Skip to content

Chương 14/3

NHÀ L Ý
(1010 – 1225)

Đoạn ba

LÝ THÁNH TÔNG, VỊ VUA ĐẦU TIÊN MỞ CÕI PHƯƠNG NAM

 

      Năm 1054 vua Lý Thái Tông băng hà, con trưởng Khai Hoàng vương lên thay, tức vua Lý Thánh Tông. Ông có tên húy là Lý Nhật Tôn, và lên ngôi một cách yên ổn không giống như vua cha. Lúc này ông đã trưởng thành, 31 tuổi. Ông lập thứ phi họ Dương làm hoàng hậu. Cùng một lúc ông có đôi bà phi nữa nhưng vẫn không có con. Điều nầy không những là mối trăn trở cho ông mà cho cả triều thần và hoàng tộc. Bên cạnh những việc làm thực tế và quan trọng như đổi tên nước thành Đại Việt, tăng cường quân đội, giảm thuế cho dân, giảm bớt trại tù, mở mang việc giáo dục thì ông cũng ròng rã nhiều năm đi cầu tự. Năm 1064, trong một lần đi vãng cảnh chùa Diên Ứng ở xứ Luy Lâu cổ xưa (Bắc Ninh) thì nhà vua gặp một điều không dự trước. Xe nhà vua dừng lại ở một làng nhỏ tên Thổ Lỗi mà trước mặt là biền dâu xanh thẳm. Ở đây có một cô gái đôi mươi, con của nhà dân dã, làm nhà vua động lòng. Sau giờ thăm viếng và cầu tự ở chùa đã vãn, vua Lý Thánh Tông ghé lại xin rước cô về cung. Cô tên Ỷ Lan và nhỏ hơn nhà vua 21 tuổi.

      Không những Ỷ Lan rất đẹp còn là một nữ lưu kỳ tài. Hai năm sau, bà sinh cho Lý Thánh Tông một hoàng nam và được phong làm nguyên phi thì cuộc đời bà gắn liền với triều chính. Tài năng của bà còn chứng tỏ trên cả nam nhân. Tháng 3 Năm 1069 khi vua Lý Thánh Tông dẫn quân đi đánh Chiêm Thành thì giao cho bà quyền lưu thủ kinh đô. Quyền hạn nầy trên cả hoàng hậu họ Dương và thừa tướng lúc bấy giờ là Lý Đạo Thành. Bà đã trông coi việc nước hơn 4 tháng trong thời gian nhà vua nam chinh. Người ta nói cuộc nam chinh nầy là một cuộc xâm lăng của Đại Việt, nhưng vẫn có lý do của nó.

      Triều đình Chiêm Thành lúc ấy rất yếu. Thiên tai bão lụt đã đưa đất nước nầy đến kiệt quệ. Tuy thế, vua Chiêm là Chế Củ (Rudrarman III) vẫn còn hận cuộc xâm lăng năm 1044, nên đã tuyệt giao với Đại Việt. Nhà vua đi tìm nguồn giúp đỡ khác. Qua sự yêu cầu của vua Chế Củ, nhiều chiến thuyền của nhà Tống đã cập bến Thị Nại. Đó là những thuyền lương thực, nhưng làm sao biết được ý định của hai nhà Tống – Chế. Sự giúp đỡ nầy sẽ bất lợi cho Đại Việt nếu nó tiến dần đến sự giúp đỡ về quân sự. Vua Lý Thánh Tông ra tay trước. Đó là lý do sinh ra cuộc chiến 1069 nầy.

      Kiểm hiệu thái bảo Lý Thường Kiệt được chỉ định làm đại tướng tiên phong, và nhà vua thân chinh thống lãnh. Vua Lý Thánh Tông xuống chiếu trong vòng 10 ngày các đạo quân phía đông và các đạo quân phía nam phải tập trung ở cửa biển Đễ Lễ để chuẩn bị lên thuyền. Họ có 30 ngàn quân, và có 1 ngày để nghỉ ngơi. Sau hai ngày trên lãnh hải Chàm, thì 300 thuyền chiến đến cửa biển Nhật Lệ. Đó là địa phận của châu Địa Lý. Những trận chiến đầu tiên xảy ra rất nhỏ. Ba ngày sau quân Đại Việt đến cửa biển Ô Long. Ở đây cũng giống như ở Nhật Lệ, kháng cự của quân Chiêm Thành hầu như không có. Chưa có trận đánh lớn, mà quân Chàm đã chạy. Người ta nghĩ đây là cuộc phục kích, nên quân Đại Việt hết sức đề phòng. Vua Lý Thánh Tông không dùng một nửa quân số đi đường bộ như kế hoạch đã định mà tất cả lên thuyền nhắm Đồ Bàn trực chỉ.

      Phải mất 7 ngày mới cập bến Thị Nại (Thi Lị Bi Nại). Từ cửa biển nầy quân thủy bộ theo nhánh nam của sông Côn tiến về kinh đô Chàm. Lúc nầy mới có những trận đánh xảy ra. Cường độ càng lúc càng mạnh khi quân Đại Việt tiến tới bờ đông sông Tu Mao, một chi lưu của sông Côn. Vì đây là tuyến bảo vệ thủ đô nên lực lượng quân Chàm chiến đấu quyết liệt. Trận chiến kéo dài từ ngày này qua ngày khác, và diễn biến trở nên vô cùng phức tạp. Thua thắng chồng chéo lên nhau trong cùng một đơn vị. Tướng Chàm Bố Bì Đà La, tổng chỉ huy mặt trận phải tùy theo tình huống mà điều động binh tướng. Lúc nầy tuyến phòng thủ của quân Chiêm Thành không chỉ phải đối phó ở mặt đông. Mặt tây nam: Hà Giao, mặt  tây bắc: Tây Sơn đều có quân của Đại Việt. Với quân số nhiều hơn, nhưng quân Chàm đã khiếp sợ nên liên tiếp thất bại. Vòng vây càng ngày càng thu hẹp. Khi đại quân của tướng Lý Thường Kiệt tiến chiếm đồi Ngân Sơn ở tuần lễ thứ hai thì tướng Bố Bì Đà La tử thương. Ông đã chết dưới đường gươm họ Lý. Khi chủ tướng bị chết, các thuộc tướng đất thần kinh Đồ Bàn vẫn cố gắng điều quân rút lui về thủ đô.

      Thủ đô Đồ Bàn nằm dựa lưng vào dãy đồi thấp và nhìn về một nhánh của chi lưu Hà Giao phía dưới. Thành không có tường dày kiên cố mà có nhiều tháp bọc xung quanh. Màu đất nung trên tầng tháp đã trải qua gần bảy mươi năm tuế nguyệt, vẫn còn in một thời thịnh trị. Người ta thờ thần Shiva, thần  Poh Yang Nagar (sau nầy khi chiếm Nha Trang vào năm 1653, tên vị thần nầy được Việt hóa thành Thiên Y A Na) và các thần khác. Tất cả bây giờ đã trở thành những pháo đài khi bờ tường bị phá vỡ. Chúng che chở những quân binh Chàm đang ra sức bảo vệ những cung điện rải rác, mà người ta không biết chắc là nhà vua ở cung điện nào. Quân Đại Việt tiếp tục siết chặt vòng vây, và đến ngày thứ ba kể từ khi tướng họ Bố chết thì đã có nhiều toán quân Chiêm ra hàng. Sự kháng cự bây giờ chỉ như là ngọn lửa dần tắt của ngọn đèn cạn dầu. Khi không còn cửa tháp nào giữ được, thì họ đều rủ nhau buông gươm. Và, đến bây giờ quân Đại Việt mới biết vua Chế Củ không còn ở trong hoàng cung nữa.

      Nhà vua Chàm cùng các tùy tướng thân cận chạy về hướng tây nam, đường về Chân Lạp để cầu cứu. Bấy giờ lãnh thổ nầy đương thuộc đế quốc Khmer, và vị hoàng đế ở đây không những không cất quân đi cứu mà còn không cho vua Chàm lánh nạn. Trên đường thất vọng trở về thì ông gặp đạo quân của tướng Lý Thường Kiệt đương đuổi tới. Ông và các tùy tướng bị bắt giải về Đồ Bàn rồi về Thăng Long như những tù binh. Và, cuộc điều đình Việt Chiêm được lập thành, mà vua Chiêm ở trong thế yếu. Vua Chiêm Thành Chế Củ và đoàn tùy tùng được an toàn về xứ để chịu mất một phần lãnh thổ. Từ đây, năm 1069, nước Đại Việt được mở rộng về phương nam lần đầu tiên trong lịch sử. Đó là 3 châu Bố Chính, Mê Linh và Địa Lý. Vua Lý Thánh Tông đặt địa danh mới nầy là phủ Tân Bình.

 

Khai Hoàng vương lên ngôi yên ổn
Tức Thánh Tông nhân dũng hơn người
Mùa đông bếp lửa trong cung điện
Nghĩ tới trong tù thiếu cơm tươi

Lập nhà văn miếu thời Thần Vũ
Cất trường quốc giám giấc mơ chung
Lối xưa chữ nghĩa từ đâu tá
Nho, Phật nhân gian lắm kẻ sùng

Quốc hiệu trăm năm nay được đổi
Dấu mốc thời gian vận nước Chàm
Đại Việt Thánh Tông vua nhà Lý
Bình Chiêm khởi thủy mở phương Nam

Dù rằng trước đó bao trận chiến
Chiêm Việt gây thù những sục sôi
Biên cương riêng giữ riêng cương thổ
Mà đến Thánh Tông hóa lở bồi

Quân Đại Việt lên thuyền ra biển
Từ Thăng Long đến cửa phân tranh
Dừng quân mà ngắm chân Hồng Lĩnh
Ở đó bên kia đất Chiêm Thành

Cửa Nhật Lệ đâu hồn Địa Lý
Vòm Ô Long đâu gió Ô Châu
Tưởng rằng trận chiến miền biên ải
Mà máu không vây khắp tuyến đầu

Quân Chiêm chạy về đâu tứ tán
Kinh thành Chiêm mờ mịt phương nam
Thuyền lên quân Lý xuôi theo gió
Biển gọi mênh mông cổ tháp Chàm

Cửa Thị Nại thuyền quân cập bến
Ven sông Côn đâu những Đồ Bàn
Đâu hồn tháp đứng trăng sao ấy
Đâu thành Chiêm đâu những Tây San

Ở đâu máu đổ đen màu nước
Từng xác chồng lên xác chập chồng
Quân Lý tiến quân như gió bão
Tang bồng hồ thỉ phỉ non sông

Vua Chế Củ mơ xưa Chân Lạp
Mà tây nam ai nỡ không dung
Xa xăm lỡ bước đường lánh nạn
Số phận về đâu buổi cuối cùng

Giữa rừng lá sa cơ bị bắt
Vua nhà Chiêm thất thế chịu hàng
Thánh Tông không giết vua triều ấy
Mà rút quân về bớt máu loang

Đồ Bàn bị chiếm mà không mất
Chỉ tiếc quân thần hóa bại binh
Thăng Long mở hội mừng chiến thắng
Vương quốc Chàm ơi có hận mình?

Nhược tiểu đau lòng cơn quốc nạn
Nhớ xa xưa Sư Tử, Lê Hoàn
Nhớ đau non nước hồn Sạ Đẩu
Mỵ Ế theo chồng thác Châu giang

Chế Củ hận mình không chết được
Đổi Ma Linh, Điạ Lý chuộc thân
Đổi luôn Bố Chính cho tùy tướng
Ai biết từ đây nước mất dần

Bình Chiêm dẹp loạn ngoài quan ải
Nhờ ở cung triều có kẻ trông
Đạo Thành họ Lý vai tể tướng
Phù trợ nguyên phi gánh việc chồng

Ỷ Lan cô gái ở biền dâu
Duyên nợ ba sinh khéo bắc cầu
Nếu không cầu tự sinh hoàng tử
Lý Thánh Tông nào đến chùa Dâu

Xa giá đi qua lắm kẻ trông
Xa xa cô gái ánh má hồng
Biền dâu xanh thắm hương Thổ Lỗi
Tuổi độ đôi mươi chắc có chồng?

Về cung gặp được Dương hoàng hậu
Vốn người hiền đức lại vô sinh
Ỷ Lan rất sớm sinh hoàng tử
Từ ấy nhà vua nặng thâm tình

Tình đã đẹp trong cung triều hậu
Mà chính trường hậu cũng tinh thông
Giá chi không có bình Chiêm ấy
Thì cũng không ai cậy má hồng

Cũng từ buổi ấy sinh hiềm khích
Để nở hoa thù mấy xuân sau
Tuổi già chưa đến mà đã chết
Vua Lý nào hay biết việc này


<<  |  >>