúp kẻ nghèo làm phương châm, nên dần dần lộ quân của ông nầy có thanh thế. Kế sách hạn nô đưa ra trước đây, chưa được thực thi toàn diện, nhưng có một số người được giải phóng về đầu quân họ Phạm. Dân gian bấy giờ tặng cho họ một mỹ từ: “đạo quân Bồ Tát”. Đúng vào lúc tin Chiêm Thành bắc tiến, Phạm Sư Ôn tuyên bố sẽ chiếm thành Thăng Long trong 3 ngày. Lời tuyên bố có vẻ anh hùng “Lương Sơn Bạc” đó làm nhiều người theo ông, trong đó có hai đạo quân của Nguyễn Tông Mại và Nguyễn Khả Hành. Người ta tưởng sẽ có giao tranh giữa lòng kinh đô nên nhiều người bồng bế nhau đi tránh. Đứng trước tình thế bất ổn đó, Lê Quý Ly có kế hoạch sẽ đưa hai vua và triều thần về Bắc Giang. Lại một lần nữa Thăng Long sẽ bị bỏ ngỏ.

      Đối với quân của Phạm Sư Ông là thế, nhưng với quân Chiêm Thành xâm lăng, Lê Quý Ly dồn toàn lực lượng tấn công. Họ Lê cho các lộ quân Long Tiệp của Trần Khát Chân, Phiêu Kỵ của Phạm Khả Vĩnh, Thần Dũng của Dương Chương, Thần Dực của Vương Khả Tuân trực tiếp tham chiến. Lộ quân Thánh Dực của Hoàng Phụng Thế trừ bị. Tất cả thuỷ bộ gồm 25 ngàn quân dưới quyền tổng chỉ huy của tướng Trần Khát Chân và phó tướng Phạm Khả Vĩnh. Quân tướng được tập hợp tức khắc lên đường.

      Đứng trước ba quân tướng sĩ, thượng hoàng Trần Nghệ Tông có lời giáo huấn của đấng quân vương. Ông nhìn người trai trẻ Trần Khát Chân bỗng chạnh lòng. Ông nhớ tới Bảo Nghĩa vương Trần Bình Trọng năm xưa cũng vì tằng tổ phụ của ông mà hy sinh ở một khúc sông Hồng, Thiên Mạc. Nơi đó cũng sẽ là nơi mà người hậu duệ Trần Khát Chân sắp đi qua. Con người nho nhã của ông chợt mềm lòng mà nghẹn ngào trong lời nói. Vị thượng hoàng 69 tuổi rưng rưng nước mắt nhìn ba quân, làm vị tướng trẻ Trần Khát Chân cũng không cầm nổi lòng mình. Khát Chân qùy xuống trước sân đình và nói lời trung thành với tổ quốc. Cuộc tiễn quân bi tráng trước bình minh Thăng Long còn đẫm sương. Đó là một ngày đầu xuân năm 1390.

      Đoàn thuỷ quân và bộ binh theo dòng sông Hồng về hạ nguồn. Khi trời đã xế trưa của ngày hôm sau, thì người ta không cần những quan sát viên chạy bằng ngựa để thông tin nữa. Hai phương thù địch đã thấy nhau trên hai đầu sông Đại Hoàng. Đại Hoàng là một khúc sông rộng của sông Hồng, mà một đầu là ngã ba rẽ về sông Luộc. Cuộc chiến xảy ra tức thì. Người ta đã quen đối đầu nhau từ mấy chục năm nay, nên hình như không ai cần khách sáo. Cả hai bên đều dùng tên thường và tên lửa cùng một lúc. Quân Đại Việt quyết không cho quân Chàm nhích thêm một bước nào nữa. Chỉ còn khoảng 60 cây số là tới kinh đô, nên cả quân và tướng đều tận sức. Quân Chiêm Thành thì còn dũng khí của những lần chiến thắng trước nên chiến đấu rất hăng. Thuyền đụng thuyền trên dòng sông. Người bị thương và người chết làm đỏ mặt Đại Hoàng. Có phải nhờ ánh mắt rưng rưng của thượng hoàng Nghệ Tông, hay vì lòng trung trinh của những kẻ một lòng bảo vệ đất nước, mà đến chiều tối quân Trần đã áp đảo được đối phương. Tướng Trần Khát Chân ra lịnh tách quân Chàm làm hai. Một nửa bị đánh bạt về hạ nguồn sông Hồng bởi tướng Phạm Khả Vĩnh, một nửa dồn về sông Luộc do Trần Khát Chân tấn công. Thế trận bây giờ trở thành hình chữ  L. Quân nhà Trần trải dài ở ngã ba Hải Triều của hai con sông, trong khi quân Chiêm Thành bị chia thành hai ở hai đầu. Toàn khu tam giác đang chìm dần vào đêm tối.

      Đêm cứ đen và người ta cứ rình nhau, không bên nào liều lĩnh ra tay trước. Tờ mờ sáng hôm sau quân Đại Việt tấn công, tức thì quân Chiêm Thành rơi vào thế yếu. Quân số đã ít hơn và bị chia làm hai phải trở về thế thủ. Trong lúc đó thì quân Đại Việt  được tăng phái từ các lộ quân địa phương nên vô cùng hùng hậu. Dưới sông, trên bờ đều có những tiếng hô vang dậy. Cánh quân của La Ngai, phó tướng Chiêm Thành, ở hạ nguồn sông Hồng yếu hẳn. Cánh quân chủ lực của Chế Bồng Nga ở sông Luộc còn đang cầm cự. Người ta không khoan nhượng nhau. Quân Chiêm Thành tỏ ra không nao núng. Từng thuyền một tự chiến đấu để rút về sông Hồng. Mục tiêu của họ là rút lui, nên không có lệnh lạc gì thêm. Điều nầy đã làm quân Đại Việt không biết đâu là thuyền của chủ soái địch. Tuy nhiên, đã có những thuyền binh đầu hàng. Nhờ đám hàng binh nầy, quân Đại Việt mau chóng biết được thuyền của Chế Bồng Nga. Những máy bắn đá đặt trên bờ và những mũi tên thiện xạ đều nhắm về mục tiêu. Thuyền của Chế Bồng Nga bị dồn về một góc. Vị vua bất bại của nhà Chiêm trực tiếp cầm gươm chiến đấu. Ông đã tử thương trong lúc một khoang thuyền bị đốt cháy. Đó là ngày thứ tư của cuộc chiến. Quân Chiêm Thành tan rã. Quân Đại Việt thu thập hàng binh, khi mặt trời còn đỏ hồng ở đằng xa. Người ta không để ý đến toán quân nhỏ ở hạ nguồn sông Hồng đã chạy thoát, trong đó có phó tướng La Ngai.

      Trong khi quân Đại Việt chiến thắng ở Đại Hoàng, thì Phạm Sư Ôn đã rút khỏi Thăng Long. Như đã hứa, đạo quân “Bồ Tát” nầy không đập phá hoàng thành. Mục đích gây tiếng vang đã được. Họ chỉ cướp lương thực và vàng bạc về phân phối cho người nghèo đói. Dĩ nhiên là có cuộc khao quân ở  bản doanh Quảng Oai. Trong đêm no say rượu thịt ấy thì bị tấn công. Lộ quân trừ bị Thánh Dực của Hoàng Phụng Thế đang án binh tại cửa đông Thăng Long tiến lên tập kích. Phạm Sư Ôn, Nguyễn Tông Mại, Nguyễn Khả Hành đều bị bắt trong lúc tình huynh đệ đang nồng nàn như hơi rượu. Khi lộ quân Kim Ngô của Trần thế Đăng đưa hai vua hồi loan, thì bọn Phạm Sư Ôn đã là những tên tù, và bị xử chém. Tuy nhiên, đây không phải là mục tiêu của Lê Quý Ly. Qua vụ án giặc “Bồ Tát”, ông tìm ra một điều khác: Vương gia Trần Nhật Chương là người đứng sau lưng Phạm Sư Ôn. Điều nầy Lê Quý Ly chưa trình cho thượng hoàng biết.

      Đối với thượng hoàng Nghệ Tông hai chiến thắng vừa rồi quả là diễm phúc cho đất nước. Dù giặc “Bồ Tát” không đập phá đền đài cung điện, nhưng chúng là giặc cướp. Diệt được chúng sẽ an lòng dân. Dẹp được giặc Chiêm Thành là một điều đáng mừng hơn nữa. Dù Chế Bồng Nga không nguy hiểm như Chu Nguyên Chương, nhưng giặc phương nam từ nay sẽ không còn lộng hành. Thượng hoàng khao thưởng binh sĩ và thăng cấp nhiều người. Long tiệp tướng quân Trần Khát Chân được thăng cấp trong dịp này. Ông trở thành Bổng thần nội vệ thượng tướng và được phong tước Vũ tiết nội hầu. Phạm Khả Vĩnh không được phong tước hầu, nhưng cũng được thăng cấp.

      Chế Bồng Nga chết, áp lực phương nam không còn, nhưng Tân Bình và Thuận Hóa lại không yên. Dân Chàm bản xứ của hai xứ sở nầy thất vọng. Từ lâu, họ vẫn âm thầm chờ đợi người anh hùng họ Chế của họ làm một điều gì đó. Trong thâm tâm những người Chàm hóa Việt đã nhiều lần quặn đau vì cố quốc. Hai thổ hào Chu Bỉnh Khuê và Phan Mãnh có ý nổi loạn. Lê Quý Ly thấy đây là vấn đề tế nhị về sắc tộc. Ông ra lịnh Hoàng Hối Khanh, Nguyễn Cảnh Chân và Đặng Tất là những quan lại sở tại chớ vội dụng binh. Đích thân ông đi Thuận Hóa và Tân Bình. Mục đích chuyến đi là xóa mờ tinh thần hoài Chiêm của người bản thổ. Ông lắng nghe những yêu sách của họ, rồi khôn khéo đưa tới một giải pháp mà họ tin rằng sẽ hợp lý. Đổi từ họ Chàm qua họ Việt là cách như là “bắt buộc” từ thời Lý, nhưng Lê Quý Ly cho áp dụng một cách linh động hơn trong thời gian nầy.

      Khi Lê Quý Ly ở Thuận Hóa thì Mẫn vương Trần Ngạc bỏ kinh thành Thăng Long trốn về trang Nam Định ở châu Hồng. Từ khi bị giáng xuống thành Mẫn Vương, cựu thái úy Trần Ngạc sống trong phập phồng. Ông thấy người cha thượng hoàng và đứa em hoàng đế không che chở cho mình được. Ông sống run sợ như một con nai bị thương mà con cọp hiền từ Lê Quý Ly đang nằm trước mũi. Rất tiếc con đường lánh nạn của Mẫn Vương không được suôn sẻ. Trang chủ trang Nam Định sợ liên lụy, nhưng không nỡ báo cáo. Ông nầy tìm cách đưa Mẫn Vương lên trại Vạn Ninh ở vùng biển đảo tây bắc. Tưởng có thể yên, nhưng trời vẫn không chìu lòng người. Uy lực của kẻ quyền thần Lê Quý Ly lên tận vùng địa đầu nầy. Trại chủ Vạn Ninh từ chối lời yêu cầu của Mẫn Vương, không cho kẻ sa cơ họ Trần trú ngụ. Không còn nỗi đau nào hơn cho người hoàng tử mạc vận. Từng gian nan, từng nguy hiểm quấn quýt bên ông. Ông lang thang cơ cực để rồi bị chết dưới tay của Nguyễn Nhân Liệt thuộc hạ của Nguyễn Cẩn. Đó là một ngày mùa đông năm 1393, sau 5 năm vụ án giết chết phế đế Trần Đế Hiện.

      Mẫn vương Trần Ngạc bị giết không nằm trong kế hoạch của Lê Qúy Ly, mà người được nhắm tới là tôn thất uy tín Trần Nhật Chương. Sau khi Phạm Sư Ôn bị bắt, có rất nhiều tù binh khai ra rằng đội quân “Bồ Tát” đã nhiều lần nhận lương thực từ vị tôn thất đáng kính nầy. Thượng hoàng Trần Nghệ Tông không hề kiểm chứng tin đưa ra là thật hay giả, ông đã ra lịnh giam người em họ của mình. Trần Nhật Chương chết một cách mờ ám ở trong tù, sau khi người con Trần Nhật Đôn chạy thoát.

      Đã nhẹ nhàng diệt được Trần Nhật Chương, Lê Quý Ly đẩy mạnh các chính sách đem lại công bằng cho dân nghèo. Hạn nô: các vương thân quý tộc phải giảm người phục dịch tôi tớ đến mức tối đa. Hạn điền: ruộng đất mênh mông của họ được gọi là thái ấp phải phân chia cho nô dịch mới được giải phóng. Giới tu sĩ trẻ núp bóng nhà chùa để tránh sưu thuế và quân dịch đều bị sung vào quân ngũ. Đây là những cải cách rất lớn đã thực hiện từ trước nhưng đến khi diệt được những vương thân có máu mặt mới đẩy mạnh. Dĩ nhiên là Lê Quý Ly đứng dưới danh nghĩa thượng hoàng Trần Nghệ Tông để ban hành. Trong lúc nầy Lê Quý Ly soạn sách Minh Đạo gồm 14 thiên. Minh Đạo hàm ý là con đường sáng, mà theo đó cần phải sửa đổi rất nhiều trong cách trị quốc của Khổng Tử. Điều nầy bị phản đối dữ dội của lớp sĩ phu đương thời. Bị ảnh hưởng văn hóa Tàu quá lâu, hầu hết lớp sĩ phu đều trở thành một bọn hủ nho. Điều mà Khổng Tử dạy trong tứ thư ngũ kinh không thể nào có thể thay đổi trong đầu óc họ. Đoàn Xuân Lôi, thầy phụ giảng ở trường quốc tử giám là người phản đối mạnh nhất.

      Có lẽ ở vào một thời điểm quá sớm để muốn thay đổi, nên sách Minh Đạo không thành công. Nhưng, phải nói đây là một ý tưởng khai phá của con người họ Lê. Và, cũng chính ý tưởng nầy đã làm Lê Quý Ly không nhờn tay đi những bước kế tiếp.

      Từ những việc làm cách mạng nêu trên của Lê Qúy Ly, cánh bảo hoàng thấy thiệt thòi quá nhiều. Chưởng quân ty Trần Nguyên Uyên diện kiến thượng hoàng Nghệ Tông, tìm cách chận đứng những bước chân của vị quan Bình chương sự nầy. Nguyên Uyên thu thập những bằng chứng chỉ ra rằng Lê Quý Ly muốn cuớp ngôi nhà Trần. Việc làm nầy cũng không giải quyết được gì vì thượng hoàng Nghệ Tông đã cao tuổi và quá lệ thuộc vào Lê Qúy Ly. Ông chỉ làm được một việc duy nhất là sai họa sĩ vẽ tranh tứ phụ tặng người em họ ngoại nầy. Ông hy vọng gương phò ấu chúa của Chu Nguyên Đán, Hoắc Quang, Gia Cát Lượng và Tô Hiến Thành sẽ khơi dậy lòng trung quân của Quý Ly. Dĩ nhiên điều này chỉ phản ứng ngược. Họ Lê vào nội cung để lạy tạ ban tranh, và để nghe thượng hoàng “vui miệng” nói về người tố cáo mình: Trần Nguyên Uyên.

      Ban tặng tranh tứ phụ tháng hai, dự hội thề Đồng Cổ tháng tư là hai việc làm sau cùng của hoàng thượng Nghệ Tông làm được trong lúc cuối đời. Sau đó ông lâm bệnh kéo dài hơn sáu tháng. Trung tuần tháng 12 năm 1394, thượng hoàng Trần Nghệ Tông hấp hối. Lúc nầy trời Thăng Long có những cơn buốt giá kéo dài. Như chiếc đèn cạn dầu, thượng hoàng trối trăng cho Quý Ly những lời không thù hận: “Quan gia còn nhỏ dại và không có tài đức. Nếu sau nầy đất nước cần, thì khanh đừng e ngại hãy nhận lấy ngôi vua mà gánh giang san”. Lê Quý Ly khóc. Chắc có những giọt nước mắt ân tình. Dù có gian thần đi chăng nữa, Lê Qúy Ly cũng không thể quên được 10 năm đầu tiên, mà vị Cung Định vương Trần Phủ hiền từ nầy đã dành cho ông. Lê Quý Ly dập đầu xin hứa sẽ phò ấu chúa cho trọn tình vua tôi, chẳng khi nào sinh lòng dạ khác. Đó là câu nói ân huệ cho Nghệ Tông yên nghỉ nơi suối vàng. Buổi chiều cùng ngày, ngày 15 tháng 12 năm 1394,  người thượng hoàng 73 tuổi nầy băng hà.

      Cái chết của thượng hoàng Trần Nghệ Tông cứa thêm vào cái dây đại thống của nhà Trần cho đến gần đứt. Qua đầu năm 1395 vua Thuận Tông sắc phong Lê Quý Ly thành Nhập nội phụ chính thái sư bình chương quân quốc trọng sự. Từ đây người ta gọi ông là thái sư, và mọi việc chính sự đều do ông quyết định. Vua Trần Thuận Tông chỉ có một việc duy nhất: Học. Nhà vua phải nghiền ngẫm từng câu trong cuốn Minh Đạo mà vị thượng phụ vừa soạn. Đó là chưa kể thời gian chính phải miệt mài với thái bảo Trần Nguyên Hàng từng thiên trong Tứ Thư Ngũ Kinh. Có chút thì giờ rảnh rổi vua lo chăm sóc cho hoàng hậu. Lúc nầy hai người đã 16 tuổi, và bao giờ cũng là những đứa con ngoan và học trò chăm chỉ của thái sư. Chỉ những lúc lễ lạc người ta mới thấy sự xuất hiện của hai người. Đó là cặp trai tài gái sắc nhân ái làm cho người ta quên bẵng chuyện chiến tranh và thù hận. Vua Trần Thuận Tông nho nhã giống cha, nhẹ nhàng từng cử chỉ trong chiếc hoàng bào. Ai cũng bảo đó là vị vua hiền. Hoàng hậu Khâm Thánh, nàng Thánh Ngâu của sáu năm về trước đã đầy đặn từng phần và mang nét thanh mai của người mẹ Huy Ninh.

      Sau khi thượng hoàng Nghệ Tông chết thì có những cuộc khởi nghĩa nhỏ. Họ là những người bất mãn với Lê Quý Ly, và trỗi dậy như những đám giặc cỏ. Họ bị quân triều đình truy đuổi, có người chạy qua Ai Lao, có người chạy về tây bắc. Ở thế cùng đường, những nhóm quân rời rạc nầy nhờ quân biên phòng nhà Minh che chở. Họ trở thành một lực lượng “Việt Gian” bất đắc dĩ chống triều đình nhà Trần. Lê Quý Ly phái những thuộc tướng thân cận khôn ngoan tránh bức dây động rừng đi tiêu diệt. Hoàng Hối Khanh, Đặng Tất từ Thuận Hóa được điều ra. Hồ Cương, một thân tộc ở Đại Lại mà Quý Ly mới tìm được cũng có mặt. Cuộc tiểu trừ kéo dài dai dẳng khi thoát khi hiện, nhưng cuối cùng quân phản loạn cũng bị tan rã vào cuối năm 1396. Các thủ lãnh Nguyễn Đỉnh, Nguyễn Động, Hoàng Khoan đều bị giết. Riêng Nguyễn Khang kéo được một số binh sĩ chạy thoát được qua biên giới Việt – Tàu.

      Những biến loạn ở biên giới nầy không dính gì tới hoàng thân Trần Nguyên Uyên, nhưng ông bị cột vào. Việc ông tố cáo Lê Qúy Ly phản Trần trước đây đã làm ông mang nợ. Không thể nào lật lại lịch sử để biết là có hay không có. Nhưng, triều đình Thuận Tông đã kết tội Phủ quân ty Trần Nguyên Uyên đã gian thông với quân Minh qua đám loạn giặc biên giới. Trần Nguyên Uyên bị xử chết và vĩnh viễn xóa tên trong hệ phả Trần hoàng tộc như Trần Ích Tắc của hơn 100 năm trước. Trần Nguyên Dận con trai của vương thân già nua Trần Sư Hiền nhẹ tội hơn. Dận chỉ bị chết. Cái chết của hoàng thân Uyên và hoàng thân Dận như là cái tát cuối cùng vào tôn thất nhà Trần. Con cháu của Trần Hưng Đạo, con cháu của Trần Quang Khải, con cháu của Trần Nhật Duật như đã chết hết rồi. Lê Quý Ly đã lấy vua nhà Trần để giết tôn thất nhà Trần là điều đang xảy ra. Có còn không một sự đứng dậy? Có còn không một phản kháng của lớp hậu duệ nhà Trần? Điều nầy đang cắn xé tâm can của hai vị tôn thất còn có tiếng nói đương thời: Thái bảo Trần Nguyên Hàng và thượng tướng Trần Khát Chân.

      Trần Nguyên Hàng là vị thân vương học rộng. Ông không quá “mềm” như Trần Nguyên Đán để tìm cách đi ở ẩn. Ông cũng không quá “cứng” như Trần Nguyên Chương để bị khép tội dính líu đến Phạm Sư Ôn mà phải chết. Ông không quá tin tưởng Nghệ Tông như Trần Nguyên Uyên để tố cáo Quý Ly mà gánh cái chết oan uổng. Ông từ tốn trọng người trọng mình để Lê Quý Ly giữ yên ông dạy sách thánh hiền. Ông dạy Đế Hiện, ông dạy Thuận Tông. Ông đau lòng theo nhà Trần nghiêng ngã nhưng ông đã tập quên để dạy hai vị vua trẻ trở thành những người can trường. Ông nghĩ chỉ có những vị quân vương đảm lược mới diệt được gian thần. Ông đem những tấm gương của tổ tiên để khơi dậy tinh thần tự lập, óc tổ chức, nghệ thuật lãnh đạo. Rất tiếc hai nhà vua trẻ nầy bị quấn những lớp dây mà tự mình không gỡ ra được. Những kỳ vọng của thái bảo Nguyên Hàng cũng theo đó mà thành mây khói.

        Trần Khát Chân thuộc lớp trẻ hơn thái bảo Trần Nguyên Hàng, và là một võ tướng. ông chưa hẳn được gọi là hoàng thất. Ông chỉ là cháu 6 đời của Bảo Nghĩa vương Trần Bình Trọng. Quê ông ở Thanh Hoa và sớm giỏi binh pháp và võ nghệ. Lê Quý Ly phát hiện tài năng của ông khi ông còn là phó quản lĩnh đạo quân Long Tiệp. Vì cùng quê và có tài nên ông được quan Bình chương họ Lê đặc biệt nâng đỡ. Trận đánh Hải Triều năm 1390, chính Lê Quý Ly cất nhắc ông lên làm tướng tổng chỉ huy. Sau chiến thắng, ông được hoàng thượng Nghệ Tông phong tước hầu và cấp đất ở Kẻ Mơ. Do đó đối với Quý Ly, Trần Khát Chân mang một ân tình tri ngộ. Ông sinh năm 1370, vốn còn rất trẻ nhưng đã trở thành người bạn thân của Lê Nguyên Trừng, con đầu của Lê Qúy Ly lớn hơn ông tới 15 tuổi.

      Trần Nguyên Hàng và Trần Khát Chân đều ưu tư về nỗi nghiêng ngả của nhà Trần, nhưng chưa bao giờ nói cái gan ruột của mình cho nhau nghe. Hai người họ đều nghĩ người kia chịu ân sủng của Lê Quý Ly. Mà hay thay, một người không phải họ Trần đã có cái duyên kết nối họ lại: Phạm Khả Vĩnh. Vị xa kỵ vệ tướng quân nầy có một thời là nội nhân của vương thân Nguyên Hàng, và trong trận Hải Triều 1390 là phó tướng của Trần Khắc Chân. Nhờ duyên do ấy họ thân nhau, và ba người họ âm thầm tìm những người đồng chí. Mục đích duy nhất: Diệt quyền thần. Trong dịp nầy họ biết được Lê Quý Ly thực ra là họ Hồ.

      Cái gì Lê Quý Ly cũng biết, nhưng sự kết nối giữa ba người trên Lê Quý Ly không biết. Ông vẫn song song tiến hành 3 bước mà ông đã định sẵn.

      Thứ nhất: Đổi tiền đồng ra tiền giấy. Việc nầy có mục đích để dễ dàng giao thương, và lấy đồng đi rèn vũ khí. Nó sẽ có lợi về lâu dài, nhưng dân chúng chưa quen nên bị than oán nhiều hơn là tuân hành. Do vậy Lê Quý Ly không triệt để áp dụng, người ta có thể dùng hai loại tiền cùng một lúc. Họ Hồ khuyến khích tiêu dùng tiền giấy bằng cách nâng giá trị của nó lên cao hơn giá trị thực. Ví dụ: Mua một kí gạo trả 5 quan tiền đồng nhưng nếu trả tiền giấy cũng chỉ phải trả 5 quan, trong khi giá trị thực một quan tiền đồng đổi ra được một quan hai tiền giấy. Việc đóng thuế, việc sang nhượng, việc trả lương cũng được khuyến khích tương tự. Điều nầy nói được Lê Quý Ly có óc tiến bộ. Ông là người đầu tiên cho lưu hành tiền giấy trong dân chúng.

      Thứ hai: Lê Quý Ly khéo léo đưa vua Trần Thuận Tông đến chỗ tự ý tu hành. Bình thường nhà vua vẫn học với thái bảo Trần Nguyên Hàng và thượng phụ Lê Quý Ly. Về sau họ Lê sai Nguyễn Cẩn đến giám sát, chứ không trực tiếp giảng dạy. Nhiệm vụ của Cẩn là mang những bài học bổ sung của thượng phụ cho nhà vua. Có thể nói Thuận Tông là ông vua được học nhiều nhất trong các vị vua triều Trần. Ông phải học Tứ Thư Ngũ Kinh cho thuộc nhão, học Minh Đạo cho thuộc lòng. Ngoài ra, ông còn phải học Hoa Nghiêm kinh, Kim Cang kinh do Nguyễn Cẩn mang tới. Tất cả kinh sách kia ông đều tìm thấy ưu việt của chúng, nhưng sự miệt mài quá đỗi làm ông bơ phờ. Và, trên hết là ông chán cảnh cá chậu chim lồng. Ông đã hiểu ra rằng người ta đang giam ông trong mớ chữ nghĩa hay ho ấy, để làm một ông vua bù nhìn.

      Vua Thuận Tông không được quyết định bất cứ một điều gì, ngay đến cái thời khóa biểu để gặp hoàng hậu của ông. Lịch trình ông đi chơi với hoàng hậu khi nào và ở đâu đều do một người nào đó sắp xếp. Ông cưới vợ năm 11 tuổi nhưng mãi tới năm 16 tuổi, thượng phụ Quý Ly mới cho ông và hoàng hậu làm lễ hợp cẩn. Năm sau, năm 1396 khi hai người đều 17 tuổi, họ có đứa con trai đầu lòng. Thượng phụ Quý Ly lập tức cho nó làm thái tử, thái tử Trần An. Từ đây, có người tin rằng vua Thuận Tông đã trưởng thành lo việc chính sự, nhưng không phải như thế. Đối với thượng phụ Quý Ly, 17 tuổi vẫn phải tiếp tục dồi mài kinh sử. Thân làm vua nhưng khi gặp thượng phụ thái sư, nhà vua chỉ là đứa học trò. Đúng lúc đó thì Nguyễn Cẩn mang đến nhà vua một luồng gió dễ chịu hơn: Tư tưởng của Lão Tử, thuận theo tự nhiên để đạt được an lạc.

      Nguyễn Cẩn đã mang đến cho nhà vua 2 phần thượng hạ của Đạo Đức Kinh và một vị đạo sĩ. Lão Giáo cũng không mới lạ gì với Đại Việt lúc bấy giờ, nhưng nhà vua tin theo mới là điều mới. Vua Thuận Tông lắng nghe đạo sư Nguyễn Khánh mà Nguyễn Cẩn giới thiệu đây là một vị thầy. Lão Giáo Thiền Tập là một cách thực hành hằng ngày. Khi ngồi thẳng lưng, nhắm hờ mắt lại, không suy nghĩ điều gì thì nhà vua cũng quên được những phiền muộn đau khổ. Nhiều ngày, nhiều tháng, bằng cách nầy ông đã quên được nhiều thứ: Thái tử Trần An, hoàng hậu Khâm Thánh, ngôi vua đều trở thành những thứ không cần thiết để nhớ.

      Người ta làm cho nhà vua một tịnh thất ở đài Hiệp Thánh có từ thời vua Dụ Tông để ông tịnh tu. Ông miệt mài tu hành và quên hết mọi sự. Trong lúc nầy người dám “phỉ nhổ” ông chỉ có một mình Lê Nguyên Trừng. Trừng đến thăm ông không phải với tư cách là một thần tử, một quan chấp pháp, một người con của thái sư Lê Quý Ly mà chỉ duy nhất là một người anh vợ. Thánh Ngâu đã kiệt sức, và thằng bé Trần An đã biết gọi cha trong tiếng khóc làm Nguyên Trừng tìm gặp Thuận Tông. Trừng thỉnh cầu nhà vua hãy trở về, nếu không hai người thân yêu nhất nầy sẽ chết. Vua Thuận Tông biết người anh vợ Lê Nguyên Trừng rất khác với người cha vợ Lê Quý Ly, nhưng ông vẫn im lặng.

      Nhà vua ở một mình, chỉ có nàng cung nhân Trần Ngọc Kiểm lo cơm nước. Cô vốn người dân dã không thân thích với bất cứ một vương thân nào. Cô nhập cung do một bà dì là cung nhân đời trước tiến cử. Vị nầy có họ hàng với thái bảo Trần Nguyên Hàng phu nhân. Đó là lý lịch của Ngọc Kiểm để Nguyễn Cẩn chọn lựa cô phục dịch nhà vua. Thời gian Ngọc Kiểm ở đài Hiệp Thánh nàng thấy được thân phận của vua Thuận Tông. Không ai dám nói nhà vua bị giam lỏng, nhưng chính nàng biết rất rõ là như thế. Nguyễn Cẩn và đạo sĩ Nguyễn Khánh đóng vai cùng là bạn đạo thường xuyên đến để kiểm soát. Trong lúc vắng mặt hai người nầy, nhà vua không dấu được nỗi buồn xa vắng. Ông nhìn xa xăm về hướng vườn thượng uyển và không nói điều gì. Ngọc Kiểm yên lặng ngắm nhìn nhà vua, và để yên cho lòng mình chảy tràn nỗi cảm hoài mênh mang. Nàng nhìn ánh mắt vị quân vương đang dõi theo những cánh chim bay đi, mà cảm thấy mọi thứ đều chùng xuống. Nàng muốn chạy đến ôm nhà vua để nguyện làm kẻ nô tỳ dâng hiến, nhưng lại không dám. Trong cái ước mơ cháy bỏng của mình như thế, bao giờ Ngọc Kiểm cũng thấy nhà vua lại đến chiếc bồ đoàn để ngồi thiền. Nàng ước ao có một vị thần nào đó đến mang nhà vua về ngồi lại trên ngai vàng. Uớc mơ hoang đường ấy Ngọc Kiểm chỉ dám tâm sự với người dì.

      Thứ ba: Dời đô. Đầu tháng giêng năm 1397 lại bộ thượng thư Đỗ Tỉnh nhận lịnh đến An Tôn, Thanh Hoa để đo đạt lập kinh đô mới. Nhiều người khuyên can trong đó có người thân tín Phạm Cự Luận, nhưng thái sư Lê Quý Ly không thay đổi. Ông bảo họ chỉ là bọn hủ nho chỉ biết tin rằng Thăng Long là đất linh địa chứ không biết nhìn vào thực tế. Thăng Long chỉ có lợi khi ta có một binh lực hùng mạnh để tấn công chứ không có địa thế để phòng thủ. Ngược lại. An Tôn, phía bắc có Đại Lại, phía tây có Trác Phong,  phía nam có Đốn Sơn để dựa lưng. Xa xa ở triền đông có Xuân Đài và Ngưu Ngọa như những thớt voi nằm phủ phục. Chúng sẽ là hai tiền đồn mặt đông. Dòng sông Mã và sông Bưởi nếu biết khai thác sẽ tha hồ đưa thuyền bè ra vào biển Đông. Ta không hèn chỉ biết rút cổ để thủ thành, nhưng đối với giặc Minh  thì ta cần một thủ đô vững chắc mới thắng được giặc.

      Cái nhìn của Lê Quý Ly rất thực tế, nhưng tất cả tôn thất nhà Trần, nho sĩ, và lê dân ta thán. Nó đòi hỏi sức người và quốc khố không hề ít. Quả, Lê Qúy Ly là người cứng rắn. Ông không nản lòng. Ông xin vua Trần Thuận Tông ban chiếu chỉ. Theo đó, tất cả các vương thân tôn thất, tướng quân, doanh gia ở Thăng Long đều phải đến An Tôn để nhận đất xây nhà. Dĩ nhiên có cả chùa chiền, trường học và chợ búa. Quân đội các lộ, nhân dân các động, các làng đều phải sung công để đắp đường, xây thành. Mọi việc phải hoàn tất trong vòng 10 tháng. Chiếu chỉ được ban ra do chính hoàng thượng Thuận Tông ấn ký, nhưng ông đang ngồi thiền tu tiên ở đài Hiệp Thánh.

      Mùa xuân năm 1397 là một mùa xuân tuyệt vời cho những người nô lệ được giải phóng trong chiến dịch hạn nô. Rất nhiều người  trở về quê, nhưng không có việc làm phải đi ăn xin. Bây giờ họ là đạo quân được sung vào quân đội để chuyên chở và xây dựng kinh đô mới. Họ được lãnh lương và được cấp đất xung quanh An Tôn. Không biết ai đã đặt An Tôn là Tây Đô, nhưng cả một vùng rộng lớn nầy trở nên vô cùng nhộn nhịp. Người ta lấy đá tảng từ núi Đốn, núi Trác Phong. Lấy gạch từ Bồ Bát, Trường Yên. Lấy gỗ từ những xa xôi nam bắc: Hoàng Liên Sơn, Ba Vì, Thần Đinh, Bạch Mã. Nhiều con đường mới lập để đưa các thứ nầy về An Tôn. Thợ đá, thợ gạch, thợ gỗ và nhân công nhiều vô kể. Không ai tính chính xác là bao nhiêu, nhưng có thể nói mỗi một thước vuông đất có một nhân công xây dựng. Ở phía ngoài là nhà dân, nhà lính, dinh thự quan tướng, chùa chiền và trường học mọc lên. Tại trung tâm, chưa tới một năm, người ta đã xây lưng chừng một bờ tường đá hình vuông với chu vi gần 2 cây số. Nó có 4 cửa đông tây nam bắc hình vòm, mà cửa nam là cửa chính. Trong khuôn viên một phần tư cây số vuông nầy đang xây điện Tập Hiền, cung Bảo Thánh và nội điện Minh Đạo.

      Hầu hết nhà cửa dinh thự từ ngoài thành đến trong thành đều chưa hoàn tất. Những con đường thẳng chỉ kịp cắt nhau ở một vài đoạn chứ chưa kịp kéo dài. Những hồ nước và những vườn cây rất nhiều hứa hẹn chưa được gọt dũa. Từ cửa thành nam, một con đường lát đá dài ba cây số chạy về chân núi Đốn chưa xong. Tư dinh thượng tướng Trần Khát Chân ở trên con đường chênh chếch ấy cũng còn bề bộn. Nhưng, đã tới ngày mà chiếu chỉ của quân vương được ban ra. Ngày 15 tháng 11 năm 1397, lịnh dời đô được thi hành. Quân tướng, xe mã, dân chúng, vương thân tiếp tục kéo về Tây Đô. Dĩ nhiên vua Thuận Tông vẫn đi theo và vẫn đi tu. Người ta đã xây sẵn cung Bảo Thanh để nhà vua tiện việc tu hành. Qua tin tức từ người dì của cung nhân Ngọc Kiểm thì vua Thuận Tông còn tỉnh táo, nhưng Nguyễn Cẩn vừa thay một cung nhân mới. Người cung nhân mới nầy không thể liên lạc được. Từ khi đưa vua Thuận Tông về Tây Đô, mọi tin tức an nguy của nhà vua đều bị bịt kín.

      Sợ rằng nhà vua gặp nguy hiểm, Trần Khát Chân gấp rút liên lạc với những người đồng chí. Ngoài Trần Nguyên Hàng và Phạm Khả Vĩnh là hai vị tiên khởi, Trần Khát Chân đã có những bạn đồng chí: Hà Đức Lân, Hành khiển môn hạ tả ty. Lương Nguyên Bưu, Hành khiển tri đại tông chính. Trần Nhật Đôn, người đã chạy trốn khi người cha Trần Nhật Chương bị bắt. Phạm Tổ Thu và Phạm Ngưu Tất là học trò của lão sư Nguyễn Sư Tề, được Nguyễn Đa Phương đem về làm quan quản lĩnh. Hai người nầy chưa kịp được giới thiệu với vị sư huynh đồng môn Lê Quý Ly thì Nguyễn Đa Phương đã bị giết. Họ nuôi chí phục thù khi sư phụ Nguyễn Sư Tề phải giải tán lò võ và bỏ trốn. Qua hai vị quản lĩnh họ Phạm, Trần Khát Chân còn có thêm Vương Nhữ Cái, người lãnh tụ khởi nghĩa Đà Giang sau khi Đế Hiện bị giết năm xưa. Họ Vương đã giúp đắc lực cho tướng Trần Khát Chân. Chính ông và những nghĩa quân lưu lạc đã trà trộn vào hàng ngũ nhân công xây dựng hoàng thành mới.

      Với tình hình như thế, có hai kế hoạch được đặt ra. Thứ nhất: Tấn công Tây Đô. Kế hoạch nầy gặp khó khăn là tướng Trần Khắc Chân không thể tự ý điều động hai lộ quân có cảm tình Long Tiệp và Phiêu Kỵ về Tây Đô. Mười đạo quân còn lại hầu hết do người tin cẩn của Lê Quý Ly nắm giữ và trải đều khắp lãnh thổ. Thứ hai: Ám sát. Kế hoạch này phải đối mặt với đội quân cẩm vệ hơn 100 người do đại võ sĩ Hồ Cương chỉ huy. Thái sư Lê Qúy Ly luôn ở trong cung cấm có những bảo vệ trung thành và giỏi võ. Bản thân ông ta cũng có 10 năm rèn luyện ở lò võ Nguyễn Sư Tề.

      Tùy theo thời cơ, một trong hai kế hoạch nầy được chọn, và thời gian cứ trôi qua. Công trình xây cất trong và ngoài hoàng cung vẫn bình thường tiếp tục. Dinh của thượng tướng Trần Khát Chân cố kéo dài thời gian hoàn thành để có cớ tụ họp của nhóm công nhân hội kín. Cơ hội của nhóm nầy chưa đến, thì tháng 3 năm 1398 họ hay tin vua Thuận Tông thoái vị. Đạo sĩ Nguyễn Khánh xin nhà vua nhường ngôi để tiện việc chuyên tu. Vua Thuận Tông bằng lòng. Thái tử Trần An lên ngôi mới 3 tuổi tức vua Trần Thiếu Đế. Và, dĩ nhiên thái sư Lê Quý Ly là nhiếp chính đại thần.

      Vua Thiếu Đế làm vua chưa được bao lâu, thì lập quán Ngọc Thanh ở làng Đạm Thuỷ để mời thượng hoàng đến tịnh tu. Khi rời hoàng cung về Đạm Thuỷ, thượng hoàng không vui không buồn. Lúc nầy ông mới 21 tuổi. Ông mặc bộ đồ trắng của đạo sĩ ra đi. Ông mơ hồ nghĩ đến vua Lý Huệ Tông về chùa Chân Giáo của gần 200 trước, nhưng lòng bỗng khoan hòa. Mai nầy, ta có thế nào đi chăng nữa cũng sẽ thành quá khứ. Dòng đời cứ chảy, thì buồn vui chết sống chỉ là những gợn nhỏ trong dòng luân lưu bất tận nầy. Chẳng có là gì. Có lẽ đây chỉ là nghiệp quả tương đồng của một dòng họ. Hãy để tự nhiên, không phải đạo sĩ Nguyễn Khánh đã nhiều lần nói với ta điều nầy hay sao? Phế hưng là chuyện của lịch sử muôn đời. Thượng hoàng Trần Thuận Tông an tĩnh và trầm lặng như người đạt đạo.

      Mãi một tuần trăng sau, điều mà vị thượng hoàng trẻ nhất trong lịch sử chờ đợi mới đến. Ông bình thản uống chén thuốc độc do Nguyễn Cẩn dâng lên. Nguyễn Cẩn quỳ mọp dưới chân vị quân vương, và có những giọt nước mắt không hận thù. Đó là một ngày của tháng 4 năm kỷ mão 1399.

      Tin thượng hoàng Trần Thuận Tông chết làm một người khóc suốt ngày đêm đến nỗi hóa khờ, và một người mãi miết bần thần như say như tỉnh. Đó là hoàng thái hậu Thánh Ngâu và quan chấp pháp Lê Nguyên Trừng. Cả hai người họ đều ở trong vòng xoáy cuồng nộ quyền lực, và họ như là một phần không thể tách ra, không thể đối kháng. Trong khi đó có những người khóc âm thầm và tỉnh táo thì quyết định ra tay. Trần Khát Chân tin vào thời điểm thuận tiện, tin và vào sự sắp xếp của Vương Nhữ Cái, tin vào võ nghệ của Phạm Tổ Thu và Phạm Ngưu Tất. Một cuộc hành thích được thi hành.

        Đó là những ngày đầu tháng tư âm lịch năm kỷ mão rơi vào giữa tháng 5 năm 1399, Tây Đô tưng bừng diễn ra ngày hội: Khánh thành kinh đô mới và hội thề Đốn Sơn. Kinh đô dời về đây đã mười tám tháng, nhưng mọi xây dựng chưa xong và dân chúng còn thưa thớt nên chưa được khánh thành. Nhân muốn lập một hội thề trung thành với nhà vua, và Tây Đô hoàn chỉnh hơn, thái sư chọn lúc nầy để ra mắt thủ đô với thần dân cả nước. Dân chúng được vui chơi ba ngày. Người ta nói đây là lễ lớn nhất trong lịch sử của Thanh Hoa. Làm sao không lớn cho được. Kinh đô của nhà Trần đã dời về quê hương của thái sư Lê Quý Ly, và cũng là quê hương của thượng tướng Trần Khát Chân. Dân chúng, sĩ tử từ các nơi đã tụ tập về ở ngoại thành từ nhiều ngày trước. Ngày đêm đều rực rỡ. Cung điện phía trong, nhà cửa phía ngoài đều có thể thấy một con kiến vào ban đêm. Nhà trọ, hàng quán, người ăn xin và những ông thầy bói tha hồ hốt bạc. Lê Nguyên Trừng, từ mấy tháng trước, đã thừa lệnh thái sư sức các quan phủ  phía nam Thăng Long mời nho sĩ khắp nơi tụ về. Lê Hán Thương được phong làm Trấn phủ sứ Thăng Long, và cũng có nhiệm vụ như người anh Lê Nguyên Trừng, nhưng ở mặt bắc. Tất cả hàng quan lại, công tử, tiểu thư, nho gia và sĩ tử đều được khuyến khích làm phú, thơ, văn để về dự hội luận ở kinh đô mới. Trong những lều quán khắp các con đường, bọn công tử học trò vừa uống rượu vừa đọc thơ, đọc phú. Họ chỉnh sửa hoặc nhuận sắc cho nhau để tìm một bài đại diện cho nhóm của mình. Rượu và thơ văn bồng bềnh từ khi mặt trời mới lên đến lúc nửa đêm. Thật là những ngày vui khó quên.

      Cái rộn rã kéo dài trước ngày lễ đã chín muồi. Hôm nay là ngày chánh lễ. Cổng chính phía nam mở rộng và dân chúng nô nức ở phía ngoài. Họ đứng nhìn những người đại diện cho đơn vị cấp châu cấp phủ của mình đang di chuyển vào trong nội thành. Quan lại, nho gia, sĩ tử được chọn lọc vào cung Minh Đạo đi theo hai hàng tả hữu. Họ yên lặng bước trên đường gạch Bồ Bát màu nâu đỏ. Bên cạnh họ là bờ tường đá. Người ta không tưởng được sức người bao nhiêu, mà đã mang về hàng ngàn tảng đá to đùng rồi chồng lên nhau. Chỉ chưa đầy hai năm, chúng đã trở thành một bờ tường chu vi vuông vức đến hai cây số. Chiều cao của nó phải ngước mắt lên mới thấy hết, và chiều rộng thì có người đo thử đã tới ba gang tay. Trong vòng tường ấy còn ngổn ngang nhiều thứ chưa xong, nhưng cung Minh Đạo thì đã hoàn tất.

      Hai con rồng đá tinh xảo chào mừng mọi người trước khi bước ba bậc thang lên một hành lang. Hành lang nầy chia làm ba ngả, và ngả chính giữa đi thẳng đến một hội trường rộng. Ở đó, chiếu hoa được trải đầy, và không có một chiếc ghế nào. Nó nối tiếp với một khán đài cao hơn khoảng 3 gang tay có thảm màu đỏ. Trên đó là ngai vàng của hoàng đế màu vàng và những chiếc ghế sau lưng màu nâu đen. Quanh tường là những câu liễn cũng màu nâu như thế. Không ai biết phía sau lưng hội trường nầy bày biện như thế nào, nhưng ở đây rất đơn giản chẳng ra vẻ cung đình như ở Thăng Long. Thái bảo Nguyên Hàng là người sắp xếp lễ lạc cho hai ngày đại hội. Ông cho mọi người qùy xuống để cung đón nhà vua từ phía sau hậu điện đi ra. Thiếu Đế mới 5 tuổi nhưng cũng uy nghi trong áo mão hoàng đế, được mẹ đi theo sau đỡ lên ngai vàng. Thái bảo Trần Nguyên Hàng hô vạn tuế và mọi người hô vạn tuế tiếp theo.

      Khi thần dân phía dưới lạy, nhà vua quên không biết mình phải làm gì. Ông nhìn mẹ, nhưng hình như thái hậu Khâm Thánh lơ đãng nhìn đi đâu, thì được ông ngoại ra dấu ngồi im. Đó là phần xuất hiện của vua Thiếu Đế trong vai chủ tọa. Phần còn lại do thái sư chủ trì. Lê Quý Ly cố tình hòa đồng với mọi người, trong thực tâm ông cũng muốn như thế. Ông nói sơ qua về cách cấu trúc và ước vọng Tây Đô. Cử tọa đều biểu đồng tình với ông khi đã thấy một phần nào thành công. Sau đó là phần hội luận, ông khuyến khích mọi người đặt câu hỏi và phát biểu tự do. Sĩ tử, nho gia được dịp gởi gắm tâm sự của mình qua hồn thơ hồn phú, và được nhiều người đón nhận. Nhà vua đã được mẹ dẫn đi tự lúc nào mà nhiều người không hề hay. Thái sư Lê Quý Ly đang chủ trì. Ông thật sự cảm thấy thành công, khi Đoàn Xuân Lôi không còn bài xích Minh Đạo như trước. Nguyễn Nhữ Thuyết, người chống đối dời đô kịch liệt cũng nhận ra rằng mình chưa nghĩ kỹ. Bên cạnh đó thái sư họ Lê cũng phát hiện ra một nhân tài hiếm có: Nguyễn Trãi. Đó là một người trẻ tuổi, thoạt trông đã thấy điềm đạm và thông thái. Anh theo cha là tiến sĩ Nguyễn Ứng Long đến phó hội. Người thanh niên 19 tuổi nầy như học hỏi hết được cái tài ba của cha và cái uyên bác của ông ngoại Trần Nguyên Đán.

      Đó là ngày thứ nhất. Người ta chuẩn bị cho ngày thứ hai: ngày hội thề. Thái sư Lê Quý Ly chọn chân núi Đốn để đặt đàn thề. Tại đây chỉ cách cửa nam chưa đầy 3 cây số. Những lúc trời trong, người ta có thể nhìn khắp hết vùng lân cận của Tây Đô. Chiều nay, lộ quân Thần Dực của Vương Khả Tuân đã cắt thêm một đại đội lên giữ an ninh ở núi Đốn. Thần Dực đã được chuyển về đây từ ngày khởi công xây Tây Đô, nên thuộc hết địa thế trong vùng. Trong những ngày lễ hội họ trải mỏng khắp An Tôn chứ không có đơn vị nào khác. Thái sư Lê Quý Ly không muốn có nhiều quân đội trong ngày lễ. Để bảo vệ nhà vua và triều đình, chỉ có đội quân cẩm vệ 100 người của Hồ Cương. Hầu như người ta không thấy bóng dáng những người lính mang gươm giáo trong những lều quán vui chơi của dân chúng.

      Cũng trong chiều hôm ấy thì quan tri xứ An Tôn đã duyệt lại đàn thề để trình thái sư Lê Quý Ly. Với ý chỉ đơn giản thì đàn thề chỉ là một đài cao hơn mặt đất vừa tầm tay có tam cấp ở một bên để đi lên. Đài rộng 100 thước vuông và xung quanh có một hàng gỗ thấp. Thảm đỏ được trải đều và ngai vàng của nhà vua đặt ở giữa. Tại đây nhà vua có thể thấy hết xung quanh,  Ông sẽ nhìn về phía truớc để chứng kiến vương thân quan lại văn võ lạy thề và uống rượu thề. Ngày mai, vương quyền nhà Trần sẽ có hội thề đầu tiên ở một nơi mà không phải Thăng Long. Nó cũng giống như hội thề Đồng Cổ có từ thời vua Lý Thái Tông sau loạn Tam Vương. Các vương thân, quan tướng văn võ lập đàn thề trung thành với nhà vua. Nay, kinh đô đã dời về Tây Đô, thái sư chọn đàn thề ở núi Đốn thay vì làng Yên Thái như trước. Tên gọi cũng được đổi từ đây. Không còn gọi hội thề Đồng Cổ mà gọi hội thề Đốn Sơn.

      Sáng ngày hôm sau, ngày 4 tháng 4 âm lịch. Trời rất trong. Từ cung Minh Đạo, đội lễ nhạc đi trước, một toán nhỏ quân binh cẩm vệ mang gươm chia thành hai hàng đi theo sau. Tiếp đến kiệu của nhà vua và kiệu của thái hậu Khâm Thánh. Sau đó là các vương thân dùng ngựa đi theo. Người ta thấy có vương thân 70 tuổi Trần Sư Hiền, thái bảo Trần Nguyên Hàng, Giản Định vương Trần Ngỗi và Vũ Tiết nội hầu Trần Khát Chân. Sau hàng vương thân mới đến hàng quan lại, và thái sư Lê Qúy Ly ở trong hàng nầy. Ở đằng sau, Lê Quý Ly nhìn thấy hết tất cả phía trước. Ông thấy xa xa hai bên đường dân chúng đứng đón mừng và rất nhiều người tự ý sụp lạy. Đó là sự sùng kính không cần thiết cần phải sửa đổi, điều mà ông đã viết trong thiên Dân Trí của Minh Đạo.

      Khi mặt trời còn hừng đỏ ở phương đông thì vua Thiếu Đế đã đến đàn thề. Trong lúc các thị nữ chăm sóc áo mão cho nhà vua, thì các vương thân và quan văn võ đang sắp hàng trước sân đài. Ở đó cũng là một sàn gỗ rộng trải cói ngay ngắn. Người ta đã chuẩn bị rượu và người dâng rượu cho mỗi vị quan sau khi lạy nhà vua. Theo chương trình mọi người sẽ qùy nghiêm trang trước đàn và rước ấu vương lên an vị. Thái bảo Nguyên Hàng đứng góc trái nói về ý nghĩa và sự quan trọng của đàn thề. Sau đó từng hai người một sẽ lên đọc lời nguyện trung thành, lạy nhà vua và uống rượu thề. Sẽ có hai người trong ban lễ đàn phụ trách dâng rượu. Cuối cùng là chỉ dụ của nhà vua sẽ được thái sư Lê Quý Ly thay mặt ban bố.

      Theo tục lệ từ xưa của hội thề Đồng Cổ, thì những người cao tuổi nhất sẽ lên lễ đàn trước. Cứ mỗi hai người một song song đi lên. Điều nầy có nghĩa là vương thân Trần Sư Hiền và thái sư Lê Quý Ly là hai người đầu tiên. Hai người nầy chỉnh sửa áo mão từng bước một đi lên. Không khí trang nghiêm và căng thẳng. Nhiều người đang theo dõi từng bước chân của Lê Quý Ly: Trần Khát Chân, Trần Nguyên Hàng, Phạm Khả Vĩnh, Lê Đức Lân, Lương Nguyên Bưu đang vận dụng trí não đến lúc nhạy bén nhất. Phạm Tổ Thu, Phạm Ngưu Tất nét mặt không hề đổi thay. Nếu ai cố ý cũng sẽ không tìm thấy một cử chỉ nào đáng ngờ của hai đàn sinh họ Phạm dâng rượu. Kế hoạch ám sát Lê Quý Ly đã đến giờ quyết định. Chờ đến lúc dâng rượu, Phạm Tổ Thu và Phạm Ngưu Tất sẽ bắt sống Lê Quý Ly bằng một thế võ chân truyền. Cơ hội trả thù cho sư huynh Nguyễn Đa Phương và thanh lý môn hộ cho sư phụ đang đến.

      Nhưng. Chỉ ít bước nữa là hai vị tôi thần cao tuổi nhất sẽ qùy xuống, thì có sự việc ngoài dự liệu xảy ra. Hoàng thái hậu Khâm Thánh từ sau bước đến trước khán đài ban lịnh miễn thề đàn cho thái phụ Trần Sư Hiền và thượng phụ Lê Quý Ly. Theo đó, thì hai vị nầy là nội thúc tổ và ngoại tổ của nhà vua nên được miễn trừ. Không còn thời gian để tìm hiểu tại sao thái hậu lại ban chỉ dụ vào giờ nầy, hai sát thủ họ Phạm không thể để mất thời cơ. Họ cùng một lúc tiến tới, nhưng Lê Quý Ly đã kịp lui ra sau chừng nửa bước. Hồ Cương, Vương Khả Tuân cùng vô số quân cấm vệ lập tức có mặt. Họ có khí giới trong tay và đằng đằng sát khí. Trần Khát Chân biết mưu sự đã bại lộ nhưng mọi việc đã quá trễ. Ông rất đau lòng. Không những đồng chí ở đây bị bắt mà ông chắc hơn trăm người đang ở tư dinh ông cũng bị lâm nạn. Họ là đạo quân tiếp ứng. Dù Trần Khát Chân, Lương Nguyên Bưu, Phạm Khả Vĩnh và hai sát thủ họ Phạm có giỏi võ nghệ đến đâu cũng phải thúc thủ.

      Dĩ nhiên là hội thề không tiếp tục và người ta dẫn bọn Trần Khát Chân về tư dinh của ông dưới chân núi. Tại đây ông thấy Vương Nhữ Cái và hơn trăm thuộc hạ đã không còn sức chiến đấu, họ bị bao vây bởi một lực lượng đông hơn nhiều lần.

      Vì sao như vậy? Từ khi có dự án xây dựng Tây Đô, Lê Quý Ly đã phối trí lại lực lượng, mà hai đạo quân Long Tiệp và Phiêu Kỵ không có tên trong danh sách về An Tôn. Đây chỉ là việc phối trí bình thường, chứ lúc nầy Lê Qúy Ly chưa hề biết một điều gì. Trần Khát Chân và Phạm Khả Vĩnh chỉ được mời về dự đàn thề một mình như bao vị tướng lãnh khác. Không có cơ hội đưa quân bản bộ về An Tôn, do đó kế hoạch ám sát được bàn tới. Muốn thực hiện kế hoạch nầy phải có người trà trộn vào đám nhân công để rõ địa thế và nắm tin tức. Thuộc hạ của Vương Nhữ Cái trong lúc sơ ý đã bị lộ. Chính trong đám người nầy đã bị tình báo viên của Nguyễn Cẩn trà trộn trở lại. Một cuộc âm thầm theo dõi và chờ cho đến lúc chín muồi ở hội đàn thề Đốn Sơn.

      Lê Nguyên Trừng là quan chấp pháp xử vụ án, nhưng người trình lên thái sư Lê Quý Ly xử chết hết bọn khởi loạn lại là Lê Hán Thương. Lê Nguyên Trừng chỉ giúp được cho người bạn trẻ 10 năm tương ngộ của mình thành toàn một nguyện vọng cuối cùng: Được xử chết ngay ở đàn thề bên chân núi Đốn. Hôm ấy trời đương chuẩn bị những cơn mưa giông đầu hạ, Trần Khát Chân hét to lên những lời nguyền của kẻ thất bại. Trận mưa chưa đến nhưng người đã vĩnh viễn ra đi.

Mười một tuổi nhà vua kén vợ
Đẹp đôi thay con gái họ Hồ
Nhà Trần xuống thấp bờ đáy vực
Nơi nơi dấy loạn những binh đao

Bờ sông Mã, Đa Phương thất trận
Hồ Qúy Ly dằn vặt riêng tây
Sư Ôn họ Phạm chiêu binh mã
Chế Bồng Nga thua được cuộc nầy?

Mùa đông ấy màu trời tro xám
Giặc lại về bên bến Hoàng Giang
Nghệ Tông khóc tiễn người ra trận
Khát Chân lạy tạ biệt thượng hoàng

Đâu những nỗi sông xưa Thiên Mạc
Đâu Nghĩa vương cạn một tấc lòng
Trăm năm hậu duệ Trần Bình Trọng
Gươm giáo lên đường há bại vong?

Nào trận chiến Đại Hoàng sông Luộc
Nào Bồng Nga phó tướng La Ngai
Vua Chiêm Chàm quốc hờn thiên cổ
Số phận trêu chi số anh tài

Mũi tên ai bắn thuyền ai cháy
Họ Chế không may kiếp phận người
Bao giờ nhớ lại thời Quang Thái
Chắc nhớ Đại Hoàng loang máu tươi

Nghệ Tông mừng lắm vui chiến thắng
Cứ ngỡ triều đình sẽ được yên
Họa Chàm từ đó không còn nữa
Mà họa Qúy Ly nối tiếp liền

Lê Quý Ly đôi lòng chưa rõ
Mà trong tay tích tụ đã đầy
Quân tướng là ai quân tướng ấy
Đâu trung đâu phụ giữa trời mây

Phụ Trần phụ quốc có chia hai
Thôn đông Yên Thái bóng Lý đài
Một lòng Đồng Cổ hai lòng nước
Cố cựu tình nào đã nhạt phai!

Mai sau ai nhắc lời kinh sử
Thì trách chi không tấc dạ thần
Con quạ đen kia lau nước mắt
Khóc con gà nhỏ nguyện xả thân

Tranh xưa bốn bức đà vẽ sẵn
Đem tặng thân thần nghĩa nước non
Hoắc Quang, Cát Lượng muôn người biết
Chu Công, Tô tướng tiếng mãi còn

Nghệ Tông từ đó yên lòng nghỉ
Nguyên lăng nào biết chuyện ngày sau
Ai đem đô cũ về đô mới
Ai ở Tây Đô lụn tháng ngày?

Về Tây Đô, Thuận Tông mộ đạo
Chiếu nhường ngôi ấn ký đã rồi
Mơ hồn vua Lý nơi Đạm Thủy
Trăm năm hồ dễ oán thù trôi

Quý Ly tận diệt không khoan nhượng
Nhớ Nghệ Tông một chút ngậm ngùi
Làm sao mà giữ trung thần hảo
Xưa nay thiên hạ mấy hổ ngươi

Tứ phụ tranh kia còn y đó
Ai đem xé bỏ dựng cơ đồ
Ai đem thuốc độc cho con rể
Lời nguyền Lý tộc chẳng từng khô

Thuận Tông chết con còn nhỏ lắm
Ba tuổi đầu ai gọi là vua
Quý Ly ông ngoại thân nhiếp chính
Trần tộc theo bay ngọn gió lùa

Thiếu Đế lên ngôi chưa biết khóc
Ai người thao thức chuyện giang san
Ai qua núi Đốn mờ sương khói
Ai gọi đâu đây tiếng gọi ngàn!


<<  |  >>