Skip to content

Chương 14/9

NHÀ LÝ
(1010 – 1225)

Đoạn chín 

LÝ CAO TÔNG: TRIỀU ĐẠI ĐI XUỐNG

 

      Tháng 7 năm 1175 thái tử Long Trát lên ngôi tức vua Lý Cao Tông. Theo di chiếu của tiên đế, đích mẫu Vũ Chiêu Linh và thân mẫu Đỗ Thụy Châu đều được tôn là thái hậu, nhưng quyền nhiếp chính ủy thác cho trọng phụ Tô Hiến Thành. Cuối năm 1177 giặc bể người Chiêm đến cướp phá Nghệ An, và biên cương phương bắc có những cuộc chạm trán nhỏ với quân nhà Nam Tống. Nhân cơ hội đó, Chiêu Linh thái hậu tìm cách ve vãn lão thái phó Tô Hiến Thành đưa phế thái tử Long Xưởng lên ngôi vua. Bà nói rằng nhà vua đương nhiệm còn quá nhỏ, trọng phụ Tô Hiến Thành tuổi đã cao, hai thái hậu không phải là người tài giỏi, nước nhà cần một nhà vua lớn tuổi để yên lòng dân. Một cách nhìn thực tế thì đây là một đề nghị hợp lý, nhưng một mực thái phó họ Tô “xin không được tuân lệnh”.

      Tô Hiến Thành vốn là người cương trực và trung thành với tiên đế Lý Anh Tông nên thái hậu Chiêu Linh không cố thuyết phục nữa. Bà tung ra một số châu báu với một số quan lại khác mà không ai dám nhận. Điều đó làm bà và đứa con trai tự ý tạo ra một cuộc binh biến. Bà hẹn với Long Xuởng từ ngoài mang quân vào. Thái phó Tô Hiến Thành sớm biết ý đồ của Chiêu Linh thái hậu. Ông cho quân lính chặn trên bờ sông Tô Lịch để ngăn cản đạo quân của Lý Long Xưởng. Binh biến không thành, sử không nói có thương vong giữa hai bên hay không, chỉ nói Lý Long Xưởng cho quân lính rút lui. Thất bại, thái hậu Chiêu Linh cũng rút lui, từ đó, bà không can dự vào chính trường. Vô hình trung quyền lực dần dần nằm trong tay thái hậu Thụy Châu, người mà không hề có một chút khả năng về chính trị. Mọi việc bà đều dựa vào những người thân cận và thái phó Tô Hiến Thành.

      Thời gian thấm thoắt qua mau, sau bốn năm, sau mấy mùa bình yên của đất nước thì trọng phụ họ Tô lâm trọng bịnh. Ông đã già, mùa hạ năm 1179 ông 77 tuổi. Lúc này vua Cao Tông mới 6 tuổi, nhà vua tỏ ra là người thông minh, nhưng việc nước không thể nào để trên vai một đứa bé. Hoàng thái hậu Thụy Châu lo sợ, bà xin lão tướng Tô Hiến Thành tiến cử người thay thế. Gián nghị đại phu Trần Trung Tá là người tài đức được đề cử. Tuy nhiên sau khi Tô Hiến Thành qua đời, Đỗ thái hậu không triệu quan gián nghị họ Trần về tham chính. Bà vốn sợ những người không quen biết nên bà chọn người em ruột là Đỗ An Di lên làm thái úy. Di đang giữ chức quan Nội Hiển quốc hầu. Tuy không phải là người tài cao, nhưng họ Đỗ không phải là người vô dụng. Năm 1881, một lần nữa Lý Long Xưởng mang quân về phá rối nhưng thái úy Đỗ An Di dẹp tan. Năm 1882 ông rước Đỗ Kính Tu về dạy cho vua học và mở trường lớp nhiều nơi để nâng trình độ dân trí cho dân chúng. Ông làm thái uý cho triều Lý 9 năm thì qua đời vào năm 1888. Lúc nầy vua Cao Tông đã 15 tuổi và đã lập thiếp là Đàm nguyên phi.

      Khi người thái úy cậu ruột của vua chết đi, Ngô Lý Tín lên thay, nhưng chỉ một năm sau thái úy họ Ngô cũng chết. Vì yêu nguyên phi họ Đàm, vua Cao Tông đem người anh vợ Đàm Dĩ Mông lên giữ chức thái úy. Dưới quan thái úy Dĩ Mông có quan thượng phẩm phụng ngự Phạm Du và binh bộ tướng quân Phạm Bỉnh Di. Cả ba người họ luôn chiều theo những thú vui lãng phí của vị vua trẻ tuổi để sinh ra những sai lầm của triều Lý. Năm 1889, khi vua Cao Tông 16 tuổi, ông đi tuần du khắp nơi. Ông rất tin vào những giai thoại thần thánh dân gian. Chỗ nào nghe nói có thần linh là ông cho xây đền miếu để sinh ra vô số tệ nạn mê tín dị đoan. Nó góp một phần cho việc rối loạn chính trị, nghèo đói và loạn lạc.

      Năm 1192 người ở giáp Cổ Hoàng, Thanh Hoa khởi loạn đã bị dẹp yên, nhưng đã báo hiệu một triều đại bất ổn. Dân chúng bị sách nhiễu bởi quan lại địa phương về việc tăng thuế khoá để xây đền miếu và cung điện cho nhà vua. Năm 1197 ông tiến hành xây cung Nghênh Thiềm trong lúc nạn đói đang hoành hành cả nước. Đó là nguyên nhân gần của cuộc khởi loạn của Ngô Công Lý và Đinh Khả ở Câu Diễn và Đại Hoàng vào năm 1198. Cuộc khởi loạn nầy không có tầm ảnh hưởng lớn nên các quan đại thần Đàm Dĩ Mông, Phạm Du, Phạm Bỉnh Di vẫn bình chân như vại. Họ hùa theo vua xây gác Kinh Thiên vào năm 1203. Đây là một gác đài như một hoàng cung nhỏ càng làm sức dân cạn kiệt. Điều nầy đã đưa đến cuộc khởi nghĩa của Phí Lang và Bảo Lương ở Hoa Lư. Nó có tầm ảnh hưởng lớn hơn những cuộc khởi loạn trước, nên buộc vua Lý Cao Tông  phải chú ý.

      Trần Lệnh Hinh và Từ Nhữ Anh được lệnh mang quân đi chinh phạt. Kết quả hai tướng nhà Lý tử trận và quân triều đình tan rã. Đỗ Kính Tu lúc ấy không còn giữ chức đế sư cho nhà vua, nhận lịnh cầm quân đánh giặc. Kết quả tướng quân họ Đỗ đã dồn được Phí Lang và Bảo Lương vào tử lộ, sau khi quân triều đình hy sinh không ít. Trong lúc binh lính bị thương vong và nhân dân đói rách, nhưng giặc không còn uy hiếp, nhà vua đi chơi tiếp. Ông rong chơi du hí với cung nữ từ cung Nghênh Thiềm đến gác Kinh Thiên. Đó là hai đại hý cung điện, mà mỗi bước chân nhà vua bước tới được tính bằng lương thực của một người trong một năm. Loạn. Dần dần khắp nơi đều nổi loạn không chỗ nào yên. Năm 1207 người Man ở núi Tản Viên đòi không đóng thuế, các làng thổ dân phía nhà Tống phá rối ở biên cương. Đặc biệt hào trưởng Đoàn Thượng chiêu quân ở Thanh Miện, Hồng Châu thành một lực lượng có quy cũ. Ông ta đắp hào lũy và xưng vương sẵn sàng đối mặt với Thăng Long.

      Từ Thanh Miện về Thăng Long không xa, chỉ một ngày tiến quân sẽ tới. Nó nằm ở mặt đông, ngay trước mũi của kinh đô. Vua Cao Tông chợt tỉnh, tức tốc điều binh tiêu diệt. Thanh Miện trở thành điểm đích của 4 đường tiến công. Đường bắc từ Khả Liễu của Phạm Bỉnh Di. Đường đông từ Phù Đái của Trần Hinh. Mặt nam từ Nam Sách của Bảo Trinh. Và, mặt tây, đại quân của Đàm Dĩ Mông từ Thăng Long tiến đến. Thấy quân triều đình quá mạnh, Đoàn Thượng cho người liên lạc với quan thượng phẩm phụng ngự Phạm Du. Họ gặp nhau ở bên bờ Châu Giang. Phạm Du là một quan cận thần có tài thuyết khách và luôn chiều ý vua nên vua rất thương yêu và tin dùng. Kết quả vua Cao Tông bãi binh và tha tội cho Đoàn Thượng. Đổi lại Đoàn Thượng qui hàng triều đình.

      Sau loạn Hồng Châu của họ Đoàn, thì giặc ở biên giới và giặc ở Tản Viên không còn nghiêm trọng. Nhưng, khắp miền đất nước đương đối đầu với một loại giặc nghiêm trọng hơn: Đói. Cơn hạn hán mùa hè năm 1207 đã kéo dài tới cơn bão dữ dội quét ngang trong mùa đông cùng năm. Nông gia cả nước kiệt quệ. Sang mùa xuân năm 1208, khi hoàng tử Sảm 14 tuổi được phong làm thái tử ở triều đình thì nạn đói và nạn cướp như vết dầu loang ở khắp nơi. Ở Nghệ An chết vì đói và chết vì cướp đều là những cái chết vì nhau. Không ai dám cho ai thìa cơm. Không có nơi nào tệ hại hơn ở Nghệ An, nhưng triều đình không có cách giải quyết. Giữa lúc ấy tướng Phạm Du tự nguyện xin đi ra cứu lấy tai hoạ ở đó. Vua Cao Tông cảm động tiễn người nội thần ra đi.

      Chỉ một tháng sau, quan thượng phẩm họ Phạm làm phản. Ông ta chiêu tập quân cướp bóc trong đó có cả binh lính địa phương làm lực lượng riêng của mình. Trong lúc Phạm Du thành lập quân đội riêng làm chủ Nghệ An thì vua Cao Tông được Phạm Bỉnh Di cấp báo. Vị tướng nầy được lịnh mang đại quân tiểu trừ phản nghịch. Khi quân của Phạm Bỉnh Di đến sông Lam thì quân của Phạm Du dùng lối đánh du kích làm thiệt hại không ít. Tuy nhiên đó là đạo quân ô hợp nên đã sớm tan rã. Đa số trở thành hàng binh qui thuận dưới trướng Phạm Bỉnh Di, riêng Phạm Du chạy về nương náu Đoàn Thượng ở Cổ Miệt, châu Hồng. Tại đây Phạm Du tìm cách liên lạc với thái úy Đàm Dĩ Mông để giúp đỡ. Ông dùng tiền bạc lật ngược thế cờ. Theo đó, thái úy Đàm Dĩ Mông minh oan cho Phạm Du rằng ông ta không hề làm phản ở Nghệ An. Vua Cao Tông bèn triệu hai quan đại thần họ Phạm trở về để làm minh bạch. Phạm Du từ Cổ Miệt về trước. Với những tấu trình hợp lý cọng với sự che chở của Đàm Dĩ Mông, ông ta đã làm vua Cao Tông tin rằng Phạm Bỉnh Di mới là người có tội. Phạm Bỉnh Di và con trai là Phạm Phụ về sau liền bị vua Cao Tông đem giam ở Thủy Viên.

      Trong lúc Phạm Bỉnh Di chờ đợi gặp mặt vua để tâu trình, thì tin ông bị hạ ngục đã lọt ra ngoài. Tin nhanh như tên bắn. Một thuộc tướng đã từng được Phạm Bỉnh Di cưu mang từ nhỏ kéo quân vào cung. Đó là Quách Bốc, dũng tướng đạo quân Hà Đông vừa dẹp loạn ở núi Tản Viên trở về. Quân bảo vệ thành Thăng Long không ngăn cản vì họ tin Phạm Bỉnh Di bị oan và họ tin Quách Bốc vào triều minh oan cho chủ tướng của mình. Quân Quách Bốc đi sâu vào cấm thành càng lúc càng đông. Hai đại quan Đàm Dĩ Mông và Phạm Du không hề nghĩ đến tình huống nầy, cho đến khi lệnh của họ không được thi hành triệt để. Binh và chống lẫn lộn đã không còn sức cản đạo quân Quách Bốc. Một cảnh loạn ngầu bất ngờ trong cung mà khó biết được đâu là ta đâu là địch.

      Quách Bốc tiến về Thủy Viên, ông ta sững sờ khi nhận ra hai xác chết của hai cha con Phạm Bỉnh Di, Phạm Phụ. Đâu là vua, đâu là chủ, đâu là đúng, đâu là sai, Quách Bốc không cần biết. Ông kéo thẳng quân vào nội điện. Tại đây không còn ai đủ sức cầm gươm giáo lên để chống cự. Mọi người mạnh ai nấy chạy. Nhà vua vô cùng hoảng sợ đến nỗi khi chạy trốn đã lạc mất cả vợ, cả con. Vua chạy theo Phạm Du về Tam Nông (Phú Thọ) tây bắc. Đàm hoàng hậu dẫn theo thái tử Lý Sảm chạy về Hải Ấp (Thái Bình) đông nam. Hoàng tử Lý Thẩm, con đầu của vua Lý Cao Tông với người tỳ thiếp, ở lại hoàng cung. Ông nầy và thái uý Đàm Dĩ Mông không chạy kịp. Họ ở lại chứng kiến cái sĩ khí của Quách Bốc. Họ Quách đưa thi hài của Phạm Bỉnh Di và Phạm Phụ về Triều Đông an táng: Quách Bốc lấy xe của nhà vua làm xe tang, lấy chiếu của nhà vua lót thi hài vị chủ tướng của mình. Đó là một ngày của tháng 3 năm 1209. Thăng Long trở thành vô chủ.

 

Anh Tông chết sau cơn bạo bịnh
Đứa con thơ ba tuổi lên thay
Long bào vua mặc còn chưa biết
Triều đại ra sao ở độ này

Tô Hiến Thành đôi tay phù tá
Giữ giềng cương tổ quốc được yên
Cuối đời một quyết không hổ thẹn
Kể chi thân, chi chút tước quyền

Tuổi già ai kéo thời gian được
Thượng phụ Hiến Thành phải ra đi
Cao Tông còn nhỏ thơ ngây quá
Ai sẽ vì ai hợp thức thì

An Di được chọn làm thái úy
Không giỏi giang nhưng chẳng phụ tài
Non sông cũng được mùa yên ổn
Suối vàng thượng phụ có nhẹ vai?

Đỗ An Di không bằng Trung Tá
Nhưng là em người mẹ Thụy Châu
Bấy giờ thái hậu vương triều Lý
Thụy Châu, thái hậu Đỗ Thụy Châu

Cao Tông nhỏ tuổi thông minh lắm
Mà đến trưởng thành lại hóa mê
Chọn người phò tá không tài giỏi
Hưởng thú vui chơi mãi chẳng về

Chọn người anh vợ làm thái úy
Anh của nguyên phi gốc họ Đàm
Đàm Dĩ Mông vô tài bất tướng
Hùa theo vua cho túi tham lam

Phạm Du thượng phẩm quan phụng ngự
Binh quyền tướng soái Phạm Bỉnh Di
Cả hai nhà tướng nhiều dị biệt
Chỉ giống chìu vua mọi việc gì

Nghênh Thiềm cung điện bao lãng phí
Gác ngọc Kinh Thiên lắm nỗi sầu
Người chết bên đường cơn đói kém
Lý triều mạc vận sẽ về đâu?

Con qụa đen kia đậu góc ngà
Tha từng cọng cỏ cuối mưa sa
Đem về xây tổ Kinh Thiên tháp
Báo hiệu oan khiên máu lệ nhòa

Giặc giã nổi lên như nấm dậy
Cướp ở đầu đông loạn ở đầu tây
Ở miền Thanh Miện châu Hồng ấy
Đoàn Thượng chiêu binh đắp lũy đầy

Sực tỉnh cơn mơ mùa giặc giã
Cao Tông hạ lịnh chuyển quân đi
Bỉnh Di quân bộ từ Khả Liễu
Đàm Mông sông Đáy đến Tứ Kỳ

Hợp thêm đôi đạo từ Nam Sách
Qua ngã Bình Giang đến Cẩm Giàng
Đoàn Thượng qui hàng trao Thanh Miện
Phạm Du miệng lưỡi bến Châu Giang

Cao Tông cứ tưởng là tâm phúc
Tin ở Phạm Du để giặc hàng
Hai nhà Đoàn, Phạm thông từ đấy
Loạn nào sinh loạn ở Nghệ An?

Phạm Du thấy loạn ở châu Hoan
Cướp giựt ăn xin khắp nẻo đàng
Xin vua ra sức đi dẹp loạn
Mà lại mưu đồ chiếm châu Hoan

Bỉnh Di được cử đi thu nạp
Phạm Du thua trận ở sông Lam
Chạy về Cổ Miệt nương Đoàn Thượng
Chạy mãi về kinh gặp họ Đàm

Tấc lưỡi Phạm Du quả thật hay
Làm sao ai hiểu cách giải bày
Cao Tông tin được lòng trung ấy
Mà Phạm Bỉnh Di nào có hay!

Phạm Bỉnh Di cùng con Phạm Phụ
Bị ngục tù khi mới về kinh
Tin bay ra tới Hà Đông đạo
Quách Bốc sôi gan đáo triều đình

Tướng Quách Bốc vốn là thuộc tướng
Theo Bỉnh Di từ lúc còn xuân
Nghe tin chủ tướng sa cạm bẫy
Đánh thẳng vào cung dấy loạn cuồng

Đâu địch đâu ta đâu non nước
Lý triều vương tơi tả cuộc này
Bỉnh Di ai giết bên thềm đá
Quách Bốc hờn lên cay mắt cay

Chiếc xe vua ngự đem chở xác
Chiếc chiếu hoàng yên gói bọc thây
Triều Đông an táng tình cố cựu
Quách Bốc rưng rưng tiễn biệt nầy

Nhà vua chạy trốn theo họ Phạm
Chạy đến Tam Nông trú họ Hà
Nguyên phi Đàm thị về Hải Ấp
Dẫn theo Lý Sảm vượt đường xa


<<  |  >>