Skip to content

Chương 14/1

NHÀ LÝ
(1010 – 1225)

Đoạn một
LÝ THÁI TỔ KHAI SINH TRIỀU LÝ

 

      Tang chế vua Lê Long Đỉnh vừa xong, dù thiện dù ác ông cũng trở thành quá khứ. Không biết số phận của thái tử Lê Long Sạ đi về đâu, chỉ biết triều thần đồng lòng suy tôn thân vệ điện tiền tả sứ Lý Công Uẩn lên làm vua. Sự thay đổi nầy không thể không nhắc tới thiền sư Vạn Hạnh, trụ trì chùa Tiêu Sơn lúc bấy giờ. Có những thêu dệt đầy kịch tính về sự liên hệ giữa vị thiền sư nầy và Lý Công Uẩn nhưng không thể tin cậy. Ông chỉ là vị thầy và là người đưa đường họ Lý lên ngôi.

      Một buổi sớm mùa xuân năm 977 thiền sư Vạn Hạnh từ chùa Tiêu Sơn đến thăm người sư đệ Lý Khánh Vân trụ trì chùa Cổ Pháp. Cả hai ngôi Phật tự đều ở mạn bắc sông Hồng. Tại đây ông thấy một đứa bé có tướng mộ khôi ngô. Hỏi ra mới biết người sư đệ đã nhặt nó trước hiên chùa 3 năm về trước. Đứa bé tên Lý Công Uẩn do sự phụ Khánh Vân đặt cho, và lớn lên theo đời sống chay tịnh ở chùa Cổ Pháp. Thấm thoát cậu bé đã trở thành một chú tiểu. Chú thường ngày đã biết mót củi hái rau phụ nhà chùa. Mỗi sáng mỗi chiều lo thắp hương cúng Phật. Chú đã biết tụng kinh, gõ chuông gõ mõ cho sư phụ mỗi khóa lễ. Cuộc đời của Lý Công Uẩn có lẽ không có gì thay đổi nếu thiền sư Vạn Hạnh không về thăm chùa Cổ Pháp năm 984. Lần nầy sư Vạn Hạnh gợi ý với sư Khánh Vân cho Lý Công Uẩn về chùa Tiêu Sơn để có điều kiện học hành nhiều hơn. Sư phụ Khánh Vân cũng thấy như thế, nên ông bằng lòng. Thầy trò chia tay trong nỗi niềm kẻ ở người đi dù rằng vẫn biết hợp tan là chuyện thường.

      Tại chùa Tiêu Sơn, Lý Công Uẩn dần dần khôn lớn, và thấm nhuần phật pháp với sư phụ mới. Ông còn được gởi đi chùa Lục Tổ là tổ đình mà sư Vạn Hạnh đã tu học để học hỏi. Đặc biệt ông còn được sư phụ cho đi theo vào triều đình nhiều lần. Điều nầy xảy ra vì thiền sư Vạn Hạnh lúc bấy giờ đã nổi tiếng như là một thiền sư đạo hạnh và là một nhà tiên tri. Tiếng đồn của ông đã bay qua miền nam sông Hồng về tới kinh đô Hoa Lư. Vua Lê Đại Hành rất tôn kính ông, coi ông như là vị quốc sư. Nhà vua thường vời ông về kinh đô để bàn việc nước. Trong lúc thầy bàn việc với vua, người học trò họ Lý có dịp quen biết nhiều người trong cung đình. Dần dần Lý Công Uẩn trở thành người uyên thâm giáo lý nhà Phật, mà cũng thích nghi với cuộc sống đời thường. Năm 997, Lý Công Uẩn đã về  chùa Tiêu Sơn được 13 năm, và là một thanh niên 23 tuổi. Nhận thấy Lý Công Uẩn không có căn duyên để làm người xuất gia, sư Vạn Hạnh gởi họ Lý vào triều đình để làm quan. Vua Lê Đại Hành cho họ Lý giữ chức quan thân vệ sứ (một chức quan võ thân cận bảo vệ hoàng cung), và sau đó gả công chúa Phất Ngân cho ông. Từ khi làm quan, Lý Công Uẩn rất được lòng mọi người vì tính khoan hòa và cương trực. Ông trở thành bạn thân với các vị quan mà ít nhiều có sự ảnh hưởng của quốc sư Vạn Hạnh: Nguyễn Đệ, điện tiền chỉ huy sứ. Đào Cam Mộc, quan chi hậu.

      Năm 1005, sau khi đã giết vua anh Lê Trung Tông để đoạt ngôi, vua Lê Long Đỉnh có nhiều cải cách. Ông tăng cường đạo quân bảo vệ hoàng thành Hoa Lư lên gấp đôi, nhưng phân làm hai. Nguyễn Đệ chỉ huy cánh hữu gọi là điện tiền chỉ huy hữu sứ. Người anh rể Lý Công Uẩn được nâng lên làm thân vệ điện tiền chỉ huy tả sứ. Đây là cái nhìn tính toán của vua Lê Long Đỉnh để đạo quân lớn mạnh nầy không lọt về tay một người. Không ngờ đó là một sai lầm.

      Cuối năm 1009, khi vua Lê Long Đỉnh nằm trên giường bệnh, không những tả hữu sứ hợp sức nhau mà còn được sự ủng hộ của quan chi hậu Đào Cam Mộc. Vua Lê Long Đỉnh chết không truyền được ngôi cho thái tử Lê Long Sạ là điều không theo lẽ thường. Triều thần đồng loạt ủng hộ Lý Công Uẩn lên ngôi vua. Nó ứng với lời sấm từ cây gạo ở làng Cổ Pháp vài năm về trước. Theo đó, khi cây gạo cổ thụ bị sét đánh xé ngang, nhựa tươi của nó chảy dài trên mặt đất. Có người đoan chắc rằng những dòng chảy ấy tạo một bài thơ. Người sành chữ  giảng giải cho nghe đó là một lời sấm. Nếu mới nghe qua thì không thấy gì, nhưng theo lối chiết tự và ẩn dụ thì đó là một điềm báo mà nhà Lê sẽ sụp đổ và nhà Lý lên thay. Bên cạnh đó còn những thêu dệt có kế hoạch tương tự. Và, đặc biệt là từng bước đưa Lý Công Uẩn vào triều đình và trở thành quan cận thần của vua. Đó không phải là sự dày công có tính toán ư?

lời sấm như vầy:

Thụ căn yểu yểu / Gốc rễ thăm thẳm
Mộc biểu thanh thanh / Vỏ cây xanh xanh
Hòa đao mộc lạc / Lúa dao cây rụng
Thập bát tử thành / Mười tám hạt thành
Chấn cung hiện nhật /  Phương đông nhật mọc
Đoài cung ẩn tinh / Phương tây sao tàn
Lục thất niên gian / Khoảng sáu bảy năm
Thiên hạ thái bình / Thiên hạ thái bình

(Lời dịch thơ ở trên của giáo sư Nguyễn Gia Tường)

    Lý Công Uẩn, tức Lý Thái Tổ lên ngôi vào những ngày cận tết năm 1009, khi mà linh cửu vua Lê Long Đỉnh còn đương quàn tại triều. Ông đứng ra chịu tang vị tiên đế khác họ giữa lòng mến phục của mọi người. Đã sẵn nếp sống khoan hòa từ nhỏ ở nhà chùa, Lý Thái Tổ thành một ông vua sáng suốt và độ lượng. Nhà vua vẫn giữ quốc hiệu Đại Cồ Việt, và đặt niên hiệu là Thuận Thiên. Ông cho thả những tù nhân từ bọn giặc cướp đời trước sau khi xét thấy không còn nguy hiểm. Đặc biệt qua năm sau, năm 1010, ông quyết định dời đô về cổ thành Đại La. So với Hoa Lư, Đại La thông thoáng và tiện đường giao thông cả đường sông và đường bộ. Theo ông, nơi đây còn là một linh địa từng được Cao Biền chọn, và từng được Khúc Thừa Dụ tạo nên một giềng mối cho nền độc lập từ một trăm năm về trước (năm 905). Ông chọn tên Thăng Long đặt cho kinh thành theo một giấc mơ của cả nghĩa đen và nghĩa bóng.

      Từ đó dân cư an lạc, vua Lý Thái Tổ đổi cố đô Hoa Lư thành phủ Trường Yên và chia lãnh thổ Đại Cồ Việt ra làm 24 lộ. Ông giảm thuế và phát triển ngành trồng dâu bên cạnh sản phẩm chính là hai mùa lúa để tăng nông nghiệp. Đối với mặt bắc, Tống Chân Tông vẫn còn bận lo chiến tranh với quân Liêu nên không sinh sự với  nước ta. Về phía nam, Đồ Bàn và Thăng Long có một giao hảo bình thường. Thời kỳ của vua Lý Thái Tổ chỉ có những giặc cướp nhỏ ở Diễn Châu và sự dây dưa của giặc Cử Long ở Ái Châu, chỉ duy một lần giao tranh với Chiêm Thành vào năm 1020. Các cuộc giao tranh nầy được nhà vua thân chinh hoặc do các hoàng tử dẫn quân đi dẹp. Không rõ vua Lý Thái Tổ có bao nhiêu công chúa nhưng ông có 6 người con trai từ 9 vị hoàng hậu. Người con trai trưởng Lý Phật Mã được chọn làm thái tử năm 1012 lúc vị hoàng tử nầy 13 tuổi. Còn lại những hoàng tử nhỏ hơn lần lược được phong vương theo thứ tự tuổi tác: Đông Chinh vương, Vũ Đức vương, Khai Quốc vương, Uy Minh vương và Dực Thánh vương… Vua Lý Thái Tổ làm vua được 19 năm đến năm 1028 thì qua đời trong bình an.

 

Ngôi vua ai sắp chờ Công Uẩn
Vạn Hạnh thiền sư ở nơi nao
Hỏi thêm chi hậu Đào Cam Mộc
Khôn khéo sang trang chẳng máu đào

Lý Công Uẩn vốn từ cửa Phật
Họ cha nuôi sư phụ Khánh Vân
Trụ trì Cổ Pháp ngôi cổ tự
Nhặt bé sơ sinh mắt sáng ngần

Sư phụ Khánh Vân nuôi khôn lớn
Thời công phu khuya sớm hai thời
Hài nhi năm trước thành chú tiểu
Đọc tụng Di Đà tiếng mõ lơi

Duy na, duyệt chúng quen rành rẽ
Mót củi rừng xa cũng thuộc đường
Hái hoa trên núi về cúng Phật
Hương đăng thầm lặng sáng chiều sương

Nhật bình áo vải tâm thanh tịnh
Học nhân duyên không hỏi nhân duyên
Không buồn thân phận trôi bến nước
Tâm lượng từ bi hỷ xả nguyền

Mười năm Cổ Pháp như vó ngựa
Thiền tự Tiêu Sơn tiếp hạnh già
Ở đây duyên hợp đường đời đạo
Đến tận triều đình xa thật xa

Xa lòng xa dặm hay xa cảnh
Xa bước thiền na trở lại trần
Chiếc áo sa di thôi không mặc
Bỏ thuyền Bát Nhã lấy phù vân

Nấc thang Công Uẩn từ thân vệ
Kết bạn tương giao tướng Nguyễn Đề
Cùng quan chi hậu Đào Cam Mộc
Thần tử nhà Lê diệt nhà Lê

Tiếng đồn man dã vua Lê cuối
Ai nỡ nhân lên đến chết người
Hỏi hồn cây gạo hương Cổ Pháp
Có thấy chữ nào loang máu tươi?

Cân não đôi bên chênh lệch quá
Nhà Lê phải mất chuyện thời gian
Cơ hồ cái chết còn nghi vấn
Có hận nhân gian ở suối vàng?

Sang đông kỷ dậu vua Lê mất (1009)
Cam Mộc nội thần sắp sẵn nhanh
Khăn tang chưa quấn đầu thơ dại
Triều Lý khai nguyên đã hình thành

Công Uẩn lên ngôi đứng chịu tang
Hai người hoàng đế đã hai đàng
Lý triều thịnh trị vương triều mới
Bình Chiêm phá Tống dặm quan san

Riêng đời Thái Tổ không phá Tống
Mà đã thiên đô thuở trị vì
Sào Khê, Ghềnh Tháp ai tiễn biệt
Sông Đáy sông Hồng kẻ bước đi

Bên thềm Tô Lịch, La Thành cũ
Nhớ đến thời xưa Khúc Hạo ơi
Trăm năm trải mấy tầng dâu bể
Đã mấy lần đi mấy đổi dời

Thuận Thiên thứ nhất sang trang mới (1010)
Thăng Long tên gọi đất thủ đô
Văn Vật ngàn năm từ độ ấy
Bao năm Hậu Lý mở cơ đồ

Nước chia ra lộ trong ngoài cõi
Giảm thuế cho dân hợp ý lòng
Đánh dẹp Diễn Châu đôi phản nghịch
Thân chinh đất Ái phạt Cử Long

Tước vương phong vị bao hoàng tử
Thái tử lập thành tránh nồi da
Thế mà khi mất còn đổ máu
Anh em giành giựt một sơn hà


<<  |  >>