Skip to content

Chương 14/5

NHÀ LÝ
(1010 – 1225)

ĐOẠN NĂM

CHIẾN TRANH  VIỆT – TỐNG 1075:
LÝ THƯỜNG KIỆT PHÁ THÀNH UNG CHÂU

 

      Năm 1075 khi đất nước được lèo lái bởi hoàng thái hậu Ỷ Lan, thì nhà Tống phương bắc lăm le sang xâm chiếm nước ta. Vua nhà Tống lúc bấy giờ là Tống Thần Tông. Ông ta làm chủ toàn lãnh thổ mênh mông nước Tàu, nhưng lúc bấy giờ đã bắt đầu suy yếu. Liêu quốc và Tây Hạ luôn luôn khuấy rối và uy hiếp. Theo ý của tể tướng đương triều Vương An Thạch là đánh phương nam thay vì phương bắc. Vương An Thạch thuyết phục nhà vua rằng sau khi thắng Đại Việt phương nam thì uy lực nhà Tống sẽ lên cao, làm nước Liêu và Tây Hạ phương bắc phải sợ. Tống Thần Tông nghe theo, và xuống chiếu ra lịnh quan châu trị Tô Giám ở Ung Châu (Nanning) chuẩn bị quân lương và binh lính để nam chinh. Quân từ kinh đô Khai Phong sẽ kéo xuống, nhưng quân điạ phương của Liêm, Khâm, Ung châu đặt dưới quyền tổng chỉ huy của Tô Giám mới là lực lượng chính.

      Nhận được chỉ dụ của nhà vua, Tô Giám chiêu tập thêm nhiều tân binh từ phu muối và nông dân. Theo chỉ dụ tuyển quân phải giữ bí mật để giành yếu tố bất ngờ. Rất tiếc, những chuẩn bị nầy không dấu được Đại Việt. Những liên hệ từ thời Nùng Trí Cao đánh qua Ung Châu, vẫn còn với người dân châu Quảng Nguyên và châu Lạng. Qua đó, đội tình báo biết rõ tình hình Ung Châu. Thái úy Lý Thường Kiệt rà xét lại, trình vua Nhân Tông và Linh Nhân hoàng thái hậu. Thái hậu Ỷ Lan giao cho ông được toàn quyền quyết định. Trong lúc quân của Tô Giám chưa sẵn sàng, Lý thường Kiệt tấn công trước. Tháng 11 năm 1075 ông mang hơn 3 vạn binh chia làm 4 đường tràn qua biên giới Tàu. Đạo quân thứ nhất, do Nùng Tôn Đản dẫn quân đến án ngữ phía tây đón đường tiếp viện của địch. Đạo quân thứ hai do ông trực tiếp chỉ huy tấn công thành Ung Châu. Đạo quân thứ ba do Vi Thủ An tiến đánh Khâm Châu (qinzhou). Đạo quân thứ tư do phò mã Thân Cảnh Phúc tập kích châu Liêm (Hiệp Phố, Behai). Hai đạo quân thứ ba và thứ tư không gặp lực lượng chính của địch, sẽ được điều động tiếp ứng đạo quân thứ hai của Lý Thường Kiệt.

      Đó là thời gian giá lạnh mùa đông năm 1075. Quân Tống không hề nghĩ có cuộc bắc chinh từ phương nam. Khi hai đạo thủy quân của họ Thân và họ Vi vượt qua eo biển Khâm Châu tiến sát địa phận của châu Liêm thì hai thủ phủ ven biển nầy còn bàng hoàng. Cuộc chiến đồng loạt xảy ra chỉ trong một thời khắc hừng đông, và quân Đại Việt làm chủ tình hình. Đây là một cuộc tập kích ngoài lãnh thổ thành công chưa từng thấy. Quân Tống ở đây đã ít mà còn ỷ y vào thời tiết. Chỉ trong một buổi sáng, châu trị của hai châu nầy đều bị đốt cháy. Các tướng giữ thành Lỗ Khánh Tôn, Trần Vĩnh Thái đều bị tử thương. Quân tướng còn lại chạy thục mạng không ai đủ sức để nhìn lại. Sự cướp bóc ở ngoại thành không hề xảy ra, nhưng hàng trăm con ngựa được tập trung để chở lương thực về Ung Châu. Ngay chiều hôm đó đoàn quân chiến thắng lên đường. Sau lưng họ là những đám bụi khói của một ngày đông còn lại.

      Đoàn người ngựa ngày đi đêm nghỉ, và không gặp một cản trở nào. Hai ngày sau thì họ gặp cánh chủ lực của thái úy Lý Thường Kiệt từ biên giới kéo lên phía đông Ung Châu. Ngay lúc nầy thì tướng nhà Tống là Tô Giám của thành nầy đang phối kiểm tin tức. Dồn dập những bất lợi dường như đang bao vây ông. Ba mặt đông, nam và tây địch quân đang tiến lại gần, trong khi liên quân cơ hữu Ung Khâm Liêm hết một nửa là tân binh còn thụ huấn. Tình hình cho biết  thành Ung Châu bị cô lập, ông lập tức cấp báo về thủ đô. Được tin, Tống Thần Tông ra lịnh Lưu Di, tri châu Quế Châu, cho binh cứu viện. Lưu Di cử quan đô giám Trương Thủ Tiết dẫn quân tiến về Ung Châu. Khi đoàn quân họ Trương tới ải Côn Lôn ở chân núi Hỏa Giáp thì dừng lại nghe ngóng. Trương Thủ Tiết vốn là người miền bắc luôn hồ nghi dân miền nam. Họ từng là những nước độc lập bị chinh phục, bị Hán hoá nên ông ta cứ dè dặt. Chỉ còn 40 dặm nữa là tới thành Ung Châu, nhưng họ Trương cho hạ trại chờ tin tức chính xác.

       Khi quân thám báo của Trương Thủ Tiết chưa trở về, thì doanh trại của ông ta bị tập kích. Quân Đại Việt đã bắt được quân dọ thám và biết được tình hình quân địch. Tướng Lý Thường Kiệt cử phò mã Lý Cảnh Thân trưng dụng số ngựa lấy từ hai châu Khâm và Liêm thành lập một đội kỵ binh. Đây vốn là sở trường của Giáp động chủ họ Thân, nên ông đã dùng đội quân nầy phối hợp với bộ binh của tướng Nùng Tôn Đản. Một cuộc tấn công quân Trương Thủ Tiết được thi hành. Nhiều người dưới trướng của hai vị tướng họ Nùng và họ Thân đã là lính của Nùng Trí Cao hơn 20 năm về trước. Họ là những người Tày Nùng già dặn rất thành thuộc vùng đèo ải Côn Luân. Họ đã nhiều lần đi qua hoặc chiến đấu để chiếm giữ 8 châu xứ vùng nầy vào thập niên 50 (1050). Điều đó góp một phần lớn cho đạo quân của phò mã Thân Cảnh Phúc đánh tan quân viện binh. Tướng nhà Tống Trương Thủ Tiết, Trương Biện đều bị tử thương. Viện binh hoàn toàn tan rã, nhưng ở thành Ung Châu tướng Tô Giám chưa hề hay.

      Mãi đến một ngày sau tin mới đến làm vị tri châu thủ thành nầy sững sờ, nhưng ông không hổ là một danh tướng. Ông phủ dụ dân chúng và binh lính trong thành an tâm chống giặc. Ông điều động quân cơ hữu gồm cả các tân binh từ châu Khâm và châu Liêm gởi đến đang được huấn luyện. Ông đích thân ra các mặt thành cầm cung để bắn. Trong lòng ông vẫn hy vọng có một viện binh mạnh hơn của Trương Thủ Tiết đến cứu viện. Thành Ung Châu có tường cao và trên mặt thành có nhiều trạm canh kiên cố. Thành còn được con sông nhỏ Dung Giang (Yongjiang) vắt ngang sau lưng như là một hào lũy thiên nhiên. Ở phía ngoài quân Đại Việt từng là những chiến sĩ trận mạc, nhưng không phá nổi tường thành. Lý Thường Kiệt cho nhử đánh xung quanh, nhưng dồn nổ lực vào phía tây. Đó là nơi thuận tiện để làm cầu đất tràn qua hào thành. Công sức nầy đã không ít người hy sinh, nhưng đến tuần thứ hai thì quân Đại Việt đã tràn được vào trong.

      Cuộc chiến đẫm máu xảy ra. Người ta nghe tiếng khóc của đàn bà và trẻ con. Người ta còn nghe cả những tiếng kêu sợ hãi của những người lính chưa từng chiến đấu. Tất cả tân binh kéo chạy làm lính cơ hữu cũng loạn hàng ngũ. Cuộc chiến đã mau chóng đến điểm cuối khi sự chống cự chỉ là số không. Tàn binh lui dần về một phía. Quân Đại Việt kêu gọi đầu hàng, và đã tránh được một cuộc tập sát. Tuy thế, người ta cũng không đếm được số lượng người chết. Nó có thể lên tới số ngàn. Quân nhà Tống hoàn toàn tê liệt trong vô vọng. Trước tình hình đó, quan thủ thành Tô Giám lên đài cao và tự châm lửa đốt thân mình. Trước mặt ông những sợi tuyết mong manh bắt đầu rơi. Chúng như những vết kim chạy râm ran trong lòng người ngưỡng phục. Tướng Lý Thường Kiệt nhìn bó đuốc người với tâm trạng của một vị tướng lúc sa cơ. Ít nhất ông có một lần cúi đầu.

Lý Thường Kiệt là quan thái úy
Coi muôn quân mà cũng trung quân
Xua quân giặc Tống về phương bắc
Bài hịch từ đây phổ nhân quần*

Đi qua đôi chút thời Bắc Tống
Vào lúc triều đình Tống Thần Tông
Đảng Hạng bên phương trời Tây Hạ
Cùng Khiết Đan, Liêu quốc chập chồng

Hai nước bắc phương uy hiếp Tống
Thần Tông trỗi dậy muốn dương oai
Theo y thần ý Vương An Thạch
Mà đánh phương nam dặm cõi ngoài

Tập quân luyện mã ở Ung Châu
Gần ở biên nam dễ phủ đầu
Ai hay cớ sự chưa thành tựu
Thành không còn, tướng lại về đâu!

Vương An Thạch nhà thơ nhà tướng
Chuyện nước non quả thực không ngờ
Làm sao mà ngỡ nhà Nam ấy
Chưa hề khuất phục tự thủy sơ

Hay tin nhà Tống sẽ nam chinh
Thường Kiệt cho quân dọ tình hình
Mấy dặm ngàn kia đâu ta địch
Một buổi đông về Lý bắc chinh

Lý Thường Kiệt ngựa hồng chinh chiến
Đâu Ung Châu đâu mỗi Khâm, Liêm
Tung quân mấy ngả về phương bắc
Từng bước Giang Đông thế gọng kìm

Nùng Tôn Đản xung phong tây bắc
Rừng chưa qua mà tuyết đang rơi
Định ngày xuất chiến không thay dạ
Lòng cũng kiên gan với cả trời

Vi Thủ An cùng Thân Cảnh Phúc
Đi mặt đông cầm giữ hai châu
Khâm Liêm không ngỡ đường bắc tiến
Đâu quân Nam đâu trận phủ đầu

Diệt cửa khẩu cực đông xứ bắc
Đồng thời gian thủ thắng châu Khâm
Ở đây lính Tống không hề biết
Cứ ngỡ mùa đông để phải lầm

Quân nhà Lý ngời ngời ánh thép
Cả tây nam đông ngạn phủ đầu
Ung Châu cô lập chiều sương khói
Quân về đâu tướng lại về đâu

Tướng Thủ Tiết giữa rừng Hỏa Giáp
Ải Côn Luân mờ mịt lam sương
Quen đông mà lạnh hồn chinh chiến
Chưa đến thành Ung bị đón đường

Thân Cảnh Phúc dẫn đầu kỵ mã
Trương tướng quân xứ bắc ngỡ ngàng
Chưa nghe tiếng địch từ đâu tới
Mà máu rơi rồi máu chứa chan

Lý Thường Kiệt được tin chiến thắng
Quyết công thành mà diệt châu Ung
Chầy ngày không thể nơi đất bắc
Ba mặt liên công thế chập chùng

Thành châu Ung đất bằng sông nhỏ
Tiếng gọi hàng quân Lý reo vang
Tống tân dịch trong thành chưa luyện
Việt ngoài thành trận mạc thênh thang

Đợi viện binh mỏi mòn gươm giáo
Tướng thủ thành Tô Giám nao nung
Giữa trời tuyết nhẹ hồn không nhẹ
Cũng ráng thi gan đến cuối cùng

Giương cung bắn quân Nam lùi bước
Tên nào bay tên cạn đau thay
Ngoài kia thang bắc nghiêng tường lở
Gươm giáo kề nhau một trận này

Tướng nhà Tống đau lòng trận mạc
Ngàn tân binh ngơ ngác chạy ùa
Lấy thành đổi máu bao nhiêu máu
Lý, Tống bên nào rõ thắng thua

Thành thất thủ ai người tuẫn tiết
Khá khen thay một đấng anh hùng
Tô Giám đứng trên thành đốt lửa
Cháy thân mình ngọn lửa trinh trung

Nghiêng lòng mà giã anh hùng tướng
Thường Kiệt lui binh dặm trở về
Đường đi khúc khuỷu quanh đồi núi
Đẹp lắm yên hà cuối sơn khê

Ai chia sơn thủy ra muôn mảnh
Mà phải tranh hùng để giết nhau
Tự cổ nhân gian là như thế
Vô thường như thể cánh mây bay

_________________________________

* Khi nói đến Lý Thường Kiệt, người ta thường nhắc đến bài hịch “Nam quốc sơn hà nam đế cư…” ở bờ sông Như Nguyệt năm 1077. Tuy nhiên, trong năm 1075 khi mang quân đánh Ung Châu, ông đã có một bài hịch gọi là “Phạt Tống Lộ Bố Văn”. Bài hịch nầy chủ yếu gởi đến quân và dân ở phía nam đất Tống lúc bấy giờ. Theo đó thì vua đất bắc gốc Hán nhiều đời đã chiếm đất Ung, Khâm, Liêm châu và toàn Lĩnh Nam. Họ đã xâm lăng và Hán hóa vùng nầy chứ không phải thực sự người dân ở đây là người Hán. Nay vua Tống nghe lời của Vương An Thạch chuẩn bị đi xâm lăng Đại Việt là càng sai quấy. Vì thế phá âm mưu của nhà Tống là việc làm hợp đạo, thuận với ý trời. Nay bá cáo cho dân chúng tin tưởng, chớ sợ hãi.


<<  |  >>