Skip to content

Chương 15/10

NHÀ TRẦN
(1225 -1400)

Đoạn mười

TRẦN DUỆ TÔNG VÀ TRẬN ĐỒ BÀN 1377

 

      Tháng 11 năm nhâm tý nhằm tháng giêng năm 1373, hoàng thái tử Trần Kính lên ngôi tức vua Trần Duệ Tông. Lúc này ông đã 36 tuổi và là người có tính khí mạnh. Mọi việc như xoay ngược chiều với thời trì trệ của vua Nghệ Tông. Lần bỏ kinh thành Thăng Long năm 1371 cho thấy quân đội Đại Việt quá yếu. Vua Duệ Tông muốn có một cuộc thay đổi toàn diện. Ông cho thay thế tất cả những lớp binh sĩ cao tuổi bằng một thế hệ trẻ hơn. Chọn người giỏi cung kiếm, võ thuật, và có tài thao lược lên làm võ tướng. Tạo điều kiện cho những nho sĩ nghèo có cơ hội đến quan trường. Cả quan võ và quan văn không nhứt thiết phải ở dòng tôn thất. Tướng Đỗ Lễ, tướng Nguyễn Nạp Hòa và trạng nguyên Đào Sư Tích đều là những người xuất thân trong giới bình dân.

      Trong lúc vua Trần Duệ Tông đang kiện toàn quân đội thì tháng 5 năm 1376 Chế Bồng Nga mang quân đánh phá Hóa Châu. Hành khiển Đỗ Tử Bình được lịnh mang quân đi đối địch. Chiến trận ở vùng địa đầu nầy không gây tổn thất nặng cho Chiêm và Việt, Chế Bồng Nga và Đỗ Tử Bình đều mang quân trở về. Nó chỉ như là một lần lượng giá thực lực của hai bên. Vua Duệ Tông tiếp tục chuẩn bị để đến năm sau quyết định tấn công Đồ Bàn. Tháng 2 năm 1377, vừa qua cái tết đinh tỵ ở thành Thăng Long, nhà vua thân chinh mang 50 ngàn quân lên thuyền trực chỉ kinh thành Chiêm quốc. Dưới trướng nhà vua có Trung Tuyên quốc thượng hầu Lê Quý Ly lo vận chuyển lương thực. Đỗ Tử Bình chỉ huy đạo quân hậu vệ. Ngự Câu vương Trần Húc, hành khiển Phạm Hoàng Linh theo nhà vua ở cánh trung quân. Tướng Nguyễn Nạp Hòa, tướng Đỗ Lễ tiên phong. Sau khi dừng quân ở Thuận Hóa để tiếp tế lương thực và nhận thêm quân, tháng giêng năm 1377 quân nhà Trần đổ bộ cửa Thị Nại.

      Cửa Thị Nại mênh mông một màu xanh bình yên của biển tháng giêng. Nó nối với một cái đầm cùng tên ở phía trong bằng một eo biển. Đầm có hình một dạ dày dẹp mà cuốn của nó ăn thông ra đại dương. Đầm là nơi hai nhánh của dòng sông Côn đổ về. Giữa đầm và biển là một doi đất chạy dài có những doanh trại thuỷ quân Chàm đang trú đóng. Nếu trước đây 6 năm quân Chiêm Thành đổ quân vào cửa sông Hồng dễ dàng, thì bây giờ quân Đại Việt đổ vào Thị Nại không được cái may mắn đó.

      Quân Chàm chặn quân Đại Việt ở ngoài cửa biển. Cuộc chiến nhanh chóng diễn ra bằng những mũi tên đầu tiên của phe phòng thủ. Mặt sóng dấy động và thuyền hai bên xáp lại gần. Giá như người ta nói được cho nhau nghe thì quân Chàm sẽ hiểu rằng đây là cuộc trả thù của lần xâm lăng Thăng Long năm 1371. Cuộc đọ sức cho biết thủy quân Chiêm Thành không hề yếu. Dù quân số gấp đôi, nhưng đến sáng ngày thứ ba, quân Trần mới tiến được vào đầm Thị Nại. Nó là bước dẫn đầu để người ta tràn lên bờ. Không ai tính chính xác được số thương vong của hai bên ở trận thuỷ chiến nầy, nhưng chắc chắn quân Chàm bị tiêu hao rất nhiều. Đến chiều ngày thứ ba của trận chiến, quân Trần đã làm chủ đầm Thị Nại. Họ chia làm hai nhánh song song thủy và bộ ngược dòng sông Côn tiến về Đồ Bàn.

      Những chốt quân đồn trú dọc đường rất yếu ớt. Quân nhà Trần hầu như không bị một sự kháng cự nào cho tới khi tiến tới Thạch Kiều. Điạ danh nầy ở ngã ba sông Giao và sông Côn. Nếu qua được Thạch Kiều thì tiến tới Đồ Bàn không khó. Chưa ai biết cuộc giao tranh sẽ diễn ra như thế nào. Chế Bồng Nga đã đặt ở đây một đơn vị đồn trú, mà quân Trần không thể nào biết được quân số. Người ta chỉ thấy những chòi cao và tường thành. Họ ở phía bên kia sông nên khó để mà ước lượng. Vua Duệ Tông quyết định không tấn công bên sông Côn mà dồn lực lượng tiến qua sông Giao. Sông Giao hẹp, dễ qua nhưng là điểm nhắm lý tưởng cho những xạ thủ phi tiễn của quân đồn trú. Đã hơn ba trăm thương vong ở cửa biển và đầm Thị Nại đã làm vua Trần Duệ Tông có suy nghĩ, nhưng ông không chùng bước. Chiến thuyền được tập trung về sông Giao và sẵn sàng làm cầu nối.

      Quân Trần tiến quân ngang dòng nước dưới vô số mũi tên trong một đêm trăng mờ của đêm lễ Păng Chabư. Đó là đêm lễ tết của người Chàm cảm ơn mẹ đất nuôi dưỡng vào ngày 16 tháng 9 Chàm lịch. Nó thường rơi vào tháng hai dương lịch. Số người bị thương khi qua sông không hề nhỏ, nhưng không làm thối chí hai cánh quân tiên phong của Đỗ Lễ và Nguyễn Nạp Hòa. Họ qua bên kia bờ khi trời vừa sáng. Trận chiến xảy ra tức khắc. Những vui mừng cảm ơn thần mẹ Pô Giang không làm quân Chàm uống nhiều rượu để say, nhưng họ vẫn thất bại. Quân số chênh lệch là nguyên do chính. Lúc trời quá trưa căn cứ phòng thủ Thạch Kiều bị vỡ. Quân Trần làm chủ từ đây xuống vùng hạ lưu sông Côn.

      Trong vòng 10 ngày với hai chiến thắng liên tiếp từ Thị Nại đến Thạch Kiều, làm cho quân Đại Việt phấn khởi dù rằng rất nhiều đồng đội đã hy sinh. Lập tức nhà vua bàn kế hoạch tấn công kinh thành Đồ Bàn với các tướng lãnh. Chiến lược cụ thể chưa được bàn chi tiết, thì có tin một lộ hàng quân đương tiến tới. Theo đó thì vua Chế Bồng Nga đã giao cho thuộc tướng La Ngai trấn giữ Đồ Bàn. Bản thân nhà vua cùng gia đình rút quân về rừng Núi Một ở Vân Canh để cố thủ. La Ngai liệu sức không chống nổi quân Đại Việt nên sẵn sàng dâng kinh đô để tránh đổ máu. Tướng Đỗ Lễ và tướng Nguyễn Nạp Hòa xin nhà vua khoan vội tin ngay, nhưng ông đã không nghe.

      Ngày 24 tháng giêng năm 1377, vua Duệ Tông dẫn quân đến Đồ Bàn với kế hoạch tiếp thu hơn tấn công. Đây là một sai lầm rất lớn của vị vua can trường nầy. Đoàn quân trên đường tới kinh đô thành tháp bị phục kích. Vô số quân Chiêm thành xuất hiện như từ dưới đất chui lên. Người ta ước lượng họ đông hơn gấp 5 hoặc 7 lần quân Trần. Quân Chàm cắt quân Trần ra từng khúc như người ta cắt một đòn bánh tét, và hất từng lát ra ngoài. Khí thế ở Thị Nại là thế, khí thế ở Thạch Kiều là thế, mà ở đây quân Trần đành thúc thủ không thể tiếp ứng được cho nhau. Đích thân vua Chàm Chế Bồng Nga chỉ huy. Chỉ trong một ngày một đêm, mà trên 20 ngàn quân Trần bị tiêu diệt. Hành khiển Phạm Hoàng Linh, tướng Đỗ Lễ, tướng Nguyễn Nạp Hòa và vua Trần Duệ Tông đều tử trận. Khoảng 10 ngàn quân còn lại đều phải quy hàng trong đó có Ngự Câu vương Trần Húc. Vị thân vương nầy là con trai cả của thượng hoàng Trần Nghệ Tông. Đỗ Tử Bình và Lê Quý Ly đang giữ mặt đông ở Thạch Kiều nhưng không dám tiếp viện. Họ gấp rút đưa quân rút lui.

      Mở ra một vết thương đau buồn nhất của nhà Trần không phải từ phương bắc mà từ phương nam. Suốt trong chiều dài chiến tranh Việt Chiêm hơn bảy trăm năm, đây là một chiến bại lịch sử chua cay nhất của quân Việt. Vua Duệ Tông là vị vua duy nhất chết ở chiến trường. Ba vị tướng lãnh và trên 20 ngàn quân hy sinh trong một ngày cũng là một kỷ lục về số quân tử vong.

      Cái chết của vua Duệ Tông đã làm hoàng thượng Nghệ Tông mất hẳn tinh thần. Ông chỉ làm một việc cần thiết mà ông phải làm là lập người khác lên làm vua. Trần Hiện là con thứ của vua Duệ Tông, nhưng là con của chánh cung hoàng hậu nên được chọn. Chọn Trần Hiện, nhưng mọi việc nước thượng hoàng Nghệ Tông lại đi hỏi Lê Quý Ly. Ông nhớ tới cái nhận xét sáng suốt của Lê Quý Ly ở Thanh Hoa khi bàn kế hoạch tiêu diệt Dương Nhật Lễ. Ông nhớ tới cái tài ba của Lê Quý Ly đã thuyết phục Trần Ngô Lang ở Thăng Long.

 

Trần Duệ Tông nhà vua uy dũng
Em ba vua: Hiến, Dụ, Nghệ Tông
Có chung ngoại tổ cùng hai vị
Dì, mẹ năm xưa chỉ một chồng

Nhớ thuở trước Minh Tông còn trẻ
Yêu Anh Tư, Lê thị nguyên phi
Đôi năm sau nữa yêu em vợ
Cô bé ngày xưa chửa biết gì

Cả hai kiều nữ xuân xanh ấy
Đâu biết sau nầy đấng mẫu nghi
Duệ Tông con của người phi nhỏ
Theo chị về cung dạo xuân thì

Thân chinh vua quyết đi chinh chiến
Vượt biên cương tiến thẳng Đồ Bàn
Phá tan sóng nước đồn Thị Nại
Bức Thạch Kiều Chàm tộc giang san

Đồ Bàn chiến tích hồn Chiêm Việt
Trận chiến qua rồi máu lệ vơi
Chiều trông hiu quạnh đường cổ tháp
Lịch sử Chiêm đô để lại đời

Duệ Tông chết trên đồi đất tháp
Mấy vạn quân tan tác gió lùa
Qúy Ly hồ dễ người cứu chúa
Tử Bình nào phải kẻ vị vua

Hoàng tử Húc hàng binh họ Chế
Phạm Hoàng Linh, Đỗ Lễ hy sinh
Nạp Hòa tử trận bên chân tháp
Đường chinh nam phước bỗng vô tình

Nhà vua chết Qúy Ly chạy trốn
Tử Bình về hoàng thượng thứ tha
Cả hai bị trách cho có lệ
Nghĩa vua tôi rồi cũng mặn mà


<<  |  >>