Skip to content

Chương 14/10

NHÀ LÝ
(1010 – 1225)

Đoạn mười

LÝ CAO TÔNG, LÝ HUỆ TÔNG, VÀ NHỮNG BƯỚC CHÂN NHÀ TRẦN

 

      Ở Phú Thọ, Lý Cao Tông chưa thể liên lạc được hai nơi Thăng Long và Hải Ấp. Từng ngày hai nơi đó có rất nhiều biến đổi. Ở Thăng Long, Quách Bốc tôn hoàng tử Lý Thẩm lên làm vua, và Đàm Dĩ Mông vẫn được giữ chức thái úy. Ở Hải Ấp, đoàn tùy tùng của Đàm hoàng hậu được Tô Trung Từ bảo hộ còn lênh đênh bến nước thì hào trưởng địa phương Trần Lý đã hay. Tô Trung Từ là một vị quan nhỏ ở triều đình tình cờ hộ giá được hoàng hậu và thái tử. Trần Lý, anh vợ của Tô Trung Từ,  đang chuẩn bị một cuộc đón rước trọng đại chưa từng có trong đời.

      Trần Lý gốc ở Yên Sinh (bắc Hải Dương) sau dời về Tức Mặc, nhưng đã ba đời di cư về vùng biển Hải Ấp. Từ thời Tiền Lê về trước chưa có địa danh nầy. Đến đầu đời nhà Lý, có một vùng đất bồi sát biển trở nên phồn thịnh được đặt tên Hải Ấp. Trong thời nhà Lý hai địa danh Tức Mặc và Hải Ấp thuộc lộ Thiên Trường. Trần Lý không những là vị trưởng thượng của họ Trần, mà ông còn là người có thế lực đối với dân chúng sống về nghề biển ở Hải Ấp. Ông có hai người con trai và một người con gái: Trần Thừa, Trần Tự Khánh và Trần Thị Dung. Gia đình nầy đã đón hoàng hậu và hoàng thái tử Lý Sảm trong tư thế một thần dân được ban ơn mưa móc.

      Gia đình họ Trần nguyện trung thành làm kẻ tôi bộc để sớm đưa hoàng hậu và thái tử về kinh. Lúc bấy giờ thái tử Lý Sảm 16 tuổi được Trần Thị Dung hầu hạ mà đem lòng thương yêu. Mối tình nầy không được hoàng hậu họ Đàm bằng lòng nhưng đành chấp thuận. Trở về kinh sư là một thôi thúc cần thiết nên hoàng hậu cũng phải chấp nhận ban quan tước cho gia đình họ Trần. Theo đó, Trần Lý được làm Minh Tự tướng quân, Tô Trung Từ điện tiền chỉ huy sứ, Trần Thừa và Trần Tự Khánh đều được thăng hàm tướng. Để danh chánh ngôn thuận, thái tử Sảm được tôn là Thắng Vương với quyền hành của ông vua. Ông ra chiếu chỉ cho Trần Lý mang quân về kinh thành tiêu diệt loạn thần Lý Thẩm và Quách Bốc.

      Mùa hè năm 1209 quân Hải Ấp họ Trần kéo về kinh đô. Trong khi đó thì vua Lý Cao Tông ở Tam Nông ra lịnh Phạm Du liên kết với quân của Đoàn Thượng để gây thế lực mà trở lại kinh thành. Bên cạnh đó nhà vua đã nghe tin tức ở Hải Ấp. Ông muốn trừng phạt đứa con tự ý xưng vương và phong hàm tướng cho gia đình Trần Lý. Phạm Du đến Bắc Giang chưa gặp được Đoàn Thượng đã bị quân của Nguyễn Nãi, một thế lực của họ Trần ở Bắc Giang, bắt được giải về bản doanh họ Trần. Phạm Du nhanh chóng bị giết chết, kế hoạch liên kết với Đoàn Thượng của vua Lý Cao Tông không thành công. Nhà vua phải nằm lại dài ngày ở Tam Nông trong tâm trạng rối bời, trong lúc từng ngày trôi qua rất nhiều biến đổi.

      Lúc nầy Trần Lý đã bao vây Thăng Long. Trên năm ngàn quân.  Tướng lãnh phụ tá gồm có Tô Trung Từ, Trần Thừa, Trần Tự Khánh. Bên cạnh đó Trần Lý còn có một người cháu gọi mình bằng bác đi theo. Đó là Trần Thủ Độ, một thanh niên lanh lợi, nhỏ hơn Trần Tự Khánh một vài tuổi. Quân Hải Ấp chưa từng chiến đấu với trận mạc, nhưng đã từng chiến đấu với biển khơi. Đó là đạo quân chịu gian khó và giàu lòng huynh đệ. Họ không hề sợ đạo quân Quách Bốc. Chỉ trong một buổi sáng sớm, tướng tiên phong Trần Tự Khánh đã phá vỡ một mặt thành. Nhưng, quân Quách Bốc chưa bao giờ là đạo quân yếu. Họ đã từng làm cỏ giặc núi Tản Viên, từng chiếm kinh thành Thăng Long mà cả vua quan đều phải bỏ chạy. Đây là cuộc so tài ngang ngửa. Những trận cận chiến xảy ra quanh bờ tường, bên góc lăng tẩm vừa có vũ khí vừa tay không. Mùi muối mặn của biển khơi đã thấm vào da thịt của đoàn quân Hải Ấp làm cho họ dai sức không thể tưởng. Đến ngày thứ ba thì lính họ Quách đã thấm mệt, mà từng đội dân chài như hóa thành những con rồng biển. Hải Ấp thắng thế. Họ đuổi dần quân Lý Thẩm – Quách Bốc chạy về cửa thành nam ra ngoài hoàng thành. Cọng quân số hai bên tử thương lên tới cả ngàn người, trong đó có cả chủ tướng Tư minh Trần Lý.

      Trần Lý là hào trưởng Hải Ấp, là người trực tiếp “giao dịch” với thái tử Lý Sảm, nhưng linh hồn của nhà Trần ở giai đoạn đầu tiên nầy là Trần Tự Khánh. So với người cha Trần Lý, người cậu Tô Trung Từ, người anh Trần Thừa thì Trần Tự Khánh mưu lược hơn rất nhiều. Sau khi Trần Lý chết, thì gia tộc họ Trần  nghiễm nhiên coi Trần Tự Khánh là người lãnh đạo. Ông cho người đi Tam Nông mời hoàng thượng Cao Tông và đi Hải Ấp mời Đàm hoàng hậu cùng thái tử Sảm về kinh đô. Dĩ nhiên trong chuyến hồi loan nầy có cả Trần thị Dung, đã được hoàng hậu công nhận là phi tần của thái tử. Khi Lý Cao Tông an định triều đình vào mùa thu năm 1209 thì Trần Tự Khánh cũng xin về Hải Ấp không nhận một ân sủng nào của nhà vua. Không những thế, ông còn ủng hộ việc vua Lý Cao Tông xét tha tội cho Đàm Dĩ Mông.

      Triều đình mới không mấy thay đổi. Đàm Dĩ Mông vẫn được giữ lại chức vụ cũ. Tô Tung Từ được thái tử Lý Sảm nâng lên thành điện tiền chỉ huy sứ, thì vua Cao Tông cũng bằng lòng. Trải qua một đoạn đường kinh hoàng, có lẽ nhà vua tỉnh táo hơn. Ông không muốn xáo trộn nội triều trong lúc nầy, mà để tâm vào cuộc diện phía ngoài. Nó đã khác với thời trước khi có loạn Quách Bốc. Quân đội họ Trần đã cứu ông, nhưng nó như một tảng đá trước mũi ông. Trần Tự Khánh xin về quê nhưng ai biết được con người ấy sẽ làm gì, cả một miền đông chịu ảnh hưởng của ông ta. Bên cạnh đó, từ Hồng Châu về đông bắc lực lượng của Đoàn Thượng đã đe dọa các cánh quân của triều đình. Mặt tây nam vừa xuất hiện một Nguyễn Tự như là một cát cứ. Đạo quân nầy đang lăm le phá rối từ sông Đà đến Sài Sơn. Trên tất cả các lãnh địa đều có quân của triều đình, nhưng hầu như vô dụng, hết thua nơi nầy lại thua nơi khác. Tình hình như thế đã làm vua Lý Cao Tông sinh bịnh rồi băng hà vào tháng 10 năm sau, năm 1210. Lúc ấy nhà vua mới 37 tuổi.

      Thái tử Lý Sảm lên ngôi tức vua Lý Huệ Tông. Trước một tình hình đen tối làm ông lo lắng. Quách Bốc, Lý Thẩm vẫn chưa bị bắt. Nguyễn Tự, Đoàn Thượng đã không còn dưới quyền kiểm soát của triều đình. Họ có thể gây loạn bất cứ lúc nào, mà quanh ông thì không có lấy một vị tướng giỏi. Người thái úy cậu ruột Đàm Dĩ Mông bất tài đến nỗi không dám nhờ điều gì. Đế sư Đỗ Kính Tu đã có lần cầm quân, nhưng chỉ là một thầy dạy học. Tô Trung Từ vốn là quan nội hầu không có thực tài. Đối với họ Trần, ông có cái nhìn ít thiên kiến hơn phụ hoàng và mẫu hậu, nhưng làm sao biết được.

      Tình trạng ấy cứ kéo dài, nhưng vua Huệ Tông không có kế sách gì. Ông vốn là một người hiền hậu và không có tài. Sự bất lực của nhà vua càng thúc đẩy Trần Tự Khánh phát triển thế lực riêng lập. Đã sẵn cái hào quang thắng Quách Bốc, “quân đội” nhà Trần phát triển rất nhanh. Từ cứ điạ Hải Ấp họ tiến về bắc gặp Đoàn Thượng, họ tiến về tây về nam qua Thiên Trường, Phủ Lý. Dần Dần quân lính của họ nghiễm nhiên lấn át quân lính triều đình ở các địa phương mà họ đi qua, nhưng nhà vua không đủ sức can thiệp. Cuối cùng, một mặt vua Lý Huệ Tông quyết định cho binh tướng ở các nơi đó hòa hoãn với quân Trần, mặt khác ông bí mật liên lạc với Đoàn Thượng. Ông hy vọng đạo quân Hồng Châu của họ Đoàn kiềm chân hoặc đánh bật áp lực quân đội nhà Trần. Quân của Đoàn Thượng ngược dòng sông Hồng kéo về Thăng Long theo lời yêu cầu của nhà vua. Họ Đoàn được phong tước hầu với mục đích đồng hóa quân Hồng Châu vào quân của triều đình. Họ đang lợi dụng nhau.

    Vua Huệ Tông ra lịnh Đoàn Thượng đi diệt Trần. Ở địa danh Hoàng Điểm thuộc miền nam, Trần và Đoàn đụng độ. Bộ tướng của Trần Tự Khánh là Nguyễn Đường bị giết, và đạo quân Trần ở đây tan rã. Đó là mùa xuân năm 1211. Bấy giờ trên danh nghĩa là quân đội triều đình, Đoàn Thượng đưa quân tiến sâu về miền nam. Tuy nhiên điều nầy không được kéo dài. Trần Tự Khánh phản công. Ông liên kết với Nguyễn Tự ở miền tây đánh phá tây nam Thăng Long buộc Đoàn Thượng phải rút về bảo vệ thủ đô. Ở mặt nam, quân triều đình chỉ còn tướng Đoàn Mã Lôi. Trần Tự Khánh đích thân dẫn quân chiếm lại Hoàng Điểm, giết tướng Đoàn Mã Lôi, lấy thêm một phần đất Lý Nhân màu mỡ bên dòng Châu Giang.

      Ở mặt tây, Nguyễn Tự thình lình bị bệnh chết khi đang chiến đấu với quân triều đình. Em Nguyễn Tự là Nguyễn Cuộc lên thay không chịu nổi sức ép của Đoàn Thượng buộc lui dần về phía nam. Tại đây Nguyễn Cuộc xin đầu quân với Trần Tự Khánh để chống lại liên quân Đoàn Thượng và triều đình. Bộ tướng của Nguyễn Cuộc là Phan Thế không bằng lòng, tách riêng một cánh quân chạy về cát cứ ở phía bắc Ba Vì. Đó là khu tam giác giữa sông Hồng và sông Đà. Trong lúc Trần Tự Khánh có thêm hơn một nửa số quân và lãnh thổ của Nguyễn Tự thì trong nội bộ của Khánh xảy ra một chuyện khác. Bộ tướng Nguyễn Nộn của Khánh bất bình với chủ tướng mang quân đi cát cứ ở miền đông bắc. Nhờ tài điều quân, Nguyễn Nộn nhanh chóng bành trướng lực lượng. Các bên lần lược hoặc cùng lúc đánh phá lẫn nhau. Đến mùa đông năm 1213 thì thế lực của họ trở thành thế chân vạc:

      Thứ nhất, xung quanh Thăng Long, miền tây bắc và miền bắc do triều đình tức Đoàn Thượng kiểm soát.  Sông Lô, sông Cầu, sông Thương, tả ngạn sông Đuống và hầu hết sông Hồng nằm trong khu vực nầy. Thứ hai, miền đông bắc về tay Nguyễn Nộn cát cứ. Sông Lục Nam, dãy Đông Triều và sông Kinh Thầy ở trong lãnh địa họ Nguyễn. Thứ ba, miền đông, miền nam và miền tây nam Thăng Long thuộc họ Trần. Trần Tự Khánh kiểm soát sông Thái Bình, hạ nguồn sông Hồng, toàn bộ sông Đáy và một phần sông Đà. Riêng Phan Thế nằm ở khu vực bắc Ba Vì chỉ như là trái độn giữa Đoàn Thượng và Trần Tự Khánh. Các châu phủ phía nam như châu Hoan, châu Diễn, Nghệ An, Thanh Hoa vẫn trung thành với triều đình, nhưng bị Trần Tự Khánh chặn ngay yết hầu để về Thăng Long.

    So ra áp lực của anh em họ Trần quá mạnh, khiến Lý Huệ Tông điều đình với Nguyễn Nộn và Phan Thế về giúp sức. Hai người họ vốn không bằng lòng với Trần Tự Khánh nên sẵn sàng liên kết với triều đình. Hai tướng họ Nguyễn, họ Phan cùng kéo đến cửa nam, cửa Đại Hưng, để xuất phát tấn công quân nhà Trần. Lúc nầy Trần Tự Khánh đang ở bến Đại Thông, hạ nguồn sông Hồng. Ông ra lịnh đánh cầm chừng ở mặt nam, và di chuyển cánh quân miền đông tấn công kinh thành. Quân Trần đã vào được hoàng thành đốt cầu Ngoạn Thiềm, nhưng bị quân triều đình phản công phải rút lui.  Đoàn Thượng và Đàm Dĩ Mông chia làm hai cánh quân đuổi theo. Đoàn Thượng đuổi đến Mễ Sở thì gặp cánh quân Trần do Nguyễn Cải chỉ huy chận lại. Đàm Dĩ Mông đuổi đến An Diên thì bị quân của Trần Thừa quay lại phản công. Tại Mễ Sở và An Diên, hai bên đánh nhau ngang ngửa và quân triều đình nhà Lý bị cầm chân ở hai nơi nầy. Trong khi đó ở kinh thành, quân của Trần Thủ Độ và Trần Hiến Sâm được lịnh đồng lược tấn công.

      Vua Lý Huệ Tông chỉ còn đạo quân cẩm vệ do điện tiền chỉ huy sứ Tô Trung Từ bảo vệ. Trần Thủ Độ đã có lần súyt chém được nhà vua, nhưng sợ nguyên phi Trần Thị Dung bị thương nên nhà vua thoát hiểm. Nhờ đó, đạo quân cẩm vệ cầm cự cho họ rút khỏi hoàng thành. Tướng Phan Thế kịp trở về hộ giá vua Huệ Tông qua sông Hồng tìm đường về Hữu Lũng, lãnh địa của một vị phò mã triều trước. Đàm thái hậu và nguyên phi Trần Thị Dung cũng được hộ tống trong chuyến đi nầy.

      Bấy giờ nhà vua đã chạy đi, thủ đô im ắng. Trần Tự Khánh dẫn quân vào thành, và có người nghĩ ông sẽ là tân vương. Người ta tưởng ông sẽ giết tất cả quân trung thành với nhà Lý, nhưng điều đó không xảy ra. Ông tỏ ra là một thủ lãnh độ lượng. Tướng Nguyễn Nộn trên đường về cứu giá vua Huệ Tông, bị đích thân ông chận đánh nhưng ông không tận diệt. Sau đó ông cho người lên châu Lạng đưa thư khẩn cầu hoàng đế hồi loan để triều thần và dân chúng an lòng. Nhà vua không nghe theo lời người anh vợ tài ba nầy, ông dốc lòng tìm những thuộc tướng cũ để mưu đại sự. Nhưng, sự may mắn không đến với nhà vua. Tướng Đoàn Thượng đã mất biệt sau trận Mễ Sở, tướng Nguyễn Nộn thì cũng không thấy tăm hơi ở đâu, và tướng Phan Thế thình lình ngã bịnh qua đời. Bên ông chỉ còn có phò mã Vương Tường và đạo quân hỗn hợp Kinh – Nùng ở châu Lạng. Mộng phục quốc trở nên vô vọng, mà ngay bên lưng nhà vua nảy ra một điều không đúng lúc.

      Đàm thái hậu vốn nghi ngờ cha con Trần Lý từ lúc còn ở Hải Ấp. Mối lương duyên của con trai bà và con gái Trần Lý bà chưa hề bằng lòng. Càng lúc bà càng hận họ Trần và bà đổ hết sự oán hận đó lên người con dâu nguyên phi Trần Thị Dung. Bà bắt nhà vua phải giáng nguyên phi xuống thành ngự nữ, sau đó ép nhà vua xử chết vợ của mình. Vua Huệ Tông chìu lòng mẹ, nhưng thủy chung vẫn phản đối việc xử chết. Trong lúc lánh nạn ở Hữu Lũng, Đàm thái hậu càng cố giết người con dâu. Bà cho người bỏ thuốc độc vào thức ăn làm nhà vua không thể nào yên tâm. Chờ đợi phục quốc, và phải đề phòng người mẹ như thế kéo dài gần một năm làm nhà vua vô cùng nản chí. Nhìn nét thơ ngây tội nghiệp của người vợ chưa đầy hai mươi tuổi, ông quyết định trở lại với anh em họ Trần. Ông yêu người vợ nầy biết bao!

      Một đêm, nhà vua và ngự nữ họ Trần bỏ trốn Lạng Châu. Họ đi qua những thôn làng về hướng nam. Không ai biết họ là vua và nguyên phi. Người ta chỉ thấy hai thanh niên nam nữ còn rất trẻ. Người thanh niên mới 22 và người vợ chưa tròn 19 tuổi. Nhiều lúc vua Lý Huệ Tông quên đi thân phận mình để làm một người dân thường. Đó là những ngày hạnh phúc nhất của đời ông. Hai người đi mà không cần đến. Họ muốn thả trôi cuộc đời cho tự nhiên. Nhưng cuối cùng, một tướng quân của Trần Tự Khánh là Lê Mịch ở Yên Duyên đã tìm thấy họ. Thì ra, tin nhà vua và ngự nữ bỏ đi đã đưa tới triều đình. Trần Tự Khánh thông báo các nơi cho người đi tìm.  Vua và ngự nữ Trần Thị Dung được đưa đến Cửu Liên để an nghỉ, và đích thân Trần Tự Khánh đến hầu. Ông ta cho biết trong hai năm nay vì nhà vua không chịu hồi loan nên tạm thời lập Huệ Văn vương (con của vua Lý Anh Tông, nhưng không rõ chú hay bác của vua Lý Huệ Tông) lên ngôi hiệu là Lý Nguyên Vương để an lòng dân chúng. Khi Trần Tự Khánh lên đón nhà vua thì có người đưa vua Nguyên Vương trở về thực ấp cũ. Việc đã được sắp sẵn, vua Huệ Tông được rước về triều. Đó là một ngày đầu tháng 3 năm 1216.

      Mùa hạ năm ấy vua Lý Huệ Tông phong cho trần ngự nữ thành Thuận Trinh phu nhân, Trần Tự Khánh làm thái úy. Sang mùa thu, hoàng trưởng nữ chào đời được phong làm Thuận Thiên công chúa. Đến mùa đông nhà vua phong Thuận Trinh phu nhân thành hoàng hậu, Thuận Trinh hoàng hậu. Nhân có nhiều điềm lành trong năm như thế, thái úy Trần Tự Khánh tâu hỏi nhà vua có cần đổi niên hiệu hay không. Vua Lý Huệ Tông ra lịnh giữ nguyên niên hiệu Kiến Gia như trước thời lưu lạc. Xem ra ông có rất nhiều quyền hành, nhưng thực tế đã lọt khỏi tầm tay.

 

Ở đây Hải Ấp ven vùng biển
Trần Lý hào nhân đủ gái trai
Trần Thừa anh cả, em Trần Khánh
Em út Trần Dung sắc lẫn tài

Truân chuyên đâu thể cầm duyên nợ
Hoàng hậu không vui cũng bằng lòng
Em gái tên Dung còn nhỏ lắm
Cứ ngỡ là mơ trong mắt trong

Lý Sảm cưới Trần Dung làm vợ
Cả nhà Trần Lý bỗng lên cao
Biển xanh gợn sóng hồn kinh đế
Cát mặn tung bay gió chiến bào

Phải chăng non nước dần đổi chủ
Mắc xích nầy đây khởi nghiệp Trần
Nhà Lý suy vong về tận diệt
Dòng đời muôn sự vốn phù vân

Thái tử Sảm truyền cho Trần Lý
Vận quân binh mà chiếm kinh thành
Trần Thừa, Trần Khánh quân hàm tướng
Phụ cho cha mà sớm thành danh

Nhắc qua Quách Bốc thắng Cao Tông
Cuộn khói thần kinh vẫn đỏ hồng
Nghĩa quân đồng dạ tôn Lý Thẩm
Đương triều hoàng tử gánh non sông

Lý Thẩm vốn người an phận nhỏ
Con Cao Tông với một nàng hầu
Không màng danh tước không màng vị
Sử không ghi người ấy đã về đâu

Làm vua chưa được bao ngày tháng
Quân nhà Trần kéo đến vây quanh
Đôi bên quần thảo Thăng Long vỡ
Trần Khánh tiên phong chiếm được thành

Chiếm Thăng Long, Khánh mời Lý Sảm
Trở về triều trở lại đông cung
Cung nghinh hoàng thượng Cao Tông sớm
Phụ tử thê nhi được trùng phùng

Vua Cao Tông lòng còn nghi hoặc
Như Đàm nương hoàng hậu nghi ngờ
Trải qua gian khó ngày Hải Ấp
Nhà Trần luôn chẹn lấy thời cơ

Trần Tự Khánh vốn người mưu lược
Đem lên cân khôn khéo hơn cha
Phò vua trở lại kinh thành cũ
Chỉ thế rồi thôi trở lại nhà

Bấy giờ loạn lạc thành cát cứ
Vua Cao Tông sinh bịnh rồi băng
Giang sơn thái tử cơ đồ ấy
Huệ Tông có giữ được thường hằng?

Nào Đoàn Thượng bên miền đông bắc
Chạy về nam suôn suốt Hồng Châu
Miền tây Nguyễn Tự giành khu chiến
Núi Tản, Sài Sơn nối nhịp cầu

Trời nam thuộc hẳn Trần Tự Khánh
Tây: Lương Sơn, đông: tới châu Hồng
So ra thế lực ba nhà lớn
Nhà Trần hơn nửa khúc non sông

Sợ nhà Trần âm mưu soán đoạt
Lý Huệ Tông ngả với họ Đoàn
Gọi vời Đoàn Thượng về phong tước
Giúp kinh thành qua bước nguy nan

Quân Đoàn Thượng về kinh mấy chốc
Được Huệ Tông cắt cử diệt Trần
Bên bờ Hoàn Điểm, Trần thua trận
Gom vội tàn quân chạy thoát thân

Tình hình từng lúc từng biến chuyển
Chân vạc chia ba đến hai lần
Lần hai dẫu mất quân Nguyễn Tự
Giang sơn cuộc đất cứ tam phân

Nguyễn Nộn, tướng quân nhà Trần Khánh
Nổi bất bình lại tách ra quân
Về miền đông bắc tranh cát cứ
Thế lực phân ba khác trước từng

Lý Huệ Tông lòng buồn hối hận
Tại vì đâu non nước tách phân
Hẹn cho Nguyễn Nộn cùng Phan Thế
Đến cửa thành nam quyết diệt Trần

Hai quan cát cứ chưa ra trận
Tin bắn đến Trần ở Đại Thông
Kinh sư, quân kéo về như hội
Huệ Tông hoảng sợ bỏ ngai rồng

Cả nhà phải chạy lên châu Lạng
Mễ Sở, quân Trần đã chận ngang
Bắc Giang, cánh thứ về Thường Tín
Chỉ tới An Diên đã phải hàng

Rất may vua Lý cùng người mẹ
Có cả nguyên phi vẫn sống còn
Ở nhà phò mã miền đông bắc
Ai đứng vời trông mảnh nước non!

Kinh sư chiếm được nhưng bỏ ngỏ
Trần Khánh khôn ngoan giữ phận thần
Châu Lạng nơi nao hoàng đế ngự
Mời về trở lại giữ an dân

Huệ Tông từ chối lời anh vợ
Thăng Long vua mới được lên ngôi
Nguyên Vương cùng lớp Cao tiên đế
Được lập làm vua chỉ để ngồi

Huệ Tông lòng rối như tơ rối
Giặc chưa yên mà mẹ không hay
Đàm nương thái hậu qui ra lỗi
Từ ở con dâu bến biển này

Thuốc độc đưa chi dâu bé nhỏ
Để cho hoàng thượng phải đau lòng
Đang đêm bỏ trốn cùng người vợ
Ai biết sau nầy đến tự vong

Tại nhà Lê Mịch quân thần gặp
Huệ Tông lòng những chút hư hao
Nhà vua về lại kinh thành cũ
Trần Khánh bao vây cả Lý trào


<<  |  >>