Skip to content

Chương 15/1

NHÀ TRẦN
(1225 – 1400)

Đoạn một

TRẦN THÁI TÔNG: CHIẾN TRANH VIỆT- MÔNG CỔ 1258

 

      Nhà Lý hoàn toàn cáo chung vào ngày 12 tháng 12 năm ất dậu 1225. Tôn thất họ tộc Lý nhiều người bỏ trốn khỏi kinh thành. Trần Cảnh lên ngôi được người chú Trần Thủ Độ đặt cho niên hiệu Kiến Trung tức vua Trần Thái Tông. Nữ hoàng nhà Lý trở thành hoàng hậu Chiêu Thánh nhà Trần. Cặp uyên ương thiên tử nầy còn quá nhỏ, mọi việc của triều Trần đều do thống quốc thái sư Trần Thủ Độ lo toan. Năm 1226, ông sắp xếp cho thân phụ nhà vua là Trần Thừa lên ngôi thái thượng hoàng. Năm 1228, khi người anh của nhà vua đến 18 tuổi ông giao cho chức thái úy. Đó là Trần Liễu. Cũng trong năm 1228, Trần Thủ Độ giúp cát cứ Nguyễn Nộn diệt cát cứ Đoàn Thượng. Sau đó ông tìm cách diệt Nguyễn Nộn. Người ta nói ông gài trưởng chúa Ngoạn Thiềm, chị của vua Thái Tông, và nhiều cung nữ để Nguyễn Nộn chết vì kiệt sức. Đó là tin đồn, nhưng Nguyễn Nộn ngã bịnh rồi qua đời trong tháng 8 năm 1229 là sự thật.

      Năm 1330 Trần Thủ Độ giúp nhà vua sửa đổi luật lệ lễ nghi, in thành 20 quyển gọi là Quốc Triều Thống Chế luật. Năm 1232 vị quốc phụ nầy đổi niên hiệu cho nhà vua từ Kiến Trung sang Thiên Ứng Chính Bình. Cùng trong năm 1232 nầy, ông cho đổi tất cả con cháu dòng họ Lý ra họ Nguyễn. Mục đích để con cháu nhà Lý quên hận thù, và để tránh trùng tên nguyên tổ Trần Lý. Tháng 8 năm 1334 nhân thượng hoàng Trần Thừa chết, nhà vua phong cho người anh thái úy của mình thành Hiển Hoàng làm phụ chính. Năm 1336, Hiển Hoàng bị mất “tước Hoàng” và chức phụ chính vì có liên hệ với một cung nữ triều Lý. Ông bị giáng xuống làm Hoài vương và mất luôn chức thái úy. Ông chỉ còn lại số quân lính bảo vệ một thân vương. Ông phải đem gia đình ra phủ đệ ở ngoại thành. Lúc này ông 26 tuổi đã có chánh thất và một thứ thiếp. Vị chánh thất nầy họ Trần nhưng không rõ tên. Ông bà có 2 con trai: Trần Tung sinh năm 1230 và Trần Quốc Tuấn sinh năm 1232. Vị thứ thiếp chưa có con. Bà là công chúa Thuận Thiên, trưởng nữ của vua Lý Huệ Tông và hoàng hậu Thuận Trinh. Sau ngày bi thảm năm 1225 toàn thể con cháu hoàng tộc họ Lý phải ra ngoài thành, nhưng gia đình bà thì không. Mẹ bà, hoàng hậu Thuận Trinh tức Trần Thị Dung lấy người em họ Trần Thủ Độ đầy quyền lực. Em gái bà tức nữ hoàng Lý Chiêu Hoàng là đương kim hoàng hậu nhà Trần.

      Mọi thứ ở trên đều do Trần Thủ Độ sắp xếp chỉ trừ việc bà về làm thiếp của Trần Liễu. Đầu năm 1233, khi bà 17 tuổi, bà được người mẹ khuyên nên lấy Trần Liễu để có chỗ nương thân. Bà nghe theo lời mẹ. Cuối năm 1234 bà có đứa con trai đầu lòng được đặt tên Trần Quốc Doãn. Qua một cuộc bể dâu, có được người chồng thương yêu, có đứa con kháu khỉnh, bà an phận. Nhưng khi Quốc Doãn được 3 tuổi và bà đương cấn thai đứa con thứ hai, bà không thoát khỏi vòng xoáy của Trần Thủ Độ. Ông quốc phụ quyền lực nầy có một quyết định hết sức ngược đời và tàn nhẫn. Nó nằm ngay trên mình hai cặp vừa huynh đệ, vừa tỷ muội, vừa phu phụ của bà.

      Mùa xuân năm 1237 Trần Thủ Độ ép công chúa Thuận Thiên, vợ Hoài vương Trần Liễu, về làm hoàng hậu cho vua Trần Thái Tông. Ông ép vua Thái Tông phế hoàng hậu Chiêu Thánh để lấy người chị dâu đương mang thai với anh ruột của mình. Lúc này thai nhi đã được ba tháng. Trần Thủ Độ sợ rằng vua Thái Tông không có con nối dõi đế nghiệp nên làm điều này.

      Không biết khi rời phủ đệ để vào cung, Thuận Thiên công chúa có buồn lắm không, nhưng chắc chắn bà phải nghĩ đến 5 người: Người thứ nhất là người chồng Trần Liễu. Ông thật sự yêu bà, nhưng phép của Trần Thủ Độ là trên cả phép vua nên ông không thể cản được. Người chồng đáng yêu và tội nghiệp nầy sẽ ra sao? Bà lo lắng nhưng chỉ âm thầm từ biệt nhau mà cứ tưởng như đây là điều không thật. Người thứ hai là đứa con Trần Quốc Doãn. Nó là đứa con đầu lòng mới ba tuổi của bà. Người mẹ dứt ruột mà đi như bị cướp, nhưng đứa bé nào có biết gì. Nó sẽ lại với cha và sẽ chơi đùa với hai người anh khác mẹ Trần Tung và Trần Quốc Tuấn. Bà không biết tương lai của nó sẽ ra sao, nhưng bà nguyện rằng nếu được yên ổn bà sẽ bảo vệ cho nó. Người thứ ba là đứa em Chiêu Thánh. Bà đang hất đứa em ra khỏi ngôi vị hoàng hậu không phải vì ganh tị, không phải vì tranh giành. Bà thương em bà biết bao. Em bà, từ một đứa con nít bị đặt lên làm vua rồi làm vợ. Tám tuổi đã biết gì chuyện yêu đương mà lấy chồng. Gần gũi như thế để 7 năm sau, khi 15 tuổi có đứa con đầu lòng. Tưởng được vui, nhưng khi đứa con vừa được đặt tên là Trần Trịnh thì đứa bé lại chết. Từ đó, em bà không cấn thai nữa, và đến bây giờ đã 4 năm. Điều nầy làm em bà bị phế ngôi hoàng hậu để bà lên thay. Người ta đem đứa con chưa tượng rõ hình người trong bụng bà để làm những điều lố bịch, nhưng bà không có cách phản đối. Em bà, hoàng hậu Chiêu Thánh từ nay bị phế đi, có biết nỗi lòng nầy không? Tất cả chỉ vì một dòng họ đã giết hại dòng họ nhà bà. Hai chị em bà thật là tội nghiệp. Người thứ tư là thai nhi trong bụng. Đứa con thứ nầy sẽ là ai? Hoàng đế? Nữ vương? Qua tai nạn trùng trùng của gia đình bà, bà không dám nghĩ gì thêm nữa. Bà chỉ mong nó được bình an. Người thứ năm là vua Trần Thái Tông. Bà chưa hề nghĩ sẽ làm vợ người nầy. Ông ta vừa là em chồng vừa là em rể. Duyên nợ nào đưa đến một cách kỳ lạ, mà tất cả những người dính vào như những con rối. Bà đành nhắm mắt đưa chân như chiếc lá trôi giữa dòng.

      Khi Thuận Thiên công chúa vào cung, Trần Thủ Độ tìm cách khuyên lơn nhà vua. Theo vị quốc phụ nầy, tất cả việc làm của ông chỉ vì non sông xã tắc. Vua Trần Thái Tông rất buồn, nhưng không có đủ uy quyền để phản đối người chú họ thực sự nắm hết quyền lực nầy. Ngay đêm đó nhà vua bỏ trốn, và Hoài vương Trần Liễu khởi loạn. Tình hình xoay theo một chiều hướng bất lợi như thế, tưởng thái sư Trần Thủ Độ phải chịu khuất phục, nhưng ông ta kiên quyết theo đuổi ý định điên rồ của mình. Đích thân ông dẫn binh đi dẹp loạn Trần Liễu. Binh lính của vị cựu Hiển Hoàng bị đánh tan tác, nhưng may mắn ông chạy thoát được.

      Không biết Trần Liễu chạy trốn đến đâu, nhưng vua Thái Tông đang qua sông Hồng về miền đông bắc. Ông muốn lên chùa Vân Yên  để tìm gặp vị sư phụ mà ông đã có duyên gặp từ lúc ấu thơ. Ông muốn đi tu. Một tờ mờ sáng tháng 2 năm 1237, nhà vua đứng trước bến đò Đại Than của dòng sông Phả Lại. Lòng vị hoàng đế 19 tuổi buồn mênh mang. Xa xa bên kia sông là dãy Đông Triều như muôn đời yên tĩnh, bên này sông là những thư hùng của dòng Như Nguyệt xa xưa. Không ai trong chuyến đò buổi sáng hôm ấy biết bên mình đang có một vị quân vương. Vua Thái Tông xuống đò trong tâm trạng ngổn ngang, nhưng cố giữ lòng bình thản. Nhà vua lầm lủi một mình đi bộ trên những con đường làng sơn cước hẻo lánh, đến chiều tối thì ghé lại một chùa ven đường, chùa Giác Hạnh.

      Vị sư ở đây không biết người trai trẻ là ai nhưng cũng sẵn lòng cho người thí chủ tá túc. Ông ta chỉ nói từ đây về miền xuôi thì dễ đi mà đi ngược lên đỉnh Đông Triều thì khó, nếu không có duyên thì cũng không tới được. Nhà vua nghỉ lại đêm giữa cảnh đơn sơ thanh thoát của chùa. Đây là chỗ dừng chân thứ hai sau bến đò Đại Than, nhà vua có thể trở về. Ông tự biết mình đang chạy trốn nỗi oan khiên chứ không phải là những bước chân tinh tấn của bậc tu hành, nhưng ông tiếp tục bước đi.

      Sáng sớm hôm sau ông lại cố gắng trên những đoạn đường đèo và dốc đứng. Ngước mặt về phía trước là mây trắng chập chùng trên đỉnh Bạch Vân Sơn. Núi Bạch Vân là một núi cao của dãy Đông Triều ở miền đông bắc Đại Việt. Tại lưng chừng núi có một ngôi chùa tên gọi Vân Yên. Chùa do thiền sư Hiện Quang cất lên đã trên 20 năm từ thời vua Lý Huệ Tông. Sau khi sư Hiện Quang viên tịch năm 1221, đệ tử của sư là sư  Đạo Viên tiếp nối sự nghiệp của thầy. Chùa Vân Yên còn được gọi là chùa Trúc Lâm vì hai thầy trò của hai vị thiền sư đều tu theo hệ phái nầy của Phật Giáo Việt Nam. Sư Đạo Viên và vua Trần Thái Tông đã có duyên gặp nhau như tình thầy trò từ thời nhà vua còn thơ ấu. Nhà vua đã có một lần lên thăm thầy và đây là lần thứ hai.

      Nhìn nét mặt và cung cách của vị quân vương, sư Đạo Viên biết là đã có điều bất thường. Vua Thái Tông kể hết sự tình và xin sư phụ cho thí phát qui y cửa Phật. Sư Đạo Viên trầm ngâm và chỉ nói rằng: theo lý số và tướng mạo thì nhà vua chưa thể dứt bỏ trần tục được, tạm thời cứ nghỉ ngơi chờ diễn biến kế tiếp. Sáng hôm sau sư Đạo Viên cho đệ tử về kinh thành để dò la tin tức. Tin của người đệ tử nầy chưa về, thì Trần Thủ Độ đã đến. Ông đem theo võng lọng, binh lính cùng các bô lão để xin rước vua trở về triều đình. Nhà vua không bằng lòng nhưng Trần Thủ Độ không rút lui.

      Một mặt, những bô lão đi theo Trần Thủ Độ xin sư trụ trì cho họ được tụng những thời kinh. Hương khói, mõ chuông, lờì cầu an, lời sám hối vang vang ở chánh điện. Mặt khác, binh lính bắt đầu phá rừng như là sẽ làm kinh đô tại núi Bạch Vân. Quốc phụ Trần Thủ Độ đã nói với mọi người rằng nhà vua ở đâu thì triều đình ở đó. Trước phản ứng có vẻ “lỳ lợm” của vị quốc phụ họ Trần, sư Đạo Viên khuyên nhà vua hãy tùy duyên mà trở về. Tâm Phật và tâm chúng sanh vốn đồng nhất, nên nó không ngăn ngại dầu nhà vua ở đâu. Ông còn đoan chắc rằng Trần Thủ Độ sẽ giúp nhà vua đưa đất nước đi lên, vì thật sự ông ta không phải là quyền thần chỉ lo cho bản thân.

      Trong nỗi u uẩn chưa tan, vua Trần Thái Tông đành quay trở lại triều đình. Lúc nầy tàn quân của người anh Trần Liễu bị truy kích gắt gao. Nửa tháng sau, tự thân Trần Liễu ra hàng. Trần Thủ Độ xuống gươm chém vị Hoài vương bất hạnh nầy, nhưng vua Thái Tông đem thân mình ra đỡ. Trần Liễu thoát chết. Người anh Trần Liễu biết ơn đứa em Trần Cảnh, nhưng ông không thực sự bằng lòng. Vợ mình nay là vợ người, con mình nay là con người. Ông khuất phục trong nỗi hận lòng không yên. Trần Thủ Độ, biết được điều đó, vị thái sư ra tay.

      Trong cùng năm 1237 ấy Trần Liễu bị đi đày. Dưới danh nghĩa nhà vua, Trần Thủ Độ đưa Hoài vương đến đất thực ấp ở Yên Phụ miền đông bắc, và được phong là Yên Sinh vương. Rất buồn, nhưng đây là lịnh vua. Niềm vui còn lại ông đặt vào những đứa con còn nhỏ dại: Trần Quốc Tuấn được Thụy Bà trưởng công chúa nhận làm con nuôi, (Thụy Bà là em Trần Liễu và Ngoạn Thiềm, chị vua Thái Tông, Trần Nhật Hìệu và cô em gái út Thiên Thành. Cả Thụy Bà, Ngoạn Thiềm và Thiên Thành đều là chị và em của đương kim hoàng đế nên gọi là trưởng công chúa). Tuấn được ở lại hoàng cung. Trần Tung và Trần Quốc Doãn theo cha về miền đất trích*. Trong khi đó vua Trần Thái Tông tự hứa với lòng sẽ giữ khoảng cách với người chị dâu, và đứa con ra đời sẽ là thái tử nếu là con trai. Nó sẽ là vua đời thứ hai của nhà Trần để đền bù lại những thua thiệt của người anh. Thời gian thấm thoắt trôi qua, nhà vua vẫn hiểu được nỗi đau của anh mình, và nỗi khổ tâm của hai người vợ. Ông vẫn tôn trọng lời tự hứa để hoàng hậu Thuận Thiên có một chỗ riêng tư trong lòng. Hai người đều thương đứa bé mới sanh ra và họ đặt tên là Trần Quốc Khang.

      Nhưng. Một năm, rồi hai năm, nỗi đau dường như nguôi dần. Bên cái nét xuân thì của hoàng hậu chưa đầy 24 tuổi đã làm nhà vua rung động. Trong cảnh tráng lệ huyền ảo hằng đêm ở thẩm cung, Trần Thái Tông đã phản bội lòng mình. Thế rồi, tháng 10 năm 1240, hoàng hậu Thuận Thiên cho ra đời một hoàng tử. Đó là Trần Hoảng và được phong làm thái tử. Không biết trong lúc phong Trần Hoảng làm thái tử, người em Trần Cảnh có chạnh lòng nghĩ đến người anh Trần Liễu và đứa con Trần Quốc Khang hay không? Hình như không có. Bởi vì đúng một năm sau, cũng tháng 10, Hoàng hậu Thuận Thiên cho nhà vua một hoàng tử nữa, đó là Trần Quang Khải. Lúc nầy nhà vua đã 22 tuổi và hiện có tới 3 hoàng tử, nên Trần Thủ Độ rất vừa lòng. Người chú đại thần nầy dần dần tách ra, đứng ngắm nhìn đứa cháu trưởng thành. Đó là niềm vui của ông, và không thể nói không có niềm vui của Trần Thái Tông. Nhưng, đó là niềm đau sâu xa của Yên Sinh vương Trần Liễu. Niềm đau nầy đưa đến lời trăn trối cuối đời với đứa con trai Trần Quốc Tuấn. Trần Liễu chết vào năm 1251 lúc 40 tuổi sau khi ở Yên Phụ 14 năm. Trong thời gian ở đây ông có lấy một người vợ khác. Bà nầy cũng không rõ danh tánh như người vợ đầu tiên, nhưng đứa con gái của họ có tên Trần Thị Thiều.

      Qua một thời bị ràng buộc và bất ổn trong gia đình, vua Trần Thái Tông trở nên một người lãnh đạo giỏi trong triều đình, và là một vị tướng quân gan dạ ngoài mặt trận. Tháng 12 năm 1241 tự thân ông dẫn quân đi đánh các trại giặc phá biên giới bên tận đất Tàu của nhà Tống. Năm 1242 ông cử thân vệ Trần Khuê Kình trấn giữ biên giới phía bắc mà ông vừa bình định. Đây là thời gian đất nước được thái bình. Nhà vua cho mở mang dân trí bằng cách đề cao tam giáo và mở trường dạy học, mở khoa thi để chọn người tài giỏi. Năm 1247 khoa thi đầu tiên của triều Trần có thần đồng Nguyễn Hiền 11 tuổi đậu trạng nguyên. Cùng khoa nầy có Lê Văn Hưu (sau nầy là sử gia tác giả ĐVSK) đậu bảng nhãn, Đặng Ma La thám hoa và 48 người khác đỗ thái học sinh. Năm 1250 đổi Đô Vệ phủ thành Tam Ty viện có tầm hoạt động lớn hơn, và cử Lê Phụ Trần (Lê Tần) làm ngự sử trung tướng coi viện nầy.

      Năm 1251, nhà vua đổi niên hiệu từ Thiên Ứng Chính Bình thành Nguyên Phong. Ở trong năm Nguyên Phong thứ nhất nầy, nhà vua cũng làm một việc khá lạ đời. Ông gả em ruột của mình, trưởng công chúa Thiên Thành, cho đứa cháu Trần Quốc Tuấn sau khi phải từ hôn với con trai của một vị thân vương. Năm 1252 có loạn ở biên giới Chiêm Thành, nhà vua tự thân đi dẹp và giao cho người em trai Trần Nhật Hiệu quyền thái úy lưu thủ. Sau khi dẹp loạn trở về, nhà vua bắt đầu nghiên cứu kinh điển phật học. Khóa Hư Lục được nhà vua khởi viết lúc nầy. Cảnh thái bình như thế kéo dài đến năm 1258, thì xảy ra chiến tranh với Mông Cổ.

      Đi qua một chút lịch sử nước Tàu ở giai đoạn nầy để thấy Mông Cổ cách xa Đại Việt mà lại vươn tay gây ra chiến tranh:

      Đầu năm 1230 Oa Khoát Đài, đại hãn Mông Cổ dẫn quân vượt Hoàng Hà tấn công Biện Kinh: thủ đô của nhà Kim đã chiếm của Bắc Tống từ năm 1127. Kim Ai Tông gọi tất cả đạo quân tinh nhuệ về bảo vệ thủ đô nhưng chỉ đến cuối năm thì phải chịu thất bại. Nhà vua nầy chạy về phía nam đến Thái Châu, ở phía bắc sông Trường Giang, lập bản doanh chống lại quân Mông Cổ. Tại đây, Kim Ai Tông cố tìm sự liên minh với Nam Tống sau nhiều đời thù hằn xâm lược. Không những không chấp nhận mà Tống Lý Tông còn liên minh với Mông Cổ để diệt Kim. Điều nầy đã đưa quân Kim vào đường cùng. Tháng 9 năm 1234 Kim Ai Tông tự sát trao ngôi cho hoàng thân Hoàng Nhan Thừa Lân mong cứu vãn tình hình. Chưa kịp an táng cho nhà vua thất thế, thì liên quân Mông – Tống đã tấn công sát tới Thái Châu. Vương thân Thừa Lân tức vua Kim Mạt Đế đem quân ngăn địch. Trong cùng ngày Mạt Đế tử thương, quân Kim hoàn toàn tan rã. Chấm dứt triều đại của dân tộc Nữ Chân cai trị miền bắc nước Tàu 107 năm.

      Diệt Kim, diệt Tống là sách lược của Thành Cát Tư Hãn từ lúc còn sinh tiền. Hậu duệ của ông biết điều đó và các vua nhà Nam Tống cũng biết điều đó. Do vậy, Tình thân hữu Mông – Tống nhạt dần từ liên minh đến kẻ thù. Tống Lý Tông cho củng cố thành Tương Dương và Phàn Thành bên dòng Hán Thủy đề ngừa quân Mông Cổ tiến về phía nam.

      Để tránh qua cửa ải Tương Dương, đại hãn Mông Cổ lúc bấy giờ là Mông Kha đi một lối khác. Ông ta xua quân tiến xuống miền tây Tứ Xuyên (Ba Thục), mà phía đông của nó là chiến trận Điếu Ngư còn đương tiếp diễn. Mông Kha xâm lăng vương quốc Đại Lý (tức vùng tây nam Tứ Xuyên, Vân Nam và nam Quý Châu). Toàn bộ vương quốc nầy rã rệu vào mùa thu năm 1254. Sách lược của Mông Kha là chiếm luôn Đại Việt, và từ mặt nam nầy cùng với mặt tây tấn công Lâm An, thủ đô của Nam Tống. Con đường chiến lược nầy tuy dài, nhưng tránh được bờ đá Tương Dương ở mặt bắc. Và quan trọng hơn, cả vùng Đại Lý, Đại Việt đã ở trong tay thì Nam Tống không thể nào thoát khỏi.

    Đó là nguyên nhân gây ra chiến tranh với Đại Việt. Đầu năm 1258, Mông Kha ra lịnh Ngột Lương Hợp Thai tấn công nước ta từ những căn cứ Đại Lý cũ. Vị thuộc tướng từng thắng trận ở Đông Âu mang gần 3 vạn quân hỗn hợp kỵ và bộ binh vượt qua biên giới. Trong số đó có cả hàng binh Đại Lý đặt dưới quyền chỉ huy trực tiếp của hai phó tướng Trìệt Đô và Hoài Đô. Các làng mạc tây bắc giữa hai dòng sông Lô và thượng nguồn sông Hồng lần đầu tiên chứng kiến gót giày xăm lăng của quân Mông Cổ. Chúng phi ngựa trên triền đồi thành từng đội để mở đường. Bộ binh  theo sau và trải rộng tiến về Bạch Hạc, Vĩnh Phúc. Ngột Lương Hợp Thai nghĩ rằng với địa hình Đại Việt không có núi non hiểm trở như Điểm Thương Sơn của Đại Lý trước đây nên dễ dàng thôn tính hơn. Bên tả ngạn sông Thao (một đoạn ở thượng nguồn sông Hồng từ Yên Bái đến Bạch Hạc) do Triệt Đô tiên phong, bên hữu ngạn sông Lô do Hồ Lã Trừng dẫn đầu. Đại quân đi phía sau giữa hai dòng sông do đích thân Ngột Lương Hợp Thai điều động.

      Với thế quân ào ạt đã từng giẫm trời Tây Á, Đông Âu của giặc đã làm nhà Trần nao núng. Để nâng cao tinh thần binh sĩ, đích thân vua Trần Thái Tông ra trận. Ông điểm một ngàn quân tinh nhuệ tiến về Bạch Hạc cùng chiến đấu với binh sĩ ở tiền đồn Bình Lệ Nguyên. Đi theo nhà vua có thái úy Trần Nhật Hiệu và ngự sử Lê Phụ Trần. Căn cứ thành Phù Lỗ gần thành Thăng Long giao cho Trần Quốc Tuấn và hoàng tử Trần Quang Khải. Nội thành Thăng Long do phụ quốc Trần Thủ Độ và thái tử Trần Hoảng. Lực lượng xung quanh 3 địa cứ nầy được trải rộng với quân số lên đến gần 5 vạn người. Với quân số gần gấp đôi tưởng rằng dễ dàng chận đứng quân xâm lăng Mông Cổ, nhưng diễn biến tình hình không ngờ được. Với lối đánh trực diện liều lĩnh, người và ngựa Mông Cổ vượt qua sông Lô bằng mọi phương tiện: cầu gỗ, cầu tre, thuyền bè, và những khúc sông cạn. Chúng như là cái đích trước những trận mưa tên từ bên này bờ sông, mà như chúng không hề sợ. Vì trời tối đen nên hiệu quả cung tên của quân Trần không cao, quân Mông Cổ vượt được qua sông. Đó là nửa đêm 17 tháng giêng năm 1258 tại căn cứ Bình Lệ Nguyên.

      Vua Trần Thái Tông tỏ ra một tướng quân dày dạn chiến trường, nhưng quân Đại Việt đã không cầm cự nổi với đạo quân tinh nhuệ nhất thế giới lúc bấy giờ. Từ những kỵ mã dũng mãnh gan lỳ mở đường, bộ binh Mông Cổ cứ hàng ngang tiến theo sau. Chúng đã buộc quân Trần phải ở trong tư thế tự vệ. Tướng Lê Phụ Trần cùng vua Thái Tông song song chống đỡ với tướng giặc, nhưng cuối cùng phải rút lui. Họ bỏ căn cứ Bình Lệ Nguyên rút về căn cứ Phù Lỗ. Tại đây, quân số được nâng lên trên một vạn người, nhưng cũng không giữ được. Khi thành Phù Lỗ còn đang chiến đấu ở thế bất lợi vào sáng sớm ngày hôm sau, 18 tháng giêng, thì kinh thành Thăng Long lung lay. Từ tuyến đầu chống địch, vua Trần Thái Tông ra lịnh thái sư Trần Thủ Độ và thái tử Trần Hoảng cho dân quân di tản khỏi kinh thành. Nhà vua hẹn gặp quân tướng ở sông Thiên Mạc, Lý Nhân.

      Ba ngày sau quân Trần từ các nơi kéo về Thiên Mạc, trong lúc đó thì quân Mông Cổ đã tràn vào Thăng Long. Rối bời về một kinh thành phải bỏ ngỏ, vua Trần Thái Tông hội ý các tướng lãnh để có kế hoạch phản công. Thái úy Trần Nhật Hiệu qua 3 ngày chiến đấu đã quá mệt mỏi không còn nói được. Ông ta lấy tay thấm nước viết trên mạn thuyền “nhập Tống”. Ý kiến nầy nhà vua không bằng lòng, nhưng vua Trần Thái Tông vẫn không trách phạt đứa em nầy. Có lẽ vì bị Trần Thủ Độ áp bức từ lúc nhỏ nên đến lúc thực sự nắm quyền, vua Thái Tông có ý niệm về dân chủ rất cao. Ông cho Trần Nhật Hiệu lui về, và tiếp tục hỏi ý kiến người thứ hai: Trần Thủ Độ. Vị thái sư nầy khẳng khái trả lời nên phản công bất luận tình huống là thế nào. Trong đó có một câu nói mà người đời sau thường hay nhắc đến: “Đầu thần chưa rớt xuống đất, xin bệ hạ đừng lo”.

      Nửa đêm ngày 30 tháng 1 năm 1258 lịnh phản công được ban ra. Với lối đánh nhứt điểm tập kích, quân Trần tấn công Đông Bộ Đầu. Dưới quyền tổng chỉ huy của vua Thái Tông, toàn quân nhà Trần gồm thủy bộ tấn công vào cửa ngõ thành đông nầy. Với sự có mặt của nhà vua, thái tử, thái sư Trần Thủ Độ và các tướng lãnh gạo cội nhà Trần, nên tinh thần binh sĩ lên rất cao. Vua quan quân đều xả thân để lấy lại thành. Trong lúc đó quân Mông Cổ rất giới hạn hiệu năng. Họ khó có thể tung hoành kỵ binh trong không gian không phải là đồng trống. Quân Mông Cổ yếu dần sau nửa đêm của trận đánh. Tờ mờ sáng hôm sau, lúc vừa rõ mặt người, chúng thấy lực lượng không còn cân xứng nên mất hẳn khí thế. Giữa cận chiến không thể nào lấy một chọi ba nên đoàn quân xâm lăng quay bỏ chạy. Cuộc rượt đuổi từ thành Thăng Long đến thành Bạch Hạc đã để lại cho quân Mông Cổ một thiệt hại rất lớn. Người, ngựa và binh khí. Tuy nhiên, vua nhà Trần không tiên liệu cuộc chiến kết thúc thuận lợi mau như thế. Ông không có những nút chặn ở miền tây bắc trên đường địch rút lui. Chúng chỉ bị thiệt hại thêm một lần nữa ở cửa ngõ biên giới Quy Hóa bởi một thổ quan người Tày. Dưới trướng vị quan nầy có nhiều quân Đại Lý từng căm hờn Mông Cổ tiêu diệt đất nước họ vào năm 1254. Đó cũng là một dịp trả thù xứng đáng, nâng tổng số quân Mông Cổ tử thương lên tới trên 25 ngàn người, nhiều hơn số tổn thất nhân mạng của quân Trần đến 3 lần.

      Đó là chiến thắng đầu tiên của quân Đại Việt chống đạo quân tinh nhuệ nhất thế giới lúc bấy giờ. Khi ấy nhà vua 40 tuổi và ông quyết định hai việc: Thứ nhất, truyền ngôi cho thái tử Trần Hoảng vừa tròn 18 tuổi để mình trở thành thái thượng hoàng. Đây là tiền lệ để kéo đến những vua đời sau. Thứ hai, nhà vua đem Chiêu Thánh hoàng hậu nay đã bị phế truất gả cho Ngự Sử trung tướng Lê Phụ Trần, người đã sát cánh với nhà vua trong cuộc chiến vừa qua. Quyết định nầy không biết có đem đến niềm vui cho ai không, nhưng chắc chắn vị công chúa cuối cùng của triều Lý mang mang một nỗi buồn khi nghĩ về cuộc đời của mình.

Vua đầu triều Thái Tông Trần Cảnh
Đã lên ngôi mà tuổi còn thơ
Nào ai biết được người vua ấy
Trắc ẩn trong tâm tự bao giờ

Thương người vợ nhỏ Chiêu Hoàng ấy
Ai bắt làm vua giữa biển đời
Tân triều ta biến thành thiên tử
Lý Trần máu lệ những đầy vơi

Thương người anh ruột, anh Trần Liễu
Thương cả chị dâu giọt máu hồng
Làm sao có thể làm sao được
Mà nỡ đan tâm “vị non sông”?

Hỏi ông Thủ Độ tài thao lược
Ta bỏ ngôi cao giữ nếp chùa
Sao xô đạo lý trôi sông nước
Thà mất vàng son không lấy vua

Dừng chân mà nghỉ bên Phả Lại
Qua khỏi Đại Than một bến đò
Đêm thanh Giác Hạnh đường nửa bước
Lối về đất Phật có quanh co?

Ta nghe xao xuyến dòng trăn trở
Đâu ý nhà chùa một ý khuyên
Tình nhà không bận không thiên hạ
Không ta không Phật tự tùy duyên

Thiền môn duyên phận chưa tới lúc
Nào dễ nương theo chốn Phật đài
Trăm mối quanh co vòng thế tục
Mấy người dứt bỏ được trần ai

Tách rời Thủ Độ theo ngày tháng
Thái Tông tỏ rõ một minh quân
Cầu hiền tam giáo đồng khởi sắc
Tinh Phật thiền môn ý sáng bừng

Khóa Hư Lục trước sau còn đó
Thiền Chỉ Nam mất biệt nơi đâu
Lục Thời Sám Hối hồng danh Phật
Khai mở Thiền Tông Việt bước đầu

Thịnh trị trời nam dài một thuở
Hai mươi năm không loạn đao binh
Trong khi phương bắc nhiều biến động
Từ thảo nguyên Mông Cổ bồng bình

Mông Kha đại hãn thừa tổ phụ
Đánh miền nam mà diệt Lâm An
Sang bằng Đại Lý qua Đại Việt
Thu hết đông nam ngắm gió ngàn

Giày Mông Cổ tràn qua biên ải
Đôi song sông nước cuộn sông nao
Bình Lệ Nguyên mờ mờ khói lửa
Máu bên sông là máu lệ nào

Quân nhà Trần đầu xuân thất bại
Bỏ phù sa mà rút về đâu
Hồn thiêng còn đó dài sông núi
Giữ lửa mà đi buổi dãi dầu

Vua ra lịnh đâu đâu khắp xứ
Mang quân về mà tụ Hoàng giang
Bên dòng nước chảy vua hội ý
Thủ Độ kiên gan trước sóng ngàn

“Bệ hạ đừng lo, đầu thần còn đó”
Lấy nguy nan mà cứu nguy nan
Sơn hà không thể vì ta mất
Vạn vạn quân binh khí thế tràn

Dòng Thiên Mạc trong trong bóng nước
Đâu vua tôi đâu sóng trong lòng
Thế giặc mạnh quân thù Mông Cổ
Hồn Đông A một độ Nguyên Phong

Quân nhà Trần một lòng chống giặc
Đông bộ đầu một sớm hôm mai
Tuốt gươm mà tỏ tài quân Việt
Tướng nhà Mông Cáp Đãi chạy dài

Thành Thăng Long trở về chủ cũ
Vua Thái Tông truy thưởng quân binh
Tiếc thay trong cõi ân tình ấy
Phụ rẫy người xưa một khối tình

Vua Trần ngự lại lầu Chiêu Thánh
Người vợ thơ lâu gặp mặt chồng
Phế ngôi hoàng hậu làm công chúa
Nay lại đan tâm tiễn qua sông

Ân tình một độ ân tình cũ
Chiêu Thánh ngày xưa gả Phụ Trần
Người đi người đón người đưa tiễn
Ai xót trong lòng mỗi bước chân?

Thái tông lúc ấy truyền thái tử
Nay đã anh tài thạo kinh bang
Nhà vua giao lại ngôi cửu ngũ
Rút lui mở lệ thái thượng hoàng

_____________________________________

    *Đất trích: Nghĩa chữ “trích” là bị chỉ trích hay bị trách lỗi. Thời xưa các quan có lỗi bị đổi đến một nơi khác, hoặc bị đày đến miền rừng núi hoặc biên địa thì gọi nơi đó là đất trích. Từ nầy được đi vào thi ca lần đầu tiên trong bài Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị. Họ Bạch là một nhà thơ, một nho sĩ đỗ tiến sĩ năm 800 dưới thời Đường Đức Tông bên Tàu, làm tới chức tả thập dị. Ông là người ngay thẳng, thường làm phật lòng các quyền thần lúc bấy giờ. Đến năm 815 dưới thời Đường Hiến Tông ông bị đày đi giữ chức tư mã ở Giang Châu. Tại đây, có một đêm trăng ông tiễn bạn qua bến Tầm Dương ở Trường Giang. Bạn về, ông thơ thẩn một mình thì ông nghe tiếng đàn tỳ bà bên sông. Hỏi ra mới hay đó là của một ca kỹ về chiều. Số phận đưa đẩy cô từ một tài sắc Trường An về đây. Hoàn cảnh hai người giống nhau ở chỗ cùng lưu lạc đến một nơi mà không bằng nơi chốn cũ. Hai người cùng lắng nghe nỗi niềm của người trước mặt bên những tiếng sóng vỗ nhẹ lên mạn thuyền. Tư mã Giang Châu nghe nàng đàn mà thấy trăng, nước, gió, đàn chỉ là một, từ đó lung linh ra muôn vẻ. Bạch Cư Dị đã viết bài Tỳ Bà Hành ngay trên thuyền. Bài thơ có 88 câu, có một đoạn 4 câu nói về đất trích Tầm Dương mà hai người đang sống:

Đồng thị thiên nhai luân lạc nhân
Tương phùng hà tất tằng tương thức
Ngã tòng khứ niên từ đế kinh
Trích cư ngọa bệnh Tầm Dương thành. 

 Nhà thơ Phan Huy Vịnh ở thế kỷ 19 dịch:

Cùng một lứa bên trời lận đận
Gặp gỡ nhau lọ sẵn quen nhau
Từ khi kinh khuyết bấy lâu
Tầm Dương đất trích gối sầu hôm mai. 

      Nếu Tầm Dương là đất trích của Bạch Cư Dị, thì các xứ Yên không thể nào là thang mộc của Hoài vương Trần Liễu. Đó là là một vùng quê hẻo lánh miền đông bắc cách Thăng Long non 100 dặm đường. Phía bắc là các làng Yên Dưỡng, Yên Sinh, Yên Hưng và Yên Bang khô cằn gối đầu lên chân dãy Đông Triều. Phía nam là làng Yên Phụ có dãy núi cùng tên bên một nhánh của dòng Kinh Thầy. Nó tạo ra một vùng phù sa khiêm nhượng. Được biết, tổ tiên xa xưa của dòng họ Trần đã từng sinh sống ở các xứ Yên nầy, nhưng đất đai quá cằn cỗi phải bỏ mà đi về Tức Mặc. Đương thời ở đây không còn dấu tích gì của họ Trần. Nó vẫn là nơi nghèo nàn chưa được khai phá. Nó đang là nơi định cư suốt đời của vị thân vương chưa đầy 27 tuổi. Đó là Hoài vương Trần Liễu. Ông về đây với hai đứa con trai Trần Tung và Trần Doãn và một ít gia nhân. Vợ ông đang là hoàng hậu và đang mang giọt máu của ông mà ông không được quyền thấy mặt. Chắc có những chiều hôm, ông nhìn về Thăng Long với biết bao nhiêu nỗi hận buồn. Chắc có những đêm thanh vắng, ông nhìn vầng trăng  trên cao mà nghĩ đến tờ chiếu chỉ: “Kiến trung năm thứ 12, hoàng đế ban cho Hoài vương đến trấn nhậm vùng đất Yên. Thổ cư, thổ canh ở đây là nơi tổ tiên đã từng khai phá. Nay ban cho Hoài vương làm thực ấp đời đời.”

      Về xứ Yên 14 năm chắc Hoài vương không muốn gặp lại người em Trần Cảnh. Ông chối từ cái tình đó là ông chối từ cái tình tộc họ mà nhà vua là người có ảnh hưởng trùm khắp. Ở xứ Yên, tộc họ sẽ xa lánh ông, ông sống âm thầm như một kẻ bên lề, và có tội. Nỗi đau nầy cũng không hề nhỏ, và nó đan xen trong nỗi đau bị đoạt vợ đoạt con.

      Nếu đem so sánh, trong một đêm trăng buồn bã, Bạch Cư Dị có “đồng thị thiên nhai luân lạc nhân” với nàng ca kỹ, và Hoài vương chỉ có tờ chiếu chỉ bên mình thì nỗi sầu chắc phải nhân lên. Rất tiếc Hoài vương không sính làm thơ, nên ít ai biết Yên Sinh là nơi đất trích đau đớn nhất trên cõi đời nầy. Về sau có một người đàn bà hiểu được ông, và chịu gả cho ông. Ông cưới vợ, sinh con nhưng không xóa được nỗi đau đã và đang từng ngày chảy qua đời mình. Năm 1251, ông chết. Vua Trần Thái Tông phong thụy hiệu cho ông  là Yên Sinh vương. Dù mang tên đất Yên Sinh của tổ tiên hay mang ý nghĩa thăng hoa những yên bình đều không có ý nghĩa. Nó chỉ gợi lên một chỗ lưu đày.

      Nếu người đất trích Tầm Dương có ngày về và được thăng hoa, thì người đất trích Yên Sinh phải bỏ lại xác thân trong sự quên lãng. Vì thế mà người sau không ai trách Hoài vương Trần Liễu với lời trăng trối cuối đời cho đứa con trai Trần Quốc Tuấn:
“Con mà không vì cha mà lấy thiên hạ, thì cha ở dưới suối vàng cũng không nhắm mắt được.”

 

 


<<  |  >>