Skip to content

Chương 15/11

NHÀ TRẦN
(1225 – 1400)

ĐOẠN MƯỜI MỘT

TRẦN NGHỆ TÔNG, TRẦN ĐẾ HIỆN, VÀ NHỮNG BƯỚC CHÂN HỌ HỒ

 

       Năm 1377 khi được thượng hoàng Nghệ Tông trao ngôi vua,  Trần Hiện tức Đế Hiện mà sử cũ gọi là Phế Đế mới 16 tuổi. Việc truyền thừa nầy không làm người mẹ Gia Từ hoàng hậu vui. Bà là cháu của Nguyên Tư và Sung Viên nguyên phi, và là hoàng hậu ngoại tộc đầu tiên của nhà Trần. Khi chồng và hơn hai mươi ngàn tướng sĩ chết ở Đồ Bàn, bà quá đỗi buồn khổ và mất tin tưởng mọi thứ. Bà đã xin thượng hoàng Nghệ Tông không trao ngôi vua cho con mình, nhưng vị vua bác nầy không chìu theo ý của người em dâu. Bà buông xuôi và đi tu. Bà chỉ biết cầu nguyện cho một triều đại vừa trải qua một lần thương tích trí mạng.

      Quân đội hùng mạnh trong thời Duệ Tông đã không còn. Lục, hải quân đều mất hết một nửa quân số thiện chiến sau trận Đồ Bàn. Lê Giốc, Lê Mật Ôn, Nguyễn Đa Phương vừa được nâng lên hàng tướng lãnh chưa có một bề dày chiến trận. Mọi việc quân sự thượng hoàng Nghệ Tông vẫn giao cho Đỗ Tử Bình. Sau ngày bỏ vua Duệ Tông mà chạy ở Thạch Kiều, Đỗ Tử Bình có bị phạt nhưng rồi được phục chức tham mưu quân sự như cũ. Lê Qúy Ly vẫn mang tước hầu, vẫn giữ chức khu mật viện đại sứ. Hai vị đại quan nầy không thể vực dậy một triều trại đang đi xuống.

      Biết được tình hình Đại Việt như thế, người bạn láng giềng phương nam Chế Bồng Nga lại tấn công. Tháng 6 năm 1377, Họ Chế đưa quân vào cửa Thần Phù. Hơn 15 ngàn quân thủy và bộ ngược dòng sông Đáy, qua lộ Hải Đông tiến về Thăng Long. Với khoảng đường dài gần 200 cây số ấy, hầu như không bị một sự ngăn cản nào. Những nút chặn địa phương chỉ như là những viên sỏi nhỏ dưới bánh xe thép. Quân Chiêm Thành đi đến đâu, quân Đại Việt tan tác bỏ chạy đến đó. Điều nầy đã lây lan tới kinh thành Thăng Long, và thượng hoàng Nghệ Tông cùng triều thần lại bỏ kinh đô một lần nữa. Quân Chiêm đốt phá, cướp của, hiếp dâm trong 10 ngày rồi thong thả ra về.

      Không chỉ có thế. Đúng một năm sau, tháng 6 năm 1378, Chế Bồng Nga xua quân tấn công Thăng Long lần thứ 3. Lần này chúng không đi đường sông Hồng, không đi đường sông Đáy mà đi vào sông Mã. Bộ binh Chiêm tràn từ Thanh Hoa về hướng bắc. Đỗ Tử Bình, Lê Giốc mang quân chống giữ nhưng không cản được bước chân Chàm. Chúng lần lược chẻ đôi Tam Điệp, Hoa Lư, Phủ Lý rồi về Thăng Long. Kết quả lần thứ ba nầy, tướng Lê Giốc đã hy sinh và Thăng Long một lần nữa bị dày xéo.

      Trong thời Nghệ Tông làm thượng hoàng, Thăng Long còn bị chiếm thêm một lần nữa. Tháng 6 năm 1383, Chế Bồng Nga xua quân lần thứ tư. Lần nầy họ Chế mang đại quân trở lại ngã sông Hồng và tướng chỉ huy phản kích là tướng Nguyễn Đa Phương. Lúc nầy Đỗ Tử Bình đã chết và Nguyễn Đa Phương được thăng cấp thành Kim ngô đại tướng quân. Phụ tá cho ông có tướng Lê Mật Ôn. Họ chặn quân Chàm ở Cổ Lễ. Hai người ra sức chiến đấu nhưng chỉ cầm chân được một ngày chứ không đẩy lui được quân địch. Khi cánh quân của tướng Lê Mật Ôn tan rã và ông hy sinh, tướng Nguyễn Đa Phương phải rút về Thăng Long. Triều Đình lúc nầy đã bỏ chạy. Thượng hoàng Nghệ Tông và Lê Quý Ly đưa vua Đế Hiện lên miền bắc, và cho quân lính mang tiền đồng đi dấu trước khi tướng Nguyễn Đa Phương trở về Thăng Long. Vua Đế Hiện không bằng lòng cách chạy trốn, nhưng không đủ quyền lực để điều quân phối hợp với tướng họ Nguyễn giữ kinh đô. Tại đây quân của Nguyễn Đa Phương tan tác một lần nữa. Quân Chiêm Thành chiếm Thăng Long, chiếm Quảng Oai, chiếm Khổng Mục, và tha hồ làm mọi thứ rồi mới chịu lui binh.

      Sau lần quân Chàm cướp phá kinh đô lần thứ tư năm 1383 đó, thì Đại Việt gánh thêm một tai ương nữa. Giặc Minh bắt đầu dòm ngó về phương nam. Năm 1384 mượn cớ ở Vân Nam còn nhiều phiến quân phò Nguyên phá rối, quân Minh tiến tới biên giới Đại Việt. Vua đầu triều nhà Minh, Chu Nguyên Chương, đòi triều đình nhà Trần phải cung cấp lương thực cho đạo quân nầy. Vua Đế Hiện bấy giờ đã lớn khôn. Ông từ chối. Nhưng, quyết định của ông vẫn không được tôn trọng. Thượng hoàng Nghệ Tông sợ bị gây hấn nên phải ép dân địa phương tây bắc chiều theo. Các quan lại địa phương cho người đi thu gom, nhưng số lượng không đủ theo yêu cầu. Tướng giặc Lê Ban nhân danh đại đế nhà Minh buộc nhà Trần phải tiếp tục cung cấp cho đủ số với lời đe dọa. Đây là một đòi hỏi vô lý quá đáng, nhưng Lê Quý Ly phải thay mặt Nghệ Tông chịu tăng thêm lương thực. Vị đại sứ khu mật viện nầy phái quan Triều phụng Lê Á Phu và Tả ty hành khiển Lê Dữ Nghị tận vắt nguồn tài sản của dân cả nước. Họ phải triệt để áp dụng thu thuế thân do Đỗ Tử Bình đề ra trước đây một vài năm.

      Đứng trước một triều đình quá yếu đuối như vậy, sĩ phu triều Trần chia làm 2 xu hướng. Thứ nhất: Đem quyền lực của nhà vua về cho nhà vua, để ông củng cố quân đội. Trang Định vương Trần Ngạc đại diện cho xu hướng nầy. Ông là con thứ của hoàng thượng Nghệ Tông và là một thái úy của triều đình. Cùng với ông có hai vị quan văn Lê Á Phu, Lê Dữ Nghị. Đó những người trực tiếp thấy được nỗi đau của dân chúng qua lần áp bức lê dân để lấy lương thực. Bên cạnh đó Trang Định vương Trần Ngạc còn được sự ủng hộ của những vị võ quan quản lĩnh các thiết đội như Nguyễn Bát Sách, Lê Lặc, Nguyễn Văn Nhi… Thứ hai: bất lực trước cảnh nước nhà bị ngoại xâm và một triều đình nhu nhược mà bỏ đi ẩn cư. Thượng quốc hầu Trần Nguyên Đán là mẫu người nầy. Ông vốn là người có kiến thức uyên bác, nhưng khả năng điều hành thì hạn chế. Tháng giêng năm 1385 Trần Nguyên Đán về ẩn cư ở Côn Sơn ở tuổi 60. Trước khi đi, vị vương thân nầy tạo cơ hội làm thông gia với Lê Quý Ly. Lúc nầy họ Lê đã là rường cột của triều Trần. Nhiều người trách Trần Nguyên Đán đang mưu tìm một chỗ dựa, nhưng ông làm thinh của một kẻ bất lực. Trần Mộng Dữ và Trần Thị Thái là con ông ở lại kinh thành, và được Lê Quý Ly nâng đỡ. Chồng của Thái là Nguyễn Ứng Long tức Nguyễn Phi Khanh, đã là người đỗ thái học sĩ nên cũng được Lê Qúy Ly để ý tới.

      Trong lúc nhân tâm phân tán như thế, thì vua nhà Minh lại một lần nữa khủng bố tinh thần của thượng hoàng Đại Việt. Năm 1386 Chu Nguyên Chương sai Lý Anh đến Thăng Long với một yêu sách: Mượn đường bộ từ Vân Nam tấn công Chiêm Thành và yêu cầu triều đình nhà Trần cung cấp 50 thớt voi. Đây là một đòi hỏi ngang ngược với mục đích gây hấn. Nếu thuận thì có khác gì để quân Tàu xâm lăng từ biên giới bắc đến biên giới nam. Nếu không thuận thì bọn bành trướng nầy sẽ tràn qua Thăng Long bằng vũ lực. Quân của Chu Nguyên Chương chắc chắn sẽ không cướp bóc suông như quân của Chế Bồng Nga. Thượng hoàng Nghệ Tông lo sợ run người, chưa biết toan tính thế nào. Ông bèn tấn phong Lê Quý Ly lên chức Đồng bình chương sự để san bớt nỗi sợ hãi.

      Giữ chức Đồng bình chương sự trong lúc nầy, được hiểu là từ nay tiếng nói của Lê Quý Ly ngang bằng với thượng hoàng Trần Nghệ Tông. Cái yêu cầu của nhà Minh làm thượng hoàng Đại Việt nghẹt thở, nhưng chuyền tay qua Lê Quý Ly thì sự việc được dễ chịu hơn. Đích thân họ Lê đi gặp Lý Anh và nói rằng việc mượn đường e sợ dân chúng không hiểu, xin cho một thời gian để giải thích. Việc cung cấp voi chiến cũng xin chờ ít lâu vì hiện tại Đại Việt không có. Sự trả lời nầy hàm ý một sự từ chối. Lê Qúy Ly liều mạng đánh ván bài thí với quân Minh. Nhà Minh chùn tay, không nhân đó mà đưa quân xâm lăng. Được trì hoãn thực thi yêu cầu lố bịch đó, Lê Qúy Ly ra sức nhanh chóng làm mạnh quân đội. Điều nầy không tránh khỏi những người tin cậy của ông được giao những trách vụ quan trọng hơn. Một sự hoán chuyển trong các lộ quân đang diễn ra. Từ mặt nam nhiều đơn vị thiện chiến được di chuyển về bắc. Lê Nguyên Trừng là con của người vợ trước của Lê Quý Ly được về bên ông để phụ tá. Nguyễn Cẩn là một người lạ hoắc với chính trường, nhưng có tài tham mưu được coi là vị chánh văn phòng của quan Đồng bình chương sự. Phạm Cự Luận, Nguyễn Đa Phương đều được nâng đỡ đặc biệt.

      Tất cả những chuyển dịch nầy làm Trang Định vương Trần Ngạc nghĩ rằng Lê Quý Ly đang thừa nước đục thả câu. Tháng 11 năm 1388, ông liên lạc với Triều phụng Lê Á Phu và Tả ty hành khiển Lê Dữ Nghị tìm cách gặp nhà vua để có một kế hoạch chống lại. Vua Trần Đế Hiện rất cảm động khi biết sau lưng mình còn có người nghĩ tới mình. Ông biểu đồng tình với nhóm Trần Ngạc, nhưng chưa có một kế hoạch cụ thể. Không may việc nầy bị Vương Nhữ Mai, người hầu vua học nghe được và để lộ ra ngoài. Lê Quý Ly hay tin, bèn hội hai người thân tín nhất là Nguyễn Đa Phương và Phạm Cự Luận hỏi ý kiến. Theo Nguyễn Đa Phương nên lui về Thanh Hoa tạo một thực lực riêng. Khi lực lượng đủ mạnh thì diệt Trần và chống Minh. Theo Phạm Cự Luận thì bất cứ thế nào cũng duy trì vỏ bọc nhà Trần. Tách rời nhà Trần lúc nầy là không đúng lúc. Do đó không rút lui, nhưng cũng không làm lớn chuyện. Lê Qúy Ly đồng tình với ý kiến họ Phạm. Ông diện kiến thượng hoàng Trần Nghệ Tông và khôn khéo chỉ ra rằng, vua Đế Hiện làm cản trở con đường hùng mạnh hóa quân đội.

      Từ lúc có quyền hành trong tay, Lê Quý Ly đã nhiều lần tự hỏi, thực sự mình muốn gì?  Câu trả lời trong thâm tâm vẫn là muốn có một Đại Việt phú cường. Nhưng sau câu hỏi nầy là một câu hỏi khác được đặt ra: Làm tôi cho nhà Trần hay diệt nhà Trần để đưa đất nước đến phú cường?. Theo cái nhìn từ đầu và cái nhìn về sau nhiều khi trở nên ngược chiều. Trong lòng ông luôn phân vân. Do đó, ông chỉ nói với thượng hoàng Nghệ Tông rằng “từ xưa đến nay chỉ thấy người ta bỏ cháu nuôi con, chứ không ai bỏ con nuôi cháu”. Lời nói này có thể gọi là lời nói vô thưởng vô phạt trong lúc chuyện vãn, nhưng nó đánh động cái “của tôi” của thượng hoàng Nghệ Tông. Vị thượng hoàng nầy suy nghĩ rồi chợt nhớ lúc hoàng đệ Duệ Tông qua đời tại sao mình giao ngôi vua cho Trần Hiện. Đó là cảm tính muốn đền bù cho đứa con khi có người cha tử trận. Qua một vài ngày tính toán, thượng hoàng quyết định truất phế vua Trần Đế Hiện để lập con trai mình lên ngôi.

      Theo thông lệ, thượng hoàng thường đi thăm lăng mộ tổ tiên. Trước đó, trong những lần quân Chiêm Thành tấn công Thăng Long, đã phá phách lăng miếu ở Tức Mặc, nên triều đình đã dời nhiều lăng mộ ở đây về cố thổ Yên Sinh. Lúc đi thăm, thượng hoàng đi cả hai nơi nên thường kéo dài đến 10 ngày. Trong những lúc vắng mặt triều đình lâu như thế, thượng hoàng phải gọi Đế Hiện đến dặn dò việc nước. Lần này cũng thế, Đế Hiện không mảy may nghi ngờ lòng dạ người bác ruột. Nhà vua chỉ đi một mình. Ông bị bắt tức thì trong im lặng khi vừa đến nơi. Đó là sáng sớm ngày 6 tháng 12 năm 1388, một ngày vẫn bình yên trong hoàng thành Thăng Long. Không những triều thần, cả hoàng hậu Trần Quang Loan cũng không hề hay. Bà là con gái út của thượng hoàng Trần Nghệ Tông. Bà đã khóc ngất, khi hay tin chồng mình bị quản thúc ở chùa Tư Phúc. Ngay lúc đó, thượng hoàng Nghệ Tông tri chiếu cho thiên hạ hay rằng Đế Hiện làm thân với bọn tiểu nhân để hãm hại công thần, nên bị giáng xuống làm Linh Đức vương. Các quản lĩnh quân trung thành với nhà vua như Nguyễn Văn Nhi, Lê Lặc, Nguyễn Bát Sách mang quân đến giải cứu, nhưng nhà vua nhắn lịnh thu quân trở về.

      Đế Hiện không muốn vì mình mà gây nên đổ máu. Ông nghĩ chắc có một giải pháp ôn hòa hơn. Vừa là cháu, vừa là con rể có lẽ nào gây nên chiến tranh với người bác ruột, người cha vợ trọng tuổi của mình. Ý nghĩ nầy quá hiền, không giữ được cuộc đời của ông. Ông chỉ sống được ba ngày ở chùa Tư Phúc. Ngay trong đêm thứ ba người ta đưa ông về điện Thái Dương và ép tự sát. Cái chết của vua Trần Đế Hiện không ai nói là do Lê Quý Ly gây ra, nên đây là một bực thềm an toàn để vị Đồng bình chương sự nầy bước thêm lên nữa. Theo đó, như một thuộc hạ cúc cung tận tụy, họ Lê xin lập con út của hoàng thượng là hoàng tử Trần Ngung lên làm vua.

 

Hoàng tử Hiện là vua Đế Hiện
Tuổi chưa khôn mà nước chưa yên
Ngoài thì quân giặc đang xâm lấn
Trong triều cương gian tướng thao quyền

Nghệ Tông hoàng thượng không quyết đoán
Quyền trong tay mà rớt kẻ tay
Duệ Tông mất Nghệ Tông hụt hẫng
Vận nước ra sao cuộc vận này

Chế Bồng Nga rõ Trần hư thực
Lại mang quân tái phá kinh đô
Bao lần bắc tiến bao lần thắng
Đại Việt hay chăng mảnh cơ đồ

Chiếm Thăng Long, Bồng Nga cướp sạch
Đốt phá thành rồi lại ra đi
Tử Bình bày kế tăng thêm thuế
Qúy Ly im lặng chẳng nói gì

Hồ Quý Ly vô cùng khôn khéo
Cứ lặng im mà lấy nước non
Khen thay một kẻ thao non nước
Mà nghĩa vua tôi cứ vẫn tròn

Vua Đế Hiện dần dà khôn lớn
Biết gian thần thao túng triều cương
Nhà vua mật kết cùng thái úy
Diệt Qúy Ly mà phải cùng đường

Chùa Tư Phúc làm sao thế nhỉ
Đem oan khiên trao lại nhà vua
Nhìn xem non nước thời tăm tối
Người mẹ năm xưa chẳng nói đùa

Giết Phế Đế, Nghệ Tông không xót
Lập con mình nương ý Quý Ly
Thuận Tông khi ấy tròn mười tuổi
Thân làm vua mà có biết gì


<<  |  >>