Skip to content

Chương 14/2

NHÀ L Ý
(1010 – 1225)

Đoạn hai

LÝ THÁI TÔNG: DẸP GIẶC NÙNG, BÌNH CHIÊM QUỐC

      Vua Lý Thái Tổ chết bình an, nhưng các hoàng tử nổi loạn. Khi linh cữu nhà vua còn quàn tại thẩm điện, màu tang chế đang trải khắp hoàng cung, mà đã có những đứa con mang quân về gây biến. Bản kỷ toàn thư quyển 2a của ĐVSKTT viết “Ngày mậu tuất vua băng ở điện Long An, bề tôi đều đến cung Long Đức xin thái tử vâng chiếu lên ngôi. Ba vương là Đông Chinh, Dực Thánh và Vũ Đức nghe tin đều đem quân của mình phục sẵn trong cấm thành. Đông Chinh vương phục ở Long Thành, hai vương Dực Thánh và Vũ Đức phục ở cửa Quảng Phúc đợi thái tử đi tới thì đánh úp”. Khi biết ba người em làm phản, thái tử Phật Mã lặng người đi. Đại thần Lý Nhân Nghĩa xin mang quân đi dẹp, nhưng thái tử chần chừ chưa đồng ý. Tang cha chưa đủ một ngày đội trên đầu mà tình cốt nhục đã phân ly làm ông đau lòng lắm. Trong lúc mọi người còn phân vân, thì quân khởi loạn đã tiến  tới cung Long Đức. Thái tử Lý Phật Mã giao toàn quyền cho Lý Nhân Nghĩa, và riêng ông vẫn đến hầu linh cửu tiên đế còn đương nằm trước linh vị. Trong giờ khắc tưởng không tránh khỏi cuộc tương tàn đó thì dũng tướng Lê Phụng Hiếu đã bất thần tuốt gươm xông ra giết chết hoàng tử Vũ Đức. Cái chết bất ngờ và nhanh chóng của vị hoàng tử nầy làm quân của tam vương rối loạn. Một người chạy rồi trăm người chạy theo. Số người chết không nhiều vì người ta không muốn tận sát trong ngày tang lễ. Đây là cuộc chính biến duy nhất mà chỉ có một đường gươm đã phá được loạn quân. Người ta gọi nó là loạn Tam Vương. Nó kết thúc trong sự tháo chạy của quân phản loạn mà không ai rượt đuổi giữa hoàng thành.

      Thái tử Lý Phật Mã lên ngôi sau chính biến đó. Ông được triều thần tôn xưng Thông Minh Đại Hiếu Hoàng Đế tức vua Lý Thái Tông. Lúc nầy ông 28 tuổi. Ông tôn thụy hiệu cho cha là Lý Thái Tổ và tôn mẹ Lê Thị Phất Ngân là Linh Hiển hoàng thái hậu. Được thừa hưởng một đất nước yên bình từ vua cha, nhưng lòng ông vẫn lo nghĩ. Loạn Tam Vương như một vết cắt trên chiếc áo mới lành lặn, dù hai vị vương tử còn lại đã hối lỗi trở về. Vua Lý Thái Tông vẫn cho các hoàng đệ của mình giữ tước vị cũ, nhưng từ đó có một hội thề được lập ra. Đó là hội thề Đồng Cổ. Theo đó, năm 1019 thái tử Phật Mã nhận lịnh mang quân đi dẹp giặc cướp Chiêm Thành ở biên giới, thì có một đêm dừng quân ở chân núi Đồng Cổ thuộc Thanh Hoa. Trong đêm, Phật Mã có giấc mộng được vị thần núi hiện lên xin làm tôi thần đi đánh giặc cướp. Gần 10 năm sau, vị thần nầy hiện lên một lần nữa báo trước sẽ có điều bất tường trong những ngày tang chế. Do đó hội thề mang tên Đồng Cổ để tưởng nhớ công ơn của vị thần núi, và để nhắc nhở các quan văn võ trung thành với nhà vua. Hội thề được tổ chức vào ngày 4 tháng tư âm lịch hằng năm ở sau lưng chùa Thánh Thọ thuộc làng Yên Thái.

      Từ đó yên bình, vua Lý Thái Tông vẫn giữ lúa thóc và tơ tằm là nguồn lợi chính của ngành nông nghiệp. Trong thời gian 10 năm đầu ở ngôi với niên hiệu Thiên Thành và Thông Thụy, ông cho phát triển ngành dệt lụa. Từ cung đình đến dân dã ít lệ thuộc vào hàng vải may mặc của nước Tàu như trước. Tiếng thoi đưa bên những tấm lưng dịu dàng đến tận vùng cao nguyên xa xôi. Nó báo hiệu một thời bình an trên khắp đất nước. Tuy nhiên cái sắc thái huy hoàng đó bỗng không còn kéo dài ở miền đông bắc. Mười năm sau, năm 1038 Nùng Tồn Phúc lãnh tụ dân tộc Nùng ở châu Quảng Nguyên (Cao Bằng) khởi loạn. Ông nầy tự khoanh vùng và tách khỏi triều đình nhà Lý bằng cách không đóng thuế và tự ý xưng vương. Ông xưng là Chiêu Thành hoàng đế, đặt tên nước là Trường Sanh và phong cho vợ A Nùng làm Minh Đức hoàng hậu. Ông còn phong cho con trai lớn là Nùng Trí Thông làm Nam Nha vương, và đắp thành lũy để phòng thủ.

      Tháng 2 năm 1039 vua Lý Thái Tông thân chinh đi  dẹp loạn họ Nùng. Nhà vua cho 3 đạo quân tiến đánh 3 mặt thành trì còn đang xây dang dỡ. Chưa được một ngày chịu đựng, Nùng Tồn Phúc yếu thế,  dẫn dắt bộ lạc chạy vào rừng. Lý Thái Tông cho quân đuổi theo bắt được vị vua của “nước” Trường Sanh và người con trai trưởng Nùng Trí Thông. Riêng hoàng hậu A Nùng và đứa con trai 14 tuổi Nùng Trí Cao chạy thoát. Cha con họ Nùng bị xử chết ở Thăng Long và triều đại Chiêu Thành hoàng đế chấm dứt sau 3 tháng phôi thai non yếu.

      Tuy nhiên, cuộc chiến đấu của dân tộc Nùng không chỉ dừng lại ở đó. Hai năm sau, năm 1041, đứa con trai 14 tuổi Nùng Trí Cao năm xưa đã trở về. Bây giờ anh ta trở thành một chàng thanh niên đi dựng lại lịch sử. Theo đó thì châu Quảng Nguyên là nơi tụ họp của các bộ lạc dân tộc Nùng từ xa xưa. Họ cho rằng mình giúp Ngô Quyền vương đánh quân Nam Hán trước kia chứ không lệ thuộc nhà Ngô. Do đó Quảng Nguyên phải được coi là một vùng tự trị, và hơn thế nữa phải được coi như một nước giữa Tàu và Việt.

      Đúng vào ngày người cha thất bại hai năm về trước, Nùng Trí Cao mang quân về chiếm Thảng Do, kế bên châu Quảng Nguyên. Người trai trẻ nầy thành lập một “nước” mới gọi là Đại Lịch. Vua Lý Thái Tông cử người đi dẹp loạn họ Nùng một lần nữa. Nùng Trí Cao bị thua và bị bắt đem về Thăng Long, nhưng vua Lý tha tội. Trong tinh thần thu phục những sắc dân thiểu số mặt đông bắc, vua Lý Thái Tông không muốn tận diệt bằng võ lực. Nùng Trí Cao không những được tha đến hai lần mà ông ta còn được cử làm Quảng Châu mục và được phong tước thái bảo. Về sau, Nùng Trí Cao lập quốc và xưng đế một lần nữa. Lần nầy không đụng chạm đến Đại Cồ Việt mà xung đột với nước Tàu. Ông trở thành anh hùng dân tộc Nùng khi chiếm Ung Châu và 8 châu khác. Lãnh thổ mênh mông, nhưng không thực có. Nùng Trí Cao ào ào tiến quân chiếm một vùng rồi rút đi. Đó là đạo quân dũng mãnh dưới tay một dũng tướng. Nhưng, cuối cùng Nùng Trí Cao bị thất bại khi tranh hùng với danh tướng Địch Thanh của nhà Tống. Quân của “nước” Đại Lịch bị đánh tan ở ải Côn Lôn, và “vua” Nùng Trí Cao dẫn tàn quân chạy qua nước Đại Lý và bị tiêu diệt. Đó là chuyện về sau của Nùng Trí Cao vào những năm 1052 và 1053 với nhà Tống.

      Hãy trở lại chuyện nhà Lý. Năm 1044 chiến tranh Việt – Chiêm ở phía nam xảy ra. Qua 16 năm vua nhà Chiêm đã coi thường vua Lý Thái Tông, tự ý bỏ giao thương nhân nhượng như đối với vua Lý Thái Tổ. Bên cạnh đó vua Chiêm lúc bấy giờ là Sạ Đẩu cứ làm ngơ trước những yêu cầu của vua Lý về việc quân Chiêm cướp phá vùng ven biển Đại Cồ Việt. Vào cuối mùa xuân năm 1044, vua Lý Thái Tông giao cho Khai Hoàng vương, người con trai trưởng quyền lưu thủ kinh sư còn mình thân chinh đi đánh Chiêm Thành. Đại quân thủy bộ từ Thăng Long xuôi dòng sông Hồng, và lên thuyền đi về cửa Đễ Lễ. Đây là điạ giới cuối cùng phía nam của Đại Cồ Việt. Trước mặt họ là đèo Ngang và qua bên kia là lãnh thổ Chàm. Khi quân Việt đến đây, dấu tích cướp phá còn để lại ven biển chứng tỏ người Chàm đã vượt qua biên giới nầy thường xuyên. Lúc hoàng hôn xuống thấp trên đại dương, người ta đã chọn được những chỗ an toàn để nghỉ qua đêm. Tiếng sóng vỗ trên mạn thuyền và tiếng gió hú trên đỉnh đèo mang mang một chờ đợi không yên. Nhưng, một đêm an bình trôi qua. Tờ mờ sáng hôm sau đoàn quân Đại Cồ Việt tiếp tục xuôi nam. Đây là lần nam tiến thứ hai sau lần thứ nhất của vua Lê Đại Hành năm 982. Thuyền xuôi về đất nước Chiêm qua hòn La, hòn Yến trước mùa gió nồm bắt đầu. Chiều hôm sau thì đoàn quân viễn chinh đến cửa biển Ô Long của châu Ô. (sau nầy do bồi lở, cửa Ô Long biến dạng đổi thành cửa Tư Hiền ở gần đó từ thời nhà Nguyễn đến ngày nay).

      Từ đây đại quân Đại Cồ Việt chia hai. Thủy quân chạy dọc theo bờ biển yểm trợ. Bộ binh là lực lượng chính do đích thân vua Lý Thái Tông chỉ huy. Không có một kháng cự nào trên vùng mênh mông đất biển địa đầu nầy. Mãi đến khi sắp vào cố đô Simhapara (Trà Kiệu) bên kia bờ sông Ngũ Bồ*, bộ binh Đại Cồ Việt bị chận lại. Đoàn quân Chiêm Thành không hề ít. Nó là phối hợp giữa quân địa phương và quân chủ lực từ Đồ Bàn kéo ra. Tổng chỉ huy lực lượng chính là nhà vua Sạ Đẩu, và vị tướng tiền phương bên bờ sông Ngũ Bồ là thượng tướng Quách Gia Di. Toàn bộ lực lượng Chiêm Thành dồn hết vào trận chiến nầy. Gươm giáo từ bên kia sông đưa lên như một cánh đồng gươm mênh mông đang di chuyển. Họ quyết tâm ngăn cản đoàn quân xâm lăng từ phương bắc. Rất tiếc điều đó đã không thành.

      Trước tài cầm quân của vua Lý Thái Tông, quân Đại Cồ Việt đã nhanh chóng lấy được những lợi thế. Họ tìm những khu vực có đồng trống hoặc bãi cát ở bờ nam để qua sông. Đó là những chỗ không thuận tiện cho quân Chàm đứng núp để bắn tên. Tuy nhiên không phải là giá nhỏ để đại quân Đại Cồ Việt qua được bờ nam sông Ngũ Bồ. Không rõ chính xác bao nhiêu người chết ở trận chiến nầy, nhưng người ta nói máu đã thấm trên bãi biền có thể ngang bằng với nước mưa thấm qua một mùa đông. Chiến trận nghiêng về một bên. Quân của nhà vua Sạ Đẩu cứ lui dần về phía nam. Dù quân Chiêm hết lòng chiến đấu nhưng trước một đạo quân với hào khí phá cường quốc, bình lân bang, lính của nhà vua Sạ Đẩu mất nhuệ khí. Quân Đại Cồ Việt trên đường tiến quân tiến thẳng về thủ đô Vijaya (Đồ Bàn). Đạo quân nầy trong thế chẻ tre làm binh tướng Chàm đều sợ hãi. Số phận thành Đồ Bàn như mành treo chuông. Các thuộc tướng không còn đủ sức mang quân ra chống cự theo lệnh của vua Sạ Đẩu. Đứng trước tình hình ấy, Quách Gia Di đã giết nhà vua của mình để xin hàng. Đúng hay sai, không ai nhắc tới trong lúc nầy, nhưng đổ máu đã không còn nữa. Trên đường tiến quân, vua Lý Thái Tông ra nghiêm lệnh không được giết một ai nữa dù người đó chống lại. Nhà vua vào thành và sai sứ đi phủ dụ dân chúng. Không thấy vua Lý Thái Tông cắt cử người ở lại cai trị, chỉ thấy ông tha chết cho tất cả hàng binh tướng và rút quân về. Nhưng, cũng giống như mọi chiến tranh thời cổ xưa, chiến lợi phẩm mang về không thể thiếu đàn bà. Vua Lý Thái Tông chọn đoàn kỳ nữ của vua Chàm biết múa khúc điệu Tây Thiên đã được truyền sang từ Phù Nam và Ấn Độ ở các thế kỷ trước. Và, đặc biệt phải có người vương phi son trẻ : Mỵ Ê.

    Mỵ Ê hay Mỵ Ế là tên người Việt gọi bà vương phi, vợ của vua Sạ Đẩu. Bà vừa có vẻ đẹp vương giả vừa có vẻ đẹp của một nữ tu. Gần bà, người ta thấy có lỗi khi nghĩ đến sự đụng chạm. Trên đường bị bắt về Thăng Long, vương phi họ Mỵ ngồi yên lặng trên thuyền. Bà nhìn ra không gian bên ngoài với ánh mắt bình thản chịu đựng. Bà đã từng nghe qua lịch sử và địa lý nước Việt, bà biết thuyền đương ngược sông Hồng về đến bến Châu Giang. Đó là nơi có con sông nhỏ bé cùng tên với bến sông chảy về Phủ Lý. Nó nối liền với sông Đáy phía nam. “Phía nam”. Chỉ nghĩ tới phía nam lòng vương phi dâng lên một niềm hoài cảm vô bờ. Hai bên dòng Châu Giang vẫn còn những đồng cỏ hoang sơ của một miền chưa khai phá. Thuyền quân cập bến khi mặt trời xuống thấp. Xa xa những ngọn núi đá vôi nằm trơ trọi giữa chiều tà. Vương phi nhìn hoàng hôn với ánh mắt buồn phương nam như một tượng thánh. Lúc vầng trăng bắt đầu nhô lên người ta còn nghe bà hát những điệp khúc Tây Thiên mà bà đã từng được biết.  Bà còn hỏi tỳ nữ những giai điệu mà bà chưa quen như một đứa học trò.

      Trong lúc ấy thì vua Lý Thái Tông cho vời người đàn bà đau khổ nầy về thuyền ngự. Vương phi họ Mỵ biết vua Lý không phải là kẻ phàm phu, nhưng giữa trời đất bao la bà nhận ra được chính lòng mình. Nỗi u uẩn của một vương phi trẻ mất chồng mất nước đã đưa bà đến quyết định, mà những đấng nữ kiệt mới làm được. Với chiếc khăn tang chồng tượng trưng, bà bất thần gieo mình xuống Châu Giang giữa dòng nước bạc. Bà làm điều nầy quá bất ngờ, chỉ sau một thoáng lặng yên nhìn giã từ những người tỳ nữ. Nước sâu thăm thẳm dưới vầng trăng không ai kịp tìm thấy bà lúc đó. Khi vương phi Mỵ Ê không còn, vua Lý Thái Tông mang một niềm ân hận. Ông cho người tìm và đưa xác bà về cố hương, với lòng ngưỡng mộ sự trung trinh của bà. Nhà vua phong cho bà là Hiệp Chính Phu Nhân Chiêm Hoàng Hậu, và cho thuyền trở về Thăng Long.

      Vua Lý Thái Tông vốn sẵn là người mộ đạo Phật, nên sau cuộc chinh chiến với quá nhiều người chết làm lòng ông chùng xuống. Ông nghiên cứu về kinh sách thiền nhiều hơn, xây chùa tháp nhiều hơn. Trong việc làm có tính cách tâm linh nầy, ông để lại cho đời sau một dấu tích còn được biết tới: Chùa Diên Hựu được xây năm 1049 theo giấc mơ được gặp đức bồ tát Quán Thế Âm của nhà vua. Chùa đã trải qua bao dâu bể, và hiện nay vẫn còn ở kinh thành Thăng Long cũ.

Lý Phật Mã đau lòng huynh đệ
Giữ cơ ngơi hoàng tộc Lý triều
Bỗng dưng máu đổ làm sao hiểu
Đổ đến bao giờ, đổ bao nhiêu

Vốn là con trưởng cung chánh hậu**
Vẫn có người dành thế mới hay
Chữ “vương” giá trị như vô lượng
Muôn kiếp nhân gian khổ chữ này

Mẹ là công chúa Lê triều cũ
Phật Mã sinh ra tự cố đô
Huynh đệ bao người bao khác mẹ
Khởi loạn tam vương bởi kẻ nào

Khăn tang còn vấn tang trên tóc
Sao nỡ đưa quân đến số ngàn
Dục Thánh, Đông Chinh cùng Vũ Đức
Lộ mầm binh biến giữa màu tang

Quân trước quân sau đến thình lình
Dễ hồ khói lửa khởi chiến chinh
Nhân Nghĩa tướng quân trình dẹp loạn
Thái tử cơ hồ vẫn lặng thinh

Trước sau quân loạn không đồng nhất
Tự thủy phân ba đã rẽ đàn
Lưỡi gươm Phụng Hiếu ai không biết
Chỉ một đường gươm loạn tướng tan

Lý Phật Mã lên ngôi cửu ngũ
Tức Thái Tông vua Lý nhân hòa
Đồng Cổ vang vang làng Yên Thái
Lời thề trung liệt bỗng nở hoa

Tơ tằm dệt lụa quanh khung cửi
Lúa cũng reo vui khắp cánh đồng
Mười năm yên ổn không loạn lạc
Đông bắc bao giờ dậy gió đông

Nùng Tồn Phúc vốn đòi tự trị
Khoanh giang sơn tự lập làm vương
A Nùng, người vợ lên hoàng hậu
Khai quốc Trường Sinh mộng bá cường

Thân chinh vua Lý đi đánh dẹp
Phá nước Trường Sinh thắm máu đào
Trí Thông con trưởng không chạy thoát
Đã chết cùng cha cuối binh đao

Người con kế tiếp đi theo mẹ
Chạy ẩn rừng sâu tên Trí Cao
Bá vương lập quốc chinh nam bắc
Sử tộc rừng xanh mặt anh hào

Loạn Trí Cao dần dà không dẹp
Bởi Thái Tông nương nhẹ tộc Nùng
Hai lần bị bắt hai lần thả
Mà đến về sau mộng đế chung

Thu phục nhân tâm đàng đông bắc
Lý Thái Tông bình định phương nam
Chiêm Thành buổi ấy không giao hảo
Mặt bể thường xuyên bị cướp Chàm

Chiều nam tiến xa khơi Đễ Lễ
Sóng viễn chinh cập bến Ô Long
Về đâu sông cổ ngàn năm trước
Máu chảy đôi bên máu chảy ròng

Quân Chiêm thua trận hồn Sạ Đẩu
Ngũ Bồ bến nước thấm máu loang
Quách Di, người gọi là gì nhỉ?
Mỵ Ế mờ trông vạt nắng tàn

Giá mà tha chết thì để lại
Sao nỡ mang đi đến phủ phàng
Ngã ba giao thủy về Phủ Lý
Tang trắng theo chồng bến Châu Giang!

Hiệp Chính phu nhân Chiêm hoàng hậu
Lý Thái Tông bóng nước nghiêng mình
Khen thay đoan chính hồn Chiêm nữ
Vị phu vị quốc chữ quyên sinh

Đông bắc nam ngàn đà tạm ổn
Xây chùa Một Cột ở kinh đô
Diên Hựu ngàn năm bao hưng phế
Vẫn còn ở đó một chiêm bao

Thái Tông thọ bịnh theo ngày tháng
Vua Lý đời hai sớm tuổi già
Truyền ngôi cơ nghiệp cho con cả
Khai Hoàng vương tử nối nghiệp cha

___________________

* ĐVSKTT chỉ nói trận chiến xảy ra trước khi vào thành Đồ Bàn năm 1044 ở sông Ngũ Bồ, theo sử gia Đào Duy Anh sông Ngũ Bồ là sông Thu Bồn ở Quảng Nam.

**Ở hậu cung các đời vua Đinh, Tiền Lê và Lý Thái Tổ không phân ra chánh cung và phi tần, vợ của vua ai cũng là hoàng hậu cả. Đến đời Lý Thái Tông thì mới phân ra chánh cung hoàng hậu và các thứ bậc khác.


<<  |  >>