Skip to content

Chương 14/6

NHÀ LÝ
(1010 -1225)

Đoạn sáu

CHIẾN TRANH VIỆT – TỐNG 1077:
TRẬN CHIẾN  BÊN DÒNG NHƯ NGUYỆT

 

      Phá được thành Ung Châu, thì cuộc chiến đã kéo dài tròn một tháng. Lý Thường Kiệt rút quân về. Nhìn cảnh thiên nhiên mênh mông vùng trung Lĩnh Nam mà ông nghĩ đến bao nhiêu chinh chiến đã xảy ra ở đây từ ngàn xưa. Những vuông đất mà đoàn quân ông đang trên đường về vốn không phải của nhà Tống, càng không phải của nhà Hán nhà Tần, nhà Thương xa xưa. Họ đã xâm lăng và giết chết biết bao nhiêu người ở nơi nầy. Từng bước sinh diệt của mỗi triều đại đã kéo theo hàng vạn vạn người. Mạnh được yếu thua đang hiện hữu trên cõi nhân gian nầy. Đất đai nầy đến một ngàn năm sau, một triệu năm sau chưa biết sẽ thuộc về ai, nhưng bây giờ nó đương thuộc Tống. Xa xa về phía tây là lãnh thổ của nhà Đại Lý, trước mặt ông là biên cương Đại Việt. Ông thật sự muốn có một tương nhượng hợp lý để mọi bên đều giữ yên lãnh thổ. Giết nhau không phải là bản tính loài người, nhưng trong chiến tranh không hề có ai khoan nhượng. Và, chính ông đã lặp đi lặp lại nhiều lần. Cái chết của Tô Giám gợi cho ông một nỗi buồn về chinh chiến. Cái khí tiết trượng phu như quyện trong tuyết và trong lửa cùng một lúc. Ông ngưỡng phục Tô Giám và ông cũng nghĩ đến những cái chết vô danh khác mà ông đã thấy. Ở đó có chung một điểm: tang thương. Ngay chính đoàn quân ông ra đi rồi trở về được gọi là chiến thắng, nhưng cũng đem về hàng ngàn chiếc khăn tang. Trong lúc điểm quân ông thấy được ánh mắt đau xót của người thân có những thanh niên trẻ đã ngả xuống.

      Đoàn quân lần lượt đi qua hết địa phận Hoa Nam và bước sang lãnh thổ Đại Việt. Rừng núi Quảng Nguyên bên dòng Ka Long như chào đón người về. Đêm đó họ hạ trại trên rừng biên giới để ngày mai các toán quân trở về đơn vị cũ.

      Lý Thường Kiệt về thủ đô tiếp tục tăng cường quân đội. Tin tức cho biết Tống Thần Tông quyết định cất quân trả thù. Theo đó chúng sẽ dẫn đại quân vào tận Thăng Long và quyết bắt cho bằng được hoàng đế Lý Nhân Tông mới thôi. Để chuẩn bị chu đáo nên một năm sau, tức mùa xuân năm 1077, Tống Thần Tông mới ra lịnh xuất chinh. Vị vua nầy cho rút bốn vạn binh chính quy ở chiến trường Liêu – Tây Hạ về làm lực lượng chính cho cuộc nam chinh. Đạo quân nầy đặt dưới quyền chỉ huy của tuyên phủ sứ Quảng Nam (sau nầy đổi thành lưỡng Quảng: Đông, Tây). Ông ta tên Quách Qùy, và có tướng Triệu Tiết làm phó soái. Từ Khai Phong đến Ung Châu sẽ đón các lộ quân phía nam được tập hợp tại chỗ để bổ sung. Liên quân chính quy và địa phương nầy phối hợp thành một đạo quân chinh nam hùng mạnh. Tổng số lên tới trên năm vạn người.

      Đó là đoàn bộ binh trực chỉ châu Quảng Nguyên. Lộ trình tiến quân sẽ từ Quảng Nguyên, Chi Lăng, Quỳnh Sơn, Yên Dũng, qua sông Như Nguyệt, dọc theo tả ngạn sông Đuống tiến về Thăng Long. Bên cạnh đó, đường thủy đã có hơn một vạn binh đi ven biển vào cửa Yên Giang theo sông Kinh Thầy để phối hợp với bộ binh ở sông Như Nguyệt. Tại đây sẽ cung cấp lương thực và yểm trợ bộ binh qua sông. Thủy quân sẽ rẽ về sông Đuống và song song với bộ binh tấn công Thăng Long. Đạo quân nầy do tướng Dương Tùng Tiên chỉ huy. Trong lúc vua nhà Tống cử quân thủy bộ hùng hổ tấn công, thì nhà Lý lần nầy cũng do tướng Lý Thường Kiệt tổng chỉ huy đối địch. Trừ quân bảo vệ thủ đô, ông chuyển quân các nơi về yểm trợ cho đông bắc. Ông đặt bộ chỉ huy tiền phương ở phía nam sông Như Nguyệt. Nơi đây tướng họ Lý có thể điều quân bảo vệ Thăng Long ở phía nam, và trực tiếp chỉ huy được mặt trận Bắc Giang và Hải Dương. Và, cuộc chiến đã thực sự xảy ra vào tháng hai năm 1077.

      Đoàn bộ binh năm vạn quân của Quách Qùy chia làm hai mặt đông tây của châu Quảng Nguyên tiến sâu vào đất Việt. Phía tây, tức cánh phải do Triệu Tiết chỉ huy hầu như không gặp một sự kháng cự nào. Phía đông, dưới trướng của Quách Qùy còn có hai tùy tướng Khúc Trân và Nhâm Khởi. Khúc Trân xua quân qua Môn Châu ở đông bắc Quảng Nguyên thì gặp tướng nhà Lý, Hoàng Kim Mã chặn lại. Đây là trận chiến áp đảo đầu tiên của quân Tống. Nó chỉ kéo dài chưa tới một ngày và đoàn quân biên giới nhà Lý hoàn toàn bị diệt, tướng Hoàng Kim Mã đầu hàng. Đến ngày hôm sau, tướng nhà Tống là Nhâm Khởi thọc sâu hơn về phía nam Vĩnh An, tướng nhà Lý là Lưu Kỷ không kháng cự nổi phải rút quân về rừng Tô Mậu. Nhâm Khởi đuổi theo đánh tan đạo quân nầy và tướng Lưu Kỷ cũng phải buông gươm khuất phục.

      Diệt được hai cánh quân và bắt được hai tướng, Quách Qùy đồng lúc làm hai việc: Một, ông ta cho thiết lập cơ sở hành chánh ở Quảng Nguyên như một huyện biên cương của Tàu. Hai, ồ ạt tiến quân qua truông Quyết Lý. Tại đây phò mã Thân Cảnh Phúc đang trấn giữ. Khi nghe tin Môn Châu thất thủ, ông đã liên lạc với bộ chỉ huy tiền phương ở nam sông Cầu để xin tiếp viện. Tướng Nùng Tôn Đản được lịnh mang nửa quân số từ nam Đông Triều lên Quyết Lý yểm trợ. Đây là một truông nhỏ phía bắc ải Chi Lăng. Hai đạo quân của phò mã Thân và của tướng Tôn Đản song song chống cự đại quân của họ Quách. Mặc dầu liên hợp để chiến đấu nhưng lực lượng địch quá mạnh, tướng Nùng Tôn Đản bị thọ thương dưới côn pháp của Khúc Trân. Từ đó ông mất tích không rõ đã chết sống ở phương nào (sau nầy có nguồn tin cho biết ông cũng hàng Tống như bọn Hoàng Kim Mã, nhưng đó vẫn còn là nghi vấn). Khi cánh quân Tôn Đản bị tan vỡ, phò mã Thân phải lui về cố thủ ải Chi Lăng và cho người khấp báo về bộ chỉ huy lần thứ hai. Trong lúc tin chưa đến chủ tướng Lý Thường Kiệt, quân Quách Qùy đã nhanh chóng tràn qua ải. Trước một lực lượng quá mạnh, vị tướng họ Thân phải cho quân rút lui. Chi Lăng là một địa thế hiểm trở, chỉ có người địa phương mới biết những con đường tắt di chuyển. Phò mã Thân đã đưa đoàn quân về động Giáp, quê hương cuả ông được an toàn.

      Đại quân cuả Quách Qùy vượt qua chi Lăng đến Quỳnh Sơn, Yên Dũng không còn một sự kháng cự nào nữa. Đó là ngày thứ sáu kể từ khi xuất chinh, lúc nầy đã được tin của phó tướng Triệu Tiết đã đến Lục Sơn (Bắc Giang). Tình hình hoàn toàn thuận lợi cho quân Tống, đạo quân đến trước dọn đường cho đạo quân kế tiếp. Chỉ hai ngày sau, hai đạo quân của chủ và phó soái của nhà Tống đã bắt tay được nhau trên bờ sông Như Nguyệt. Họ hoàn toàn làm chủ mặt bắc của sông nầy. Phía tây, họ kiểm soát đến Mai Đình. Phía đông, họ dàn quân tới sông Phả Lại. Quách Qùy cho kiểm điểm lại quân số, có thể gọi là chưa từng hao hụt. Ông ta cho khao quân lần đầu từ khi xuất phát viễn chinh. Đó là lúc dân chúng ở Như Nguyệt tất tả di tản lên mạn ngược, hoặc tìm cách qua sông.

      Sông Như Nguyệt là tên gọi đoạn cuối của sông Cầu để nhập vào Lục Đầu giang. Nó có hai bến đò ngang qua lại. Bến Như Nguyệt ở phía trên và bến Thị Cầu ở phía dưới. Chúng chỉ cách nhau chừng vài dặm đường, và Thị Cầu nhộn nhịp hơn với cả đò ngang và đò dọc. Đò ngang qua sông lấy đường bộ về Tiên Du, Phù Chẩn để đến kinh thành Thăng Long. Đò dọc đến sông Lục Đầu. Nơi đây có thể về đông bắc theo sông Thương và sông Lục Nam. Về biển Đông theo sông Kinh Thầy và sông Thái Bình, và về kinh thành Thăng Long theo dòng sông Đuống. Trên bờ bắc sông Như Nguyệt, Quách Qùy cho thiết lập hai doanh trại ở hai bến đò nầy. Tre, gỗ được trưng thu, nhân công được trưng dụng kể cả phụ nữ, trẻ em và người già. Mặc dù dân làng đã bỏ trốn nhưng không thể nào chạy hết. Mỗi ngày có tới vài trăm dân công xây đắp thành lũy dưới sự sai khiến của quan quân nhà Tống. Lúc nầy thì sự chạy trốn đã quá muộn, nhưng có người đã liều lĩnh như thế. Họ bị đánh đến chết ngay trước mặt những người đồng hương của mình, làm mọi người phải thuần phục. Quách Qùy cho thiết lập một bộ máy hành chánh, mà những chức sắc lấy từ những cai đội dưới quyền. Ông ta thật khéo léo để mau chóng tạo ra một guồng máy có trật tự. Không thể nói khác hơn đây là sự đô hộ của quan tuyên phủ sứ. Người ta có cảm tưởng như ông ta đang khai mở một thuộc điạ ở đây. Ông ta đương chờ cánh quân thủy để tiến qua sông chiếm Thăng Long. Giấc mơ của kẻ chinh phục.

      Nhưng, Quách Qùy không bao giờ thực hiện được giấc mơ ấy. Tướng Lý Thường Kiệt đã từng bước phản công. Hai tướng Hoàng Kim Mã; Lưu Kỷ đầu hàng, và sự mất tích của tướng Nồng Tôn Đản là một tổn thất rất lớn đối với ông. Họ đã kéo theo gần như toàn bộ cánh quân đông bắc trừ cánh quân của phò mã Thân Cảnh Phúc. Bên cạnh lòng yêu nước, tướng Lý Thường Kiệt còn nhận ra rằng nếu thất bại trận chiến nầy là mất Thăng Long, mất tất cả. Ông quyết định lấy bờ nam của sông Như Nguyệt làm tuyến phòng thủ để tấn công.  Địa thế phía nam của sông nầy chia làm hai phần rõ rệt. Ở thượng nguồn, đồi núi tạo ra như một thành lũy, rất khó cho một cuộc tiến quân từ bờ bắc. Lý Thường Kiệt đặt một đạo quân hơn ba ngàn người ở đó do tướng Vi Thủ An chỉ huy. Ở hạ nguồn mọi thứ có vẻ bình yên hơn nhưng lòng sông rộng hơn. Một màu xanh thẳm mênh mang về tới Phả Lại bên kia sông Lục Đầu. Bắt tay với tướng Vi Thủ An là tướng Lý Thường Hiến. Phần còn lại đích thân tướng Lý Thường Kiệt điều động. Ba đạo quân nầy lên tới bốn vạn người đang đối diện với bờ bên kia sông của Quách Qùy và Triệu Tiết.

      Hai tướng nhà Tống không thể xua quân qua sông nếu không có thuyền của hải quân đưa qua. Lý Thường Kiệt biết được yếu điểm đó, ông quyết phá tan cánh quân thủy của địch trước khi chúng đến Như Nguyệt.

      Những chiến thuyền nầy đã vào cửa Yên Giang, qua đoạn Bạch Đằng và trên đường ngược dòng sông Kinh Thầy. Chúng phải qua Mạo Khê, Kinh Môn, Đông Kênh, Vạn Xuân, Phả Lại mới đến Như Nguyệt. Tướng Lý Thường Kiệt hạ lệnh hai hoàng tử Hoằng Chân và Chiêu Văn đang ở Vạn Xuân xuất phát. Họ tức tốc mang thủy binh đến yểm trợ tướng Lý Kế Nguyên ở Đông Kênh. Đây là khúc sông bắt buộc quân của Dương Tùng Tiên phải đi qua. Mặc dù ở đây không cắm cọc ở lòng sông như ở Bạch Đằng của Ngô Quyền thuở trước, nhưng thủy quân của nhà Tống không thể nào nhích thêm một được một chèo tay. Thuyền quân Nam xuôi dòng và tên quân Nam bắn từ hai bờ làm quân nhà Tống chống trả trong thế bị động. Cuộc thủy chiến xảy ra rất ngắn. Sau khi ít nhất 10 chiến thuyền bị chìm, quân Tống quay đầu bỏ chạy. Đuổi được thủy quân Tống, đạo quân của tướng Lý Kế Nguyên tiếp tục án ngữ sông Kinh Thầy, hai hoàng tử họ Lý mang quân về Như Nguyệt.

      Tại Như Nguyệt sự chờ đợi đã qua một tuần trăng, hai bên ghìm nhau mà chưa bên nào dám qua sông trước. Quân nhà Lý đã biết mình thắng trận ở Đông Kênh, nhưng quân nhà Tống thì chưa hề hay. Trong lúc ấy thì lương thực đã cạn dần, quân của Quách Quỳ đã bắt đầu có những bửa ăn từ nông phẩm địa phương. Trước tình thế ấy, một thuộc tướng của Quách Qùy tên Miêu Lý xung phong tấn công qua sông. Ông ta có tiếng là dũng mãnh. Mười ngàn quân binh được chuẩn thuận và những bè gỗ được thiết lập. Tướng Miêu Lý và phó tướng Vương Tiến thành công ngoài dự liệu, những toán lính phiên tuần của nhà Lý đã bỏ chạy khi đơn vị đầu tiên của quân Tống bước lên bờ nam. Quân nhà Tống có vẻ bất lợi hơn, nhưng lại thành công. Họ không ngờ sự canh phòng của địch lại tồi hơn họ nghĩ. Khi trời hừng sáng, hơn vạn binh Tống đã sang sông và quân nhà Lý không cầm cự nổi. Hai tướng họ Miêu và họ Vương so le nhau yểm trợ để tiến xa về phía nam. Nơi đây là một cánh đồng dâu xanh thẳm có những gò đất đá vôi nhô lên. Ở đó quân Lý ẩn núp để bắn những mũi tên du kích. Thật dễ dàng để quân Tống chiếm những ổ kháng cự nầy.

      Khi mặt trời lên cao thì quân của họ Miêu và họ Vương tiến tới chân núi Thất Diệu ở Yên Phong. Họ chưa kịp nghi ngờ ở những góc núi thấp nầy có lực lượng chống trả hay không, thì họ bị phản công. Từ trong lòng núi quân Lý đổ ra như một đàn ong vỡ tổ. Quân Lý đông vô kể, không chỉ từ núi Thất Diệu mà còn từ ở các làng xung quanh. Một bãi chiến trường cận chiến cứ lan dần ra. Dù đã tới mười ngàn quân, nhưng quân nhà Tống so ra vẫn ít hơn quân nhà Lý. Hai bên đã có những thương vong ngay phút đầu mà phần thiệt hại tăng dần về phía nhà Tống. Cuộc chiến kéo dài đến tối thì quân Tống đã chết đến hai phần ba, và số còn lại cố rút chạy trở lại bờ sông. Họ lội ra giữa dòng và được đồng đội đưa bè ra cứu thoát. Họ là những người may mắn, trong đó có tướng Miêu Lý.

      Đó là trận chiến thứ nhất bên sông Như Nguyệt. Quách Qùy nhận biết sẽ không thành công nếu không có phương tiện qua sông đồng loạt. Ông ta quyết định tiếp tục chờ thủy quân, nhưng lương thực cứ cạn dần. Lượng những phần cơm đã được bớt lại, nên sự trộm cướp ngay trong hàng ngũ lại tăng lên. Bên cạnh đó, có người nhất định đã nghe một bài hịch từ dưới lòng sông vào những lúc nửa đêm, nói rằng quân Tống sẽ thất bại:

“ Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư!” 

      Ngay cái thời điểm vô cùng bất an và thiếu thốn nầy thì quân Lý phản công. Tướng Lý Thường Hiến nhận lịnh đưa quân về thượng nguồn để qua sông. Tại đây sẽ phối hợp với đạo quân của tướng Vi Thủ An đã án ngữ từ trước. Họ tiến xuống Mai Đình và tiếp theo tấn công doanh trại Như Nguyệt của Triệu Tiết. Ở mặt đông, thủy quân của hai hoàng tử họ Lý làm cầu tiếp vận đưa đạo quân của tướng Lý Thường Kiệt qua sông. Thủy bộ phối hợp tấn công doanh trại Thị Cầu của Quách Qùy. Giờ tấn công ở hai nơi được chọn vào lúc quá nửa đêm vào đêm cuối tháng hai năm 1077. Liên quân của tướng Vi Thủ An và Lý Thường Hiến chiếm được yếu tố bất ngờ nên đã sớm chiếm được ưu thế. Họ ép quân của Triệu Tiết về một phía và giải vây toàn bộ số dân công bị nhốt ở đây. Cuộc chiến kéo dài đến tờ mờ sáng thì quân nhà Lý đã làm chủ doanh trại Như Nguyệt. Triệu Tiết kéo bại binh chạy về doanh trại Thị Cầu.

      Khác với Như Nguyệt, tại Thị Cầu quân nhà Lý bị yếu thế ngay từ phút đầu. Thuyền quân của hai hoàng tử họ Lý làm cầu thủy vận đã bị tên bắn xuống như mưa. Quân Tống ở đây không hề mất cảnh giác. Dù quân Nam đã núp ở dưới những khiên mây để chèo thuyền nhưng để được lên bờ không hề dễ. Từng chiếc thuyền cập sát bờ, nhưng người lên bờ không được bao nhiêu. Nước và đất đều có máu của quân Nam. Khó khăn lắm họ mới làm được cầu nối tới doanh trại địch. Bắt đầu có những cận chiến ở xung quanh hào lũy. Quân Đại Việt tiếp tục tràn lên, và bây giờ không còn phải tiêu hao như lúc mới đầu. Họ dồn lực lượng vào hai mặt tây và nam. Họ thực sự đụng độ với quân chủ lực Tống đến từ chiến trường Tây Hạ. Cả hai bên đều nhìn thấy những bạn đồng đội chết ngay chân mình. Xác người nhiều vô kể trong đó có cả xác của hoàng tử Chiêu Văn. Cuộc chiến từng ngày qua từng ngày. Tiến và lùi đều đẫm mồ hôi và máu. Qua đến ngày thứ bảy thì doanh trại của quân Tống bị vỡ một phía, nhưng quân lính hai bên hoàn toàn kiệt sức. Mùi cháy khét trộn với mùi xác người phân hủy loang cả một vùng. Điều ấy được đưa đến thỏa hiệp ngưng chiến.

      Trong lúc thu dọn chiến trường và nghỉ ngơi để đợi quyết định tối hậu của hai nhà vua, thì trong thâm sâu của tướng lĩnh hai bên không ai còn muốn tiếp tục chiến đấu. Được lịnh từ Lý Nhân Tông và Tống Thần Tông, quân Quách Qùy rút lui về, mỗi bên tự chịu thiệt hại về chiến tranh. Có một điều trong văn tự đình chiến nầy không nhắc tới, đó là số phận của châu Quảng Nguyên đã bị chiếm gần hai tháng trước. Điều này đã gây nên cuộc tranh chấp về sau. Tổng kết số quân nhà Lý mất đến trên một vạn người, và hai tướng lãnh. Đó là hai hoàng tử Chiêu Văn và Hoằng Chân. Quân nhà Tống mất hơn hai vạn quân lính và 3 tướng lãnh đã chết: Lý Tường, Diên Chủng và Yên Đạt.

      Lúc cuộc chiến chấm dứt, hoàng đế Nhân Tông mới 12 tuổi. Triều đại đã trải qua một cuộc chiến tranh tốn nhiều xương máu chưa từng có từ trước. Tuy thế, Linh Nhân hoàng thái hậu và thái sư Lý Đạo Thành đã giúp vua Nhân Tông phát triển đất nước. Việc đắp đê để chống lụt và việc thi cử để chọn người tài là hai việc điển hình. Năm 1075 đã mở khoa thi về nho học. Vì rằng chưa có tam khôi để định ngôi thứ như các thời kỳ sau, nên học vị tiến sĩ trong lần đầu tiên nầy chỉ chọn một người đỗ đầu. Đó là trạng nguyên Lê Văn Thịnh.

      Lê Văn Thịnh không phải là người danh gia vọng tộc, nhưng văn thơ, thao lược đều uyên bác. Sau khi đổ đầu khoa thi đầu tiên trong lịch sử mà được gọi là Minh Kinh Bác Học, ông được vào triều làm quan. Đầu tiên ông giữ chức thái phó chăm lo việc học hành của vua  rồi sau đó thăng chức thị lang bộ binh. Đến năm 1084, giữa lúc đất nước thanh bình và nhà vua đã được 18 tuổi, ông được cử đi sứ đòi lại phần đất ở châu Quảng Nguyên. Ông đã đem những chi tiết trong bản hòa ước được lập thành giữa Lý Thường Kiệt và Quách Qùy năm 1077 để bàn cãi lại với chánh sứ nhà Tống là Thành Trạc. Theo đó thì khi rút quân về, nhà Tống phải rút cả lực lượng ở Quảng Nguyên chứ không phải chỉ ở Như Nguyệt. Quân Tống đã cố tình lập lờ vùng biên giới. Chúng vẫn đóng quân ở sáu huyện ba động ở châu Quảng Nguyên. Lê Văn Thịnh đã khôn khéo mềm mỏng dành lại hết vùng đất đó. Bù lại, vua nhà Tống được tặng năm con voi trắng hiếm qúy của rừng tây bắc. Đó là sự thành công rất lớn về mặt ngoại giao của Lê Văn Thịnh để năm sau, năm 1085, ông được cử giữ chức thái sư. Ông tiếp tục giữ chức vụ nầy mười năm trong thời kỳ hưng thịnh của nhà Lý.

      Trong suốt mười năm không thấy ghi thêm thành tích gì của thái sư Lê Văn Thịnh nữa. Tự nhiên, đến một hôm xảy ra vụ án Dâm đàm. Lúc nầy vua Nhân Tông đã 30 tuổi và có thú đi câu trong lúc nghỉ ngơi. Hôm ấy vào một ngày tháng 3 năm 1096, nhà vua đến hồ Tây (Dâm đàm) câu cá như mọi lần. Thình lình khói sương bỗng nổi lên dày đặc trên mặt hồ, nơi thuyền vua đang ngự. Trong đám khói sương ấy nhà vua nghe có tiếng chèo rất gấp về phía mình. Nhà vua lo sợ, bèn rút kiếm quơ ngang. Khói sương tan và hiện ra gần mình một chiếc thuyền có con hổ lớn định vồ nhà vua. Một người đi câu gần đó là Mạc Thận kịp thời đánh hổ cứu vua. Hổ thua, hiện nguyên hình là thái sư Lê Văn Thịnh. Mạc Thận có công cứu nhà vua được cấp đất ở hồ Tây làm thực ấp. Lê Văn Thịnh mang tội mưu sát vua, nhưng là đại thần có công lớn nên được tha chết. Ông bị đày đi Thao Giang đến cuối đời. Nguyên nhân và diễn tiến vụ án dường như không hợp lý nhưng chuyện đã khép lại không bao giờ mở ra. Đời sau không ai biết nguyên nhân thật sự của việc biếm truất nầy.

      Bên cạnh việc mất một người tài ba phụ giúp, vua Lý Nhân Tông còn không có đường may mắn về con cái. Ở hậu cung xuất hiện ít nhất là ba người vợ: Khâm Thiên, Lan Anh và Chấn Bảo nhưng đều không có con. Ông chờ đợi hoàng hậu và các thứ thiếp cho mình một hoàng nam để truyền ngôi nối dõi tông đường, nhưng điều đó không xảy ra. Đến năm 1117, lúc ấy nhà vua đã trên năm mươi tuổi, ông biết mình không thể có con, ông chọn các con trai của các hoàng thân để làm con nuôi. Lý Dương Hoán, con trai của Sùng Hiền hầu là một trong các nghĩa tử đó, được chọn làm thái tử.

Đường về nghĩ đến ngày chinh chiến
Ân oán đi theo tiếp nợ thù
Giá như không đánh thành quách ấy
Xác Việt rơi đầy như lá thu

Yên lòng mà đợi nơi thổ quốc
Ngày tháng trôi qua như gió bay
Sang năm cũng lại mùa xuân ấy
Giặc bắc xâm lăng ở một ngày

Quân nhà Tống chia hai thủy bộ
Đi nam chinh để trả bắc chinh
Hẹn nhau bờ bắc dòng Như Nguyệt
Sẽ tiến Thăng Long dội sóng kình

Đường sông nước Tùng Tiên thủy tướng
Quân đường rừng nhà Tống chia hai
Tướng quân phó soái là Triệu Tiết
Từ Bình Gia tiến bước miệt mài

Bên đông ải Quách Qùy chủ soái
Có Khúc Trân đánh trận Môn Châu
Ở đây Hoàng Mã buông khí giới
Nhà Tống nam chinh thắng trận đầu

Hàng Tống không riêng tướng họ Hoàng
Bên đông Nhâm Khởi chiếm Vĩnh An
Chiếm sang Tô Mậu rừng đông bắc
Lưu Kỷ buông gươm chịu phục hàng

Quân nhà Tống đi qua Quyết Lý
Ải truông treo mờ mịt khói sương
Ở đây Cảnh Phúc cùng Tôn Đản
Dàn trận song song đánh chặn đường

Nùng Tôn Đản thọ thương mất tích
Phò mã Thân lui giữ Chi Lăng
Nhớ xưa tiên Tống từng bại tử
Họ Quách miên man một vết hằn

Kai Kinh rừng thấp đường quan ải
Mấy người còn lại mấy người hay
Quân Nam bỏ ngỏ chiều đông bắc
Có trách người thua thế cuộc này

Quách Qùy vượt ải Chi Lăng sớm
Được tin Triệu Tiết tới Lục Sơn
Dọc đường nam tiến như vũ bão
Đồi núi mang mang đứng ngậm hờn

Trước sau Triệu – Quách bờ Như Nguyệt
Tin tức miền đông vẫn chưa về
Dường như yên tĩnh dường như động
Nào biết Đông Kênh chặng sơn khê

Đông Kênh nước chảy về Đông Hải
Như thể Tràng Kênh thuở Ngô Quyền
Thuyền ai rẽ sóng đi đâu đó
Có biết nơi nầy có Lý Nguyên

Trận thủy chiến không chìu tướng Tống
Cuộc so gươm một giấc thênh thang
Đoàn quân bắc Tống hờn con nước
Sóng vỗ mà nghe tiếng gọi hàng

Dương Tiên không chết nhưng không tới
Thuyền quanh co lạc nẻo sông dài
Hẹn không đến bên bờ Như Nguyệt
Cuộc trường chinh ai sẽ về ai

Dài sông nước mênh mông cách trở
Mùa là xuân sao có gió đông
Quân thủy nơi nao không thể đợi
Vượt qua sông mà tới sông Hồng

Nam Như Nguyệt quân Nam canh giữ
Chờ bè tre quân Tống qua sông
Cầm chừng mà đánh cho thua trận
Chạy đến Yên Phong mấy cánh đồng

Đồng Thất Diệu gió lay hiu hắt
Lằn phương nam dừng lại phản công
Tướng nhà Tống họ Miêu lâm nạn
Cố thoát thân giữa loạn máu hồng

Quân nhà Tống rối bời chiến trận
Đường qua sông khó lối trở về
Tên bay từ lũy chen chân núi
Sông Cầu thức dậy trả hồn quê

Từ khi quân Tống mang quân tới
Ngọn gió điêu linh cứ mãi lùa
Lê dân oằn gánh đau xâm lược
Chịu nỗi điêu tàn phận yếu thua

Mùa thóc lúa giăng ngang hào lũy
Sức tàn dân xây đắp quân doanh
Một dòng Tống địch kiêu căng tới
Một kiếp dân đen dạ phải đành

Nhưng quân Tống cũng ganh nỗi khó
Mùa trăng qua đã mấy nợ nần
Ra đi trả nợ thù chinh bắc
Lẽ nào nam tiến hóa phù vân

Một trận thử chừng thua quân Lý
Tướng Quách Qùy đã rõ nông sâu
Tưởng rằng chiến thắng giong vó ngựa
Lần lữa ngày qua bến Thị Cầu

Đứng dậy qua sông chẳng thể ngồi
Lịnh vua nào dễ để buông trôi
Ai đem Như Nguyệt mà ngăn cách
Đã hết thời gian đứng lại rồi

Lý Thường Kiệt nhân tài thế kỷ
Biết lòng quân nhà Tống nao nung
Đêm đêm tiếng vọng từ đâu đó
Lời hịch truyền đi giữa lạnh lùng

Quân nhà Tống càng thêm nản chí
Giỡn Nam thần không dễ toàn thây
Quách Qùy ra lịnh an binh tướng
Thì lúc quân Nam khởi trận nầy

Quân thủy bộ nửa đêm vượt tuyến
Bến Thị Cầu lớp lớp sương bay
Bên sông hào lũy đen như mực
Mà thế đôi bên đã sẵn bày

Tiếng vọng “Sơn hà Nam Đế cư…”
Như đâu thức dậy giấc ngủ nhừ
Giáo gươm không tỉnh hồn trận mạc
Vẫn ngỡ sa trường giữa thực hư

Quách Qùy tướng Tống thân giao chiến
Thấy lính quân Nam dậy khắp trời
Mới hay Như Nguyệt đồn Triệu Tiết
Số phận điêu tàn rách tả tơi

Lý Tường, Diên Chủng cùng Yên Đạt
Ra sức tung hoành gấp phản công
Hai bên chiến đấu cầm ngang lệch
Chồng xác lên nhau trước gió bồng

Tiếng hò réo gọi hồn Như Nguyệt
Chứng giám quân Nam giữ nước non
Đông tây từng lúc tăng quân tới
Đại Việt Thăng Long quyết sống còn

Du kích đã quen từng núi đá
Người thổ cư lính trận qua sông
Một miền bắc ngạn quân ta tiến
Diệt Tống xâm lăng trả máu hồng

Quân Đại Việt ngợp hồn dân tộc
Mảnh thân yêu từng bước trận tiền
Tống quân triệt thoái lui từng lớp
Bến đò Như Nguyệt giải oan khiên

Dân công dân nữ bao ngày chết
Nước mắt vui mừng sớm tinh mơ
Ngọn cờ Đại Việt trên cao tháp
Quân Tống xua nhau chạy khói mờ

Bến Như Nguyệt không còn quân Tống
Thu giáo gươm mà rút Thị Cầu
Vầng đông thức dậy soi trận chiến
Hỏi hồn xa xứ sẽ về đâu

Thị Cầu đối trận quân chủ lực
Gươm giáo tung hoành lộng gió bay
Hai bên nhuộm đỏ từng vuông đất
Trận chiến giao tranh suốt những ngày

Lý Thường Kiệt thu quân Đại Việt
Tống Quách Qùy gom lại tàn quân
Điểm nhau mà hỏi bao người chết
Hơn thiệt tranh nhau có chịu dừng?

Quân phương bắc mất ai danh tướng
Quân phương nam ai nỡ lìa trần
Chiêu Văn thọ tử từ sương sớm
Xế tà ngả gục tướng Hoằng Chân

Nhân Tông hay được tin chiến trận
Mà xót quân thần thủy bộ binh
Linh Nhân thái hậu ươm ý chúa
Hoà với bắc phương dịu tình hình

Tống Thần Tông không lòng thủ chiến
Quân Khiết Đan dòm ngó thủ đô
Dương oai mộng cũ thôi đành bỏ
Riêng cõi trời ai nấy cơ đồ

Trời nam từ ấy thôi chinh chiến
Khởi sắc minh kinh bác học khoa
“Tiến sĩ khai hoa” Lê Văn Thịnh
Hai năm về trước nở sáng lòa

Binh bộ thị lang người khoa cử
Văn Thịnh hùng tranh lấy đất về
Ba động sáu châu miền đông bắc
Trở về đất Việt dặm sơn khê

Phải chăng tạo hoá ganh khanh tướng
Mà chịu oan lầm thí sát vua
Lịch sử phân minh không rõ nét
Hình như oan khuất lẩn gió lùa

Con hổ nào đâu ở Dâm đàm
Tây hồ sương tỏa nắng mây lam
Thuyền câu vua ngự trên khói nước
Chiếc lưới oan khiên, một vết chàm

An trí Thao Giang đến cuối đời
Âm thầm đứng lặng chiếc lá rơi
Phù du khanh tướng như phấn thổ
Ai hiểu cho ai những tiếng đời

Lý Nhân Tông nửa phần thế kỷ
Chấn phong ba lần lược hãy còn
Biên thùy nam xứ chưa yên ổn
Phi hậu ba người lại không con

Lý Dương Hoán vừa tròn hai tuổi
Con Sùng hầu gởi thác hoàng huynh
Ba mươi năm đổi kiếp ân tình
Chút hý vọng đời sau gặp nạn


<<  |  >>